Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Ngàn Năm Thăng Long

“… Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây, luống đoạn trường”
(Thăng Long Hoài Cổ - Bà Huyện Thanh Quan)

1, 2, 3

...

- Cuối năm 1788, Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 20 vạn quân Thanh đem theo Lê Chiêu Thống tiến vào Thăng Long. Vì quân Thanh quá đông và thế quá mạnh, Ngô Văn Sở và quân Tây Sơn phải bỏ ngỏ Thăng Long chạy về Tam Điệp và cho người vào báo cho Nguyễn Huệ ở Phú Xuân.

- Đầu năm 1789, trong vòng có 5 ngày Vua Quang Trung Nguyễn Huệ đem 10 vạn quân Tây Sơn (bằng đúng một nửa số quân Thanh) từ Phú Xuân đánh tan tành không còn manh giáp 20 vạn quân Thanh đóng ở Thăng Long và các vùng phụ cận.

Đó là lịch sử của “Ngàn năm Thăng Long” qua các tấn công quân sự của quân Tầu, quân Chiêm Thành và cả quân Việt… vào Thăng Long. Bây giờ hãy cùng nhau nhìn vào chi tiết sự việc Thăng Long thất thủ vào tay Thiếu tá Pháp Francis Garnier và sự chống trả của Tổng Đốc Thăng Long Nguyễn Tri Phương (năm 1873) để rồi không khỏi bùi ngùi và thắc mắc: “Sao quân ta đánh ẹ quá vây? Làm sao có thể như vậy được???”

Chính sử của ta ghi lại diễn tiến bi hùng của sự kiện lịch sử Nguyễn Tri Phương mất thành Hà nội như sau:

“Năm 1862, Nguyễn Tri Phương được triều đình Huế cử ra Bắc làm Tổng thống Hải An vụ và bản doanh (bộ chỉ huy) của Nguyễn Tri Phương đặt tại Hà Nội (Thành Thăng Long).

Năm 1873 nhân vụ tên lái buôn người Pháp tên Jean Dupuis (ta dịch là Đồ Phổ Nghĩa) có nhiều thái độ và hành động rất hống hách, xấc xược ở Bắc như đòi tự do di chuyển buôn bán (súng, muối và than đá) từ vịnh Bắc phần lên đến Vân Nam Trung Hoa. Y còn tự tiện bắt giam quan quân người Việt đem xuống tầu; xé và thách thức bố cáo của Tổng Đốc Nguyễn Tri Phương. Trong khi Nguyễn Tri Phương còn đang xoay sở tìm cách giải quyết vấn đề Đồ Phổ Nghĩa thì Soái bộ Nam Kỳ đã phái Thiếu tá Francis Garnier đem quân ra Hà Nội viện cớ để dàn xếp, bảo vệ quyền lợi của công dân Pháp nhưng thực sự là quân của Garnier sẽ phối hợp với Dupuis để uy hiếp Hà Nội sao đó.

Ngày 20 tháng 11 năm 1873, quân Pháp chỉ huy bởi Garnier ‘đánh úp’ thành Hà Nội. Mặc dù Nguyễn Tri Phương đã chỉ huy chống trả quyết liệt nhưng vì binh yếu, vũ khí thô sơ kém cỏi nên quân Pháp chiếm được thành. Con trai Ông là phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết. Giặc Pháp bắt được ông trong lúc ông đang bị trọng thương. Được lính Pháp cứu chữa nhưng ông đã từ chối. Sau đó ông vứt bỏ cả băng bó thuốc men, nhịn ăn cho đến 1 tháng sau thì chết (ngày 20 tháng 12 năm 1873).”

Bài học trung dũng của Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Tri Phương tôi đã được học qua lịch sử những năm cuối của bậc tiểu học vẫn còn văng vẳng bên tai và câu nói của Nguyễn Tri Phương trước khi chết vẫn làm tôi bùi ngùi:

“Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống hèn; sao bằng thung dung chết vì đại nghĩa…”


Nhưng mà bây giờ nhờ kỹ thuật tin học tiến bộ, tôi có cơ hội đọc thêm một số tài liệu bổ túc đã được ghi chép lại trên giấy trắng mực đen, tôi mới hiểu biết thêm, qua nhiều chi tiết rõ ràng hơn, về việc mất Hà Nội của Nguyễn Tri Phương trong ngày 20 tháng 11 năm 1873.

