Lịch Sử Quân Đội Việt Nam

Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa

Quân-Đoàn III Quân-Khu III

quân sử quân đoàn III quân khu III

 

Hành Quân Ngoại Biên (70-71) Cùng Những Hệ Lụy Về Chính-Trị

1, 2, 3, 4

1. Bối Cảnh Địa-Dư và Chính-Trị:

...

Tuy nhiên ba ngày sau đó ở thủ-đô Sàigòn, tức 8-5-70, một buổi họp chính thức giữa Thủ-tướng Lon-nol của Kampuchia và Tổng-thống VNCH Nguyễn-văn-Thiệu, đã đưa đến sự thỏa thuận , trên nguyên tắc, giữa hai quốc-gia láng giềng (Cambốt và VNCH), về các cuộc “Hành quân ngoại biên”. Theo lời giải thích của TT Thiệu: “Quân lực VNCH không hề bị ràng buộc bởi sự giới hạn hành quân khoảng 33 km (tức 21 miles) trong nội địa Cam-bốt như lời cam kết của TT Nixon trước QH Hoa-kỳ”.

Sự thỏa thuận trên nguyên tắc, giữa Thủ-tướng Cambốt và Tổng thống VNCH, tuy được ghi nhận trong bản thông cáo chung của hai nước; Nhưng trên thực tế, qua sự nhận định của giới quan sát viên đặc biệt về quân sự, đã cho thấy có nhiều sự kiện bất lợi xuất hiện (?), gây ảnh hưởng trực tiếp cho cuộc hành quân ngoại biên của Quân Đoàn III và QĐ IV trong năm 70 và 71(!).

2. Chiến Dịch Toàn Thắng - 70:

Mặc dầu cộng quân, bị thất bại nặng nề trong cuộc ‘Tổng Tiến công và Tổng nổi dậy Tết Mậu-thân năm 68’; Vẫn ngoan cố bám víu cách tuyên truyền của Việt minh Cộng sản. Hồ-chí-Minh và Đảng cầm quyền Hà-nội tiếp tục ‘ngợi ca’ sự kiện Tết Mậu-thân như là một ‘chiến thắng vĩ đại’ của ‘Quân dân Anh hùng CS miền Bắc’. Mặt khác, chúng lại gián tiếp thú nhận sự thảm bại, khi nêu ra con số tử vong cao tới hơn 50% so với mức quân số, bao gồm cả lực lượng CS Bắc việt lẫn MTGP (VC).

Sự thất bại, không những vậy còn ảnh hưởng trầm trọng về mặt tinh thần; đặc biệt nhuệ khí chiến đấu của tập thể cán binh VC bị xút giảm. Lúc đó Bộ Chính-trị Đảng CS Bắc việt đã phải ‘kiểm thảo’ thẳng thắn là “thấp tới mức độ phải báo động”! Theo một vài tài liệu khác(?), liên quan đến hệ thống tổ-chức CS, đã xác nhận các ‘cơ sở’ nồng cốt hạ tầng, lẫn đặc công nội thành của Việt cộng gần như bị xóa sổ.

Sự kiện trên đây đã trả lời đầy đủ cho câu hỏi, tại sao sau biến cố Tết Mậu-Thân các đơn vị Cộng quân triệt để tránh né các cuộc đụng độ với lực lượng VNCH và quân đội đồng minh(?).

Về phía các nước đồng minh trên thế-giới tự-do, đang hỗ trợ miền nam VN chiến đấu tự vệ chống CS Bắc việt xâm lược; Đặc biệt từ sau năm 68, Hoa-kỳ vẫn tiếp tục giảm bớt quân số tại VN theo đúng kế hoạch đã ấn định; Đang từ con số nửa triệu lính Mỹ, căn cứ trên thống kê trong tháng 6, thì đến cuối năm 1969 đã có thêm 64,000 người được hồi hương. Phần chính phủ VNCH ngược lại, do nhu cầu đòi hỏi của chương trình “Việt Hoá” chiến tranh (Vietnamization) quân số đã tăng cường từ 850,000 lên hơn 1 triệu, để đáp ứng việc thay thế các lực lượng đồng minh trong tương lai. (1)

