Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Ngàn Năm Thăng Long

“… Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây, luống đoạn trường”
(Thăng Long Hoài Cổ - Bà Huyện Thanh Quan)

1, 2, 3

...

Có rất nhiều tranh luận về ý nghĩa của 2 chữ “Hà Nội.” Nhiều nhà khảo cứu cho rằng nếu đặt tên “Hà Nội” vì dựa trên vị trí địa lý của Hà Nội – nghĩa là đen là “bên trong sông” – thì chẳng có nghĩa gì là cả bởi vì xét kỹ trên bản đồ, chỉ có sông Nhị (sông Hồng) của Tỉnh Hà Nội cũ (thời Minh Mạng) là ranh giới ; còn lại sông Hát (một khúc của sông Đáy) và sông Thanh Quyết (cũng là một khúc của sông Đáy) không phải là ranh giới… có nghĩa là thực địa Hà Nội không nằm kẹp giữa các con sông – Hà Nội chỉ có sông chẩy ngang qua.

Trong “Trung văn đại từ điển” (tập 19 trang.103 – xuất bản ở Đài Bắc năm 1967) có viết “Hà Nội” là tên một quận được đặt từ đời Hán (202 Trước Công Nguyên - 220 Sau Công Nguyên) nằm phía Bắc Sông Hoàng Hà. Sử ký của Tư Mã Thiên (“Hạng Vũ Kỷ”) có ghi địa danh gọi là “Hà Nội” và theo kèm lời chú giải:

“Kinh đô đế vương thời xưa phần lớn ở phía Đông Sông Hoàng Hà - cho nên các vùng đất phía Bắc Sông Hoàng Hà gọi là Hà Ngoại.”

Có thể Minh Mạng đã chọn tên gọi Hà Nội, một tên hết sức bình thường để thay tên gọi Thăng Long đầy bản chất lịch sử Việt nam, thành một tên gọi mới Hà Nội này, có thể để giải thích đây là “đất Kinh đô các đế vương thời xưa,” nhằm mục đích xoa dịu những điều dị nghị trong dân gian về việc đổi tên “Thăng Long.” Chính cách đặt tên đất “dựa theo sách cũ” đã lại được lập lại sau này, vào năm 1888. “Thành Hà Nội” và phụ cận trở thành nhượng địa của thực dân Pháp, tỉnh lỵ Hà Nội phải chuyển tới Làng Cầu Đơ (thuộc Huyện Thanh Oai, Phủ Hoài Đức). Thấy cần có một tên tỉnh mới. Người ta (quan lại Việt Nam làm việc cho Tây) đã dựa vào một câu trong sách Mạnh Tử (Lương Huệ Vương, thượng, 3)

___________
[1.3]

梁惠王曰:「寡人之於國也,盡心焉耳矣!河內凶,則移其民於河東,移其粟於河內;河東凶亦然.   察鄰國之政,無如寡人之用心者;鄰國之民不加少,寡人之民不加多:何也?」
Lương Huệ Vương viết: Quả nhân chi ư quốc dã, tận tâm yên nhĩ hĩ!Hà Nội hung, tắc di kỳ dân ư Hà Đông, di kỳ túc ư Hà Nội; Hà Đông hung diệc nhiên; sát lân quốc chi chánh, vô như quả nhân chi dụng tâm giả; lân quốc chi dân bất gia thiểu, quả nhân chi dân bất gia đa: hà dã?
孟子對曰:「王好戰,請以戰喻.   填然鼓之,兵刃既接,棄甲曳兵而走,或百步而後止,或五十步而後止;以五十步笑百步,則何如?」
Mạnh Tử đối viết: Vương hảo chiến,  thỉnh dĩ chiến dụ.   Điền nhiên cổ chi,  binh nhận ký tiếp,  khí giáp duệ binh nhi tẩu, hoặc bách bộ nhi hậu chỉ, hoặc ngũ thập bộ nhi hậu chỉ; dĩ ngũ thập bộ tiếu bách bộ, tắc hà như?
___________
(tạm lược dịch nôm lời của Lương Huệ Vương)
"Hà Nội mất mùa, thì đưa dân đó về Hà Đông, đưa thóc đất này về Hà Nội, Hà Đông mất mùa cũng theo phép đó.”