Trong cuốn “Hà Nội giai đoạn 1873-1888”viết vào khoảng đầu thế kỷ 20 của sử gia André Masson đã có công bố nguyên văn báo cáo của Francis Garnier gởi cho Thống Đốc Nam Kỳ kèm theo các chi tiết cuộc tấn công Hà Nội do chính Garnier chỉ huy như sau :

(đoạn trích dịch ra Việt ngữ bởi Lưu Đình Tuân)

"… Năm giờ rưỡi sáng toán thứ nhất gồm 30 thủy binh và một khẩu pháo 4 do trung úy hải quân Bain de Coquerier chỉ huy rời trại để vào vị trí trước cửa Tây nam thành. 5 giờ 45 phút, toán thứ hai gồm 30 pháo thủ hải quân do ông Trentinian chỉ huy lên đường đến Cửa Đông Nam .

Rồi ông Esmez khi đó cũng dẫn 30 thủy binh và 3 khẩu pháo 4 cũng tiến về hội quân. Theo sau ông ta có một đội dự bị gồm 20 thủy binh. Ngoài sông Hồng, các pháo hạm Scorpion và Espignole chuẩn bị bắn phá...

Đúng 6 giờ sáng, tôi dẫn đầu đơn vị đặt chân lên cầu lũy bán nguyệt Đông Nam. Tiếng súng trường (mousqueton) của ông Bain nổ bên trái tôi cùng những quả đạn đầu tiên của pháo thuyền ngoài sông Hồng bắn thẳng vào thành.

Quân địch hoàn toàn bất ngờ. Bị nhiều đợt tấn công dồn dập, họ không biết điểm nào là điểm thực sự bị tấn công. Chúng tôi giải tỏa cầu khỏi những tấm chông bừa bãi khắp nơi mà không sợ đạn bắn.

Khi các pháo thủ An Nam trên thành lũy vào được vị trí thì chúng tôi đã ẩn được ở sát tường công sự. Những người phòng thủ chỉ còn cách ném đá xuống.

Chúng tôi dùng rìu búa nhưng không phá được cửa thành. Tôi bèn cho đặt khẩu đại bác trên cầu và ba phát đạn liên tiếp đã mở đường cho chúng tôi. Ngay lập tức ông Trentinitan và toán bộ binh của hải quân lao vào bên trong công sự góc. Tại đây quân phòng thủ không ẩn được phải chạy lên thềm đất ở chân thành.

Làn hỏa lực mãnh liệt của chúng tôi hướng vào những người trên mặt lũy và làm thất bại ý định của các pháo thủ địch nhiều lần định chĩa pháo về phía chúng tôi.

... Trong thời gian trên, ông Esmez cho pháo chiếm vị trí trên cầu và bắn thủng cánh cổng trong tiếng rào rào của đá từ trên lũy ném xuống. Chiếc cửa vững chắc này chống đỡ khá lâu. Khi mở được lối vào, tôi lao vào vòm cổng cùng với mấy người lính theo sau, và ngay tức khắc nhận ra trước mặt mình mấy người đang cầm lọng che cho một vị quan đang chỉ huy phòng thủ.

Tôi cũng bất ngờ khi nhận ra vị quan này chính là tướng Nguyễn Tri Phương. Sự ngẫu nhiên khiến vị trí chỉ huy của ông ta lại chính cửa tôi phải tấn công! Một cuộc đụng độ ngắn bằng súng lục đã giải quyết hoàn toàn khu vực phía cổng. Lính An Nam chạy tứ tán.

