Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai

Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

1000 Năm Thăng Long

1, 2

Vĩnh Nhất Tâm

(trích Thi sử Phá Tống Bình Chiêm)

...

Chú thích:

181 Vương An Thạch: Từ nhà Đinh, nhà Lê trở đi, tuy Tầu không sang cai trị nước ta nữa, nhưng vẫn cứ lăm le có ý muốn xâm lược. Đến khi vua Thần Tôn nhà Tống (1068-1078) có quan tể tướng là Vương An Thạch. Đặt ra phép mới để cải tổ chính trị nước Tầu…Vương An Thạch làm một sớ tâu rằng: nếu không đánh lấy Giao Châu thì về sau thành ra một điều lo cho nước Tầu.
(Theo Việt Nam Sử Lược – Nhà Lý của Trần Trọng Kim. Quyển I, trang 102 & 103).

182 Thần Tôn: Chỉ Tống Thần Tôn, vua nhà Tống.

183 Hịch: Trước đó, Lý Thường Kiệt đem quân sang đánh nhà Tống, có làm bài lộ bố (bài hịch kể rõ tội ác của biên dịch và nêu nghĩa vụ mình phải đi đánh dẹp để cứu dân). (xin xem ở phần phụ lục trích dẫn #178).

184 Mưu chước: Trầm Khởi nhận lĩnh ý chí Vương An Thạch dặn bảo, chuyên để  ý tấn công  quấy rối nước ta.  Khi  Trầm Khởi bị bãi,  Lưu Di lên thay, biên xét  hộ tịch các dân ở khê động, sửa qua thuyền, để mưu sang lấn cướp. Nhà Tống lại nghiêm cấm các châu, các huyện không được trao đổi mua bán với ta. Nhà vua đưa thư sang Tống, thì Lưu Di lại dìm đi. Ngài giận lắm, sai Lý Thường, Tôn Đản thống lãnh 10 vạn quân, chia đường sang đánh Tống. (Theo Khâm  Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục.Chính Biên – Quyển Thứ III.Tập I, trang 351) (Xin xem thêm ở phần phụ lục, chú thích # 184)

185 Triều cống: Triều cống: Nguyên nhà Tống bấy giờ bị nước Bắc Liêu  và nước Tây Hạ ức hiếp, hằng năm phải đem vàng bạc lụa vải sang cống hai nước ấy. Mà trong nước thì không có đủ tiền để chi dụng. Vua Thần Tông (nhà Tống) mới dùng ông Vương an Thạch làm Tể tướng để lo mọi việc. (Theo Việt Nam Sử Lược – Nhà Lý của Trần Trọng Kim. Q.I, trang 102)

186 Bộ lạc: Nhà Chu nguyên là chư hầu ở phía Tây của nhà Thương. Tuy vua cuối của Thương là Trụ  tàn ác, chư  hầu phân  tán, một số  chư  hầu Chu Văn vương,  nhưng  Văn vương  vẫn trung thành với Trụ.  Đến khi  Văn vương chết, con là Chu Võ vương  quy tu được  800 bộ lạc (mà sử Tàu khuếch đại là 800 chư hầu – VNSNVMPD)  đánh  thắng vua Trụ  diệt nhà Thương lập  nên  nhà Chu và  đóng đô ở đất Cảo  (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây).  (Trích từ  Việt Nam Suối Nguồn Văn Minh Phương Đông của tác giả Du Mên Lê Thanh Hoa) (Xin xem thêm ở phần phụ lục của chú thích #186)

187 Ba Ngã:
1)      Từ Quảng Nguyên theo bờ sông Tả tiền đánh trại Thái Bình.
2)       Từ hai châu Tô, Mậu vượt núi qua Lộc Châu, Cổ Vạn, Tư
Lăng, Thượng Tứ.
3)       Từ châu Quảng Lăng tiến qua Thái Bình, BằngTrường, Tư
Minh và trại Vĩnh Bình. Đại binh đi đường này. (xin xem ở phần phụ lục theo chú thích #187)

188 Tô, Mậu: Tức Tô Châu và Mậu Châu. (Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mực)

189 Đồ Sơn: Lý Thường Kiệt liền tập trung quân Đại Việt ở Đồ Sơn (Vịnh Hạ Long) theo phía sau các núi đá mà tiến vào Khâm Châu (thuộc căn cứ quân sự của Tống tại Quảng Đông). (Theo  Việt Sử Tân Biên – Nhà Lý của Phạm Văn Sơn. Tập I, trang 374).