Theo câu này, Tỉnh Hà Nội có tên tỉnh mới là Hà Đông, tuy rằng tỉnh này nằm ở phía Tây Sông Nhị. Đúng vị trí địa lý, thì Hà Đông (nằm phía Tây sông Nhị) phải được đặt tên là Hà Tây mới đúng (!) Thật rắc rối nhức đầu mà vô bổ…

Cái tên gọi và sự thay đổi tên gọi của Thăng Long qua thời gian đã lẩm cẩm vô duyên như vậy mà vấn đề phong thủy của Thăng Long cũng lẩm cẩm không kém! Ông “Thầy” phong thủy Thiên Đức nhận xét là thợ chích nhà ta đã chích lộn chỗ, nói nhảm:

(trích nguyên văn lời “thầy” Thiên Đức)

“… theo sách vở khoa phong thủy, hiếm khi nói tới thế ‘rồng cuộn hổ ngồi’ mà chỉ có đề cập đến ‘rồng chầu hổ phục…’

Nguyễn Tấn Dũng nói về phong thủy thế ‘rồng cuộn hổ ngồi’ thì đây là thế tán gia bại sản đưa đến hậu quả phải đi ăn xin… Thật vậy, ‘Rồng cuộn’ là rồng ngủ hay rồng bệnh; ‘Hổ ngồi’ là Hổ què hay liệt? Thử hỏi cai quản một nước mà dựa và thế ‘rồng bệnh hổ què’ thi chắc chắn phải đi ăn mày…”


(ngưng trích)

Riêng cá nhân tôi chưa hề được cái may mắn học phong thủy “chính quy” hay phong thủy hàm thụ, cho nên không dám lạm bàn về phong thủy Thăng Long. Tôi chỉ đọc lịch sử rồi ghi lại nhận xét như sau:

Về phương diện địa thế chiến lược mà các vua chúa phong kiến và các nhà lãnh đạo vi-xi cổ xúy là "… đất cao mà bằng phẳng, vạn vật tốt tươi...," “đất qúy địa có núi cao sông sâu, nơi có thể bền vững tới hàng vạn năm (?).” Tôi thấy sự cổ xúy này có nhiều lỗ hổng cần phải làm sáng tỏ… hay nói ngắn lại, đây (Thăng Long) chỉ là một miếng đất bằng, một vị trí chiến lược bất lợi cả về thủy lẫn bộ... các vua, chúa, tướng võ Việt Nam muốn giữ Thăng Long bằng quân sự đều thất bại một cách thê thảm, xấu hổ cả làng nước…

Thật vậy. Thăng Long nằm trơ trụi giữa đồng bằng bắc phần… soi bóng sông Hồng (sông Nhị) không phải là một chỗ dễ phòng thủ mỗi khi bị các lực lượng “thù địch” tấn công Thăng Long… Nói cách khác, cứ có giặc đến đánh là ta thất thủ kinh đô, dù là giặc Tây, giặc Tàu hay giặc Chiêm giặc cỏ! Thăng Long là cái chỗ “bất khả phòng thủ.” Đem kinh đô, thủ đô đầu não của đất nước để vào nơi không thể phòng thủ, cứ như trứng gần ác. Báo chí truyền thông Tầu gần đây đã liên tục đe dọa là quân Tầu sẽ đánh chiếm dứt điểm Hà Nội trong 2 giờ đồng hồ nếu chiến tranh Việt - Trung hoa bùng nổ trở lại. Đồng chí “vi-xi-đi-dép-lốp” nào mà nói chuyện phòng giữ Hà Nội là nói chuyện ngu, chỉ có chết! Ở đó mà hùa nhau múa may tán tụng "rồng cuộn hổ ngồi," bất chấp bao sự thật lịch sử.

Vua Quang Trung có lần đã nói với các tướng:

"Thăng Long là nơi dễ bị đánh cả 4 mặt, không có sông núi để nương tựa. Năm trước, ta ra đánh đất ấy, Chúa Trịnh quả nhiên không chống nổi. Đó là chứng cớ rõ ràng."

Tất cả các chiến dịch quân sự tấn công vào Thăng Long kể từ sau năm Canh Tuất 1010 (năm Lý Công Uẩn chọn Thăng Long làm kinh đô) đều thành công thật dễ dàng như lấy đồ vật trong túi ra. Người cầm quyền, nắm vận nước ở Thăng Long bỏ Thăng Long chạy dài dài - ngoại trừ một lần duy nhất: Đó là lần xâm lăng thứ hai của quân Nguyên (Mông Cổ) tấn công vào Thăng Long năm 1288; lần này quân Nguyên bị Trần Hưng Đạo đánh tan trong trận Bạch Đằng.

Sau đây xin lần luợt đọc lịch sử và chép lại các chiến dịch quân sự nhắm vào Thăng Long theo thứ tự thời gian kể từ năm Canh Tuất 1010:

- Năm 1257, Hố Tất Liệt sai tướng Ngột Lương Hợp Thai (Wouleangotai) đem quân Nguyên sang xăm lăng Việt Nam lần thứ nhất. Quân Nguyên tiến thẳng vào Thăng Long như chỗ không người. Vua Trần Thái Tông phải bỏ Thăng Long chạy ra Hưng Yên. Nhưng cũng may cho vận nước Việt Nam, quân Nguyên phần thì thiếu lương; phần thì quá mệt mỏi vì phải đánh trận liên tục trên một địa bàn quá rộng lớn (cả Á châu và Âu châu), đã tự ý bỏ Thăng Long rút quân về tầu.