Một lúc sau ông Esmez cho tung bay trên đỉnh cột cờ lá cờ ba màu của Pháp đồng thời cũng là tín hiệu quy ước để các pháo hạm ngoài sông ngừng bắn phá. Lúc đó là 6 giờ 55 phút. Vài phút sau cờ Pháp bay trên năm cửa thành. Chúng tôi không có nguời nào bị thương…”

(ngưng trích)

Ngoài ra có thêm một số chi tiết lịch sử quan trọng khác được André Masson ghi lại là ngay khi Francis Garnier ra đến Hà Nội ngày 16 tháng 11 năm 1873, hắn tự tiện tuyên bố mở cửa sông Hồng để tầu buôn ngoại quốc (phần lớn là người Pháp) tự do chuyên chở hàng hóa, buôn bán; và hắn tự thiết lập thuế quan mới. Sáng ngày 19 tháng 11 năm 1873 Garnier đưa tối hậu thư buộc Nguyễn Tri Phương phải giải giáp, buông súng giao thành Hà Nội cho hắn… không cần chờ đến sự trả lời của Nguyển Tri Phương, rạng ngày 20 tháng 11 năm 1873 hắn ra lệnh nổ súng tấn công Hà nội như bản báo cáo của hắn đã ghi ở trên.

Chiến tranh nào cũng vậy, thắng bại, có kẻ thắng người thua là chuyện phải có. Nhưng bài học Nguyễn Tri Phương mất Hà Nội xem lại cho kỹ; tôi thấy là một mối nhục lớn của dân tộc rất khó nuốt… và sự “can đảm bất khuất” của Nguyễn Tri Phương từ từ có nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời.

Vấn đề tương quan lực lượng phải là một vấn đề lớn của chiến tranh cận đại. Muốn tấn công một vị trí có phòng thủ của địch (đồn, lũy, thành trì, tuyến phòng thủ…) lực lượng tấn cống ít nhất phải đông và hỏa lực phải mạnh gấp 3 lần lực lượng phòng thủ (con số lý tưởng là phải mạnh hơn địch gấp 10 lần). Nguyễn Tri Phương lúc đó có dưới tay 7000 quân chính quy võ trang từ kiếm, thương, cung nỏ đến cả súng cầm tay và thần công (chứ không phải là tầm vông vạt nhọn theo kiểu du kích xã! Nên nhớ là lúc Nguyễn Huệ đánh Tôn Sĩ Nghị ở Thăng long, quân Tây Sơn đã đã bắn súng như mưa rào đến nỗi khói súng bay mù mịt làm áo giáp của Nguyễn Huệ biến từ mầu vàng thành mầu xám đen!)…

Ngoài ra Nguyễn Tri Phương đã nhận tối hậu thư của Garnier trước một ngày bị tấn công thì không thể nói bị “đánh úp” đuợc. Lực lượng tấn công thành Hà Nội của Garnier chỉ có vỏn vẹn 110 lính thủy (loại lính TQLC ngày nay) trang bị súng “mút-cà-tông,” 4 khẩu pháo và 2 chiến thuyền (tôi đã làm một bài toán cộng tổng kết quân số của Pháp từ bản báo cáo của Garnier ghi ở trên). Vào năm 1873 súng “mút-cà-tàng” (mời quí vị xem súng mẫu bày trong viện bảo tàng hoặc phim ci-nê loại “David Crockett” của Mỹ thì rõ hơn) và đại bác thần công đều là loại vũ khí nạp thuốc súng và đạn viên bi từ đằng mũi vào (rồi lấy cây sắt thụt lia lịa vào từ mũi súng cho chặt). Tính trung bình cứ 10 phút đồng hồ súng mới bắn được 1 viên (không kể viên đạn bị tịt ngòi) chứ không phải là loại súng liên thanh M16 hay AK47 như bây giờ mà quân Tây cứ quạt lia lịa đâu vào quân ta (!) Như vậy mà chỉ trong vòng có 70 phút đồng hồ (phát súng đầu tiên của quân Tây bắn lúc 5 giờ 45 sáng; đến 6 giờ 55 sáng Garnier đã hoàn toàn chiếm xong Hà Nội) Garnier đã bắt sống được Nguyễn Tri Phương rồi (?) Quân nhà Nguyễn đánh quân Tây Sơn lúc trước mạnh giỏi lắm cơ mà ! Sao bây quân Nhà Nguyễn giờ đánh Tây cái kiểu gì vậy hở trời? Nguyễn Tri Phương nếu chạy thoát khỏi trận thất thủ Hà Nội này có lẽ sẽ bị giáng chức và đưa ra tòa án quân sự mặt trận là đàng khác???