190 Lương Quảng: Chỉ hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây.

191 Lưu Di: Lưu Di là quan của nhà Tống được Tống Thần Tôn thay thế Thẩm Khởi. (Xin xem ở
phần phụ lục vể việc Tống Thần Tôn cất chức  Thẩm Khởi, và đưa Lưu Di lên thay thế, ở chú thích #181).

192 Trương: Chỉ Trương Thủ Tiết, quan Đô-giám Quảng-tây đem binh lại cứu Ung-châu, bị Lý thường Kiệt đón đánh ở Côn-lôn quan (gần Nam-ninh) chém Trương thủ Tiết ở trận tiền. (Theo Việt Nam Sử Lược – Nhà Lý  của sử gia Trần Trọng Kim. Q.I trang 104)

193 Tô Giam: Đản vây thành Ung-châu hơn 40 ngày, quan tri-châu  là Tô Giam kiên cố giữ mãi. Đến khi quân nhà Lý hạ được thành thì Tô Giam bắt người nhà tất cả là 36 người chết trước, rồi tự đốt mà chết. (Theo Việt Nam Sử Lược – Nhà Lý  của Trần Trọng Kim. Q.I trang 103).

194 Hai nước: Tống triều được tin quân nhà Lý sang đánh phá ở châu Khâm, châu Liêm và châu
Ung, lấy làm tức giận  lắm,  bèn sai  Quách Quỳ làm Chiêu-thảo-sứ. Triệu Tiết làm phó, đem 9 tướng quân cùng hội với nước Chiêm-thành và Chân-lạp chia đường sang đánh nước ta. (Theo Việt Nam Sử Lược – Nhà Lý  của sử gia Trần Trọng Kim. Q.I trang 104).

195 Lui quân: Tháng 3 năm Bính Thìn (1076) quân nhà Lý rút ra khỏi đất Tống vì cần đề phòng sự phục thù của Tống triều có thể đánh lén hậu phương của mình. Và theo Hoàng Xuân Hãn
trong tác phẩm của ông là cuốn Lý Thương Kiệt. Chính Vương An Thạch có ý này, nhưng khi đem ra bàn y gặp nhiều  chính kiến bất đồng, khi  đó Vương lại  lâm vào thế cô nên việc  này bỏ
lại cho tới khi họ Vương chán nản xin từ chức. (Theo Việt Sử Tân Biên – Nhà Lý của Phạm Văn Sơn. Tập I, trang 379).

196 Lý Thái Úy: Chỉ Lý Thường Kiệt. (Xin xem ở phần phụlục về Thái úy Lý Thường Kiêt,chú thích # 196)

197 Quách Quỳ: Đối với các tướng lãnh bấy giờ, Quách Quỳ vào hạng có giá trị như Địch Thanh. Quỳ được đem các bộ thuộc tướng quen dùng của mình ở các châu Phú Điền tại Hà Đông, Thiểm Tây đi theo trong đó có tới 12 tướng đã lừng danh ở các chiến trường Tây Bắc. Trong số 12 tướng của Quách Quỳ, ba tướng được ở lại coi miền Bắc. (Theo Việt Sử Tân Biên- Nhà Lý của Phạm Văn Sơn.Q.I, trang 380). Xin xem thêm ở phần phụ lục #197

198 Như Nguyệt: Nhà vua sai Lý Thường Kiệt đón đánh đến sông Như Nguyệt.Thường Kiệt cả
phá được địch: quân Tống chết đến hơn nghìn người, phải rút lui. (Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Chính Biên – Quyển Thứ III. Tập I, trang 353) Xin xem thêm ở phần phụ lục về trận Như Nguyệt theo chú thích #198

200 Trương Hát: Đền thờ, hai anh em Trương tướng quân, anh tên là Khiếu, em là Hát, đều là tương giỏi của Triệu Việt Vương. (Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư) Mời xem thêm ở phần phụ lục về Nhị Tướng quân theo chú thích #200.

1, 2

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)