- Năm 1288 (Nên chú ý! Đây là một ngọai lệ!) quân Nguyên dưới sự chỉ huy của Thát Hoan đã tấn công vào Việt Nam lần thứ hai. Vua Trần Nhân Tôn lần này bỏ Thăng Long chạy nào Thanh Hóa; nhưng Trần Hưng Đạo ở lại giữ Thăng Long và đánh tan quân nguyên ở Bạch Đằng Giang.

- Năm 1370 vua Trần Nghệ Tông lên làm vua trong hoàn cảnh tranh chấp nội bộ rất kịch liệt. Lợi dụng sự rối ren chính sự của triều đình nhà Trần, vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga dùng thủy đạo kéo quân vào thẳng Thăng Long. Vua Nghệ Tông phải bỏ Thăng Long chạy sang Bắc Ninh lánh nạn. Quân Chiêm Thành vào Thăng Long đốt phá cung điện, cướp sạch châu báu, bắt đàn bà con gái đem về Chiêm Thành.

- Năm 1378 Chế Bồng Nga hình như không có chuyện gì quan trọng để làm; không có lý do gì chính đáng hơn là thấy dễ ăn; muốn vào Việt Nam cướp phá thêm một mớ của cải; và nhân tiện bắt thêm một ít đàn bà con gái Việt Nam trắng trẻo chân dài về Chiêm Thành làm vật giải trí, lại theo thủy đạo một lần nữa đánh vào Thăng Long. Quân ta chống cự không nổi phải bỏ ngỏ Thăng Long cho quân Chiêm tha hồ cướp phá tùy hỷ!!!

- Năm 1390 Chế Bồng Nga lại quen ăn, đem 100 chiến thuyền đánh Thăng Long; nhưng lần này xui cho Chế Bồng Nga. Có người bầy tôi của Chế Bồng Nga phản bội, chạy qua hàng quân nhà Trần và chỉ điểm chiến thuyền của Chế Bồng Nga. Tướng Trần là Trần Khắc Chân cho tập trung tất cả hỏa lực bắn vào một chiếc thuyền đó. Chế Bồng Nga đang bận “bồng em” thì bị tử trận; Chứ nếu không Thăng Long lại bị quân Chiêm Thành đi ra đi vào Thăng Long cướp phá dễ như đi chợ 3 lần trong vòng 20 năm. (May quá! Tí nữa thì biết đâu bây giờ dân Việt đều là họ hàng bà con với Chế Linh cả!? No kidding!!!)

- Năm 1786 Nguyễn Huệ đem quân từ Phú Xuân ra đánh Trịnh Khải ở Thăng Long. Trịnh Khải bỏ Thăng Long chạy trốn; sau đó bị bắt và bị giết. Nguyễn Huệ chấm dứt cái gọi là “Chúa Trịnh đàng ngoài” năm này. Nguyễn Huệ để bộ tướng là Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại Bắc Thành (Thăng Long) và rút quân về Phú Xuân.

- Tới năm 1787 ở Bắc Thành, Nguyễn Hữu Chỉnh lộng hành cư xử như chúa Trịnh. Nguyễn Hữu Chỉnh còn định xưng vương. Nguyễn Huệ sai tướng Vũ Văn Nhậm ra đánh Nguyễn Hữu Chỉnh ở Thăng Long. Vũ Văn Nhậm tiến quân vào Thăng Long cũng như đi chợ Cầu Ông Lãnh… bắt sống và xé xác Nguyễn Hữu Chỉnh tại chỗ. Vua Lê Chiêu Thống hoảng sợ bỏ Thăng Long chạy sang tầu cầu cứu vua nhà Thanh; và lạy xin vua Càn Long nhà Thanh dùng quân tầu đưa mình trở lại ngai vàng ở Viêt Nam (?)

- Năm 1788 lại đến lượt Vũ Văn Nhậm có ý xưng vương Bắc hà. Nguyễn Huệ phải đem quân ra Bắc lần thứ hai. Chỉ trong vòng 10 ngày là quân Nguyễn Huệ đã vào đến Thăng Long và giết Vũ Văn Nhậm. Nguyễn Huệ trao quyền cai quản Bắc Thành cho Đại tư mã Ngô Văn Sở rồi đem quân trở về Phú Xuân.

1, 2, 3

Quân Sử Việt Nam (TOP)