Chọn Thăng Long là kinh đô trên 1000 năm rồi mà dân trí, văn minh của dân Việt vẫn đội sổ so với các dân tộc khác ở Đông Nam Á châu (chưa nói đến việc so sánh với các dân tộc khác văn minh hơn ở Âu châu và Mỹ châu) thì “là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương” chỗ nào? Tính sổ lại sau 1000 năm dân Việt ta chỉ có một cái may mắn là chưa bị đồng hóa thành người Tầu (Trung Hoa) hay Chàm (Chiêm Thành). Thành ra “Ngàn Năm” hay “Ngàn Lẻ Một Năm” hay “Một Vạn Năm” Thăng Long cũng không có nghĩa gì nếu nhìn vào sự ấm no của dân tộc
- Năm 2010 mà lợi tức quân bình tính trên đầu người (Income Per Capita) vẫn dưới “Một Ngàn” đô la - hiện tình đất nước và vị trí / chỗ đứng của đất nước trên thế giới… chưa nói đến các diễn biến quân sự ở Thăng Long qua lịch sử trong “Một Ngàn” năm qua như tôi vừa liệt kê ở trên.

Sở dĩ cộng sản cần phải làm to chuyện “Ngàn Năm Thăng Long” bởi vì Hà Nội có 3 “dấu ấn” của vi-xi:

- Bản tuyên ngôn độc lập mà HCM đọc tại quảng trường Ba Đình Hà Nội sau khi Việt minh cướp chính quyền và lường gạt, thủ tiêu tất cả các đảng phái hợp tác cho sự thành công của cộng sản (ngày 2 tháng 9 năm 1945).

- Hà Nội được chính quyền cộng sản chọn là thủ đô nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” (từ 2 tháng 9 năm 1945) và sau đó của nước “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” (từ 2 tháng 7 năm 1976 đến nay).

- Và quan trọng hơn hết là Hà Nội hiện vẫn còn có “lăng” giữ xác chết của HCM.

Cái xác này đang thối đến mức độ hết thuốc chữa… Khoa học gia Trung Quốc được đảng ta mời đến Hà Nội đề “bảo quản” xác HCM cũng đã chào thua rồi… Tôi thấy thay vì tổ chức linh đình “Ngàn Năm Thăng Long” thì nên chờ tới ngày 2 tháng 9 năm 2010 này tổ chức đại một cái “41 Năm Hồ Chủ Tịch tịch” rồi lấy xác Bác ra khỏi lăng; đem đi chôn lẹ lẹ cho bác có cơ hội yên mồ yên mả; chứ để lâu hơn tí nữa đến lúc nhân dân đã phẫn uất quá cùng nhau nổi dậy dẹp đảng cộng sản Việt Nam (như bài học của Liên sô và xác Lê-nin) thì chắc chắn “bác Hồ” không có đất để chôn…

Theo tôi, còn một lý do rất quan trọng khác mà chính quyền Hà Nội định tổ chức ngày “Ngàn Năm Thăng Long” kỳ này là để đảng cộng sản Việt Nam quang vinh ta có dịp trả lễ đảng cộng sản Trung Quốc đã tận lực bao che đảng ta suốt bao năm qua. Đây là dịp “Ngàn Năm” để mời con cháu Mã Viện và Cao Biền sang nước ta đi tìm lại và đánh bóng cái “đồng trụ” (chiết) Mã Viện đã trồng ở Việt Nam thuở xa xưa; đồng thời tu bổ lại, “khơi” lại vài trăm cái “giếng khơi” mà Cao biền đã cho đào chung quanh Thăng Long để chặn khí huyệt của Việt Nam cũng ở thuở xa xưa …

Ai mà biết được???

Ấy thế mà nghe chừng có một vài tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại cũng đang “hồ hởi” tính toán “liên hoan” kỷ niệm 1000 năm Thăng Long đấy!  Chờ xem!!!

Trần Văn Giang

4/25/2010

1, 2, 3

Quân Sử Việt Nam (TOP)