Các cuộc Hành quân xẩy ra sau này, chính thức được bắt đầu bằng cái tên Toàn Thắng - 42 và 43…v..v (vào năm 69/70) và Toàn Thắng 1/71; Những con số ghi kèm theo sau, để chỉ định cho từng đợt chiến dịch. Tuy nhiên trước đó quân lực VNCH cũng đã từng có những cuộc hành quân, truy kích bộ đội CS Bắc việt và VC ra khỏi vùng biên giới của các Tỉnh như: Bình-long, Tây-ninh, Kiến-tưòng, Kiến- phong v…v.. Lính Bộ đội Hà-nội và VC trú đóng dọc theo biên giới Việt Miên, thường lén lút sang tấn công vào một số đơn vị địa phương của VNCH, nhằm khuấy rối tình trạng an ninh trong khu vực, đồng thời cướp lương thực của cải dân chúng để mong sống còn; Sau mỗi sự kiện, chúng lại bí mật rút sâu vào đất Miên để tránh né những cuộc oanh tạc hoặc truy lùng của quân đội VNCH..

Tình trạng này kéo dài cho đến khi có sự thay đổi chính phủ Cambốt (chính phủ Lon-nol, thân Tây phương); Kể từ đó các cuộc “Hành quân vượt biên” của quân đội VNCH và lực lượng đồng minh mới được chính thức rõ rệt.

Người dân trong nước lúc đó, được đọc hoặc nghe các trận đánh qua sự tường thuật của báo chí hay các cơ quan truyền thông, nhưng vẫn còn bỡ ngỡ vì nhiều cái “tên” chưa được thấy nhắc đến bao giờ. Đó là những trường hợp các cuộc đụng độ không xẩy ra tại ngay trên các Thị trấn hay những nơi có mang sẵn địa danh, nên được đặt tên qua “địa hình”; Thí dụ: Căn cứ “C” (hay Charlie), Cứ điểm “B” (hay Beta), hay Đồi 101,.v..v. Hoặc có khi “tên” của một mặt trận được đặt do căn cứ vào hình dạng (đường, nét vẽ) của địa thế thiên nhiên, xuất hiện trong bản đồ hành quân. Mục đích quan trọng là giúp cho sự “nhận diện” được thống nhất trong đặc lệnh Truyền tin; Một hệ thống yểm trợ, liên lạc giữa Cố vấn QS Hoa-kỳ và quân lực VNCH.

Để dẫn chứng cho điều này, trên bản đồ hành quân của Vùng 3 Chiến thuật, ta có thể lấy điểm nhọn, tượng trưng cho biên giới Cambốt với các ranh Tỉnh Tây-ninh, Hậu-nghĩa (thuộc QK 3) và Tỉnh Kiến-tường (QK 4); Có hình vẽ giống như một mỏ chim, nên giới quân-sự đặt cho khu vực này một cái tên “Mỏ Vẹt” (Parrot’s Beak). Lên một chút nữa, nét vẽ ranh giới được phình rộng ra, nhìn giống hình hai chiếc cánh, nên được đặt tên là “Cánh Thiên Thần” (Angel wings). Xa chút nữa lên phía tây-bắc của Tỉnh Tây-ninh, đường biên giới trông giống hình đầu con chó nhìn nghiêng (?); Nên được đặt tên là khu “Đầu Chó” (Dog’s head). Phía bắc hai tỉnh Tây-ninh và Bình-long giáp ranh với Cambốt, trên bản đồ biên giới ta thấy có một đường cong khởi đầu từ một đỉnh nhọn, giống hình một cái lưỡi câu, nơi này được đặt tên là vùng “Lưỡi Câu” (Fish Hook).

* * *

Song song với ý định “đem chiến tranh ra khỏi lãnh thổ” của VNCH, Tổng Thông Nixon, đặt tin tưởng vào một chính phủ thân Mỹ của Thủ tướng Lon-nol tại Cambốt; Đã thông qua cùng BTL Cố vấn Quân sự Hoa-kỳ tại VN (MACV), tăng cường yểm trợ cho quân lực VNCH trong chiến dịch truy lùng địch, tấn công vào những cứ điểm trú đóng của bộ đội CS Bắc việt và MTGP (VC) hiện đang ẩn núp dọc theo vùng biên giới Miên-Việt.

Các cuộc hành quân ngoại biên đã được tổ chức giữa sự phối hợp của hai Quân Khu, do các vị đương kim Tư-lệnh giầu kinh nghiệm chiến trường và được sự tín nhiệm tuyệt đối của binh sĩ các câp, đó là Trung-tướng Đỗ-cao-Trí (QK 3) và Thiếu-tướng Nguyễn-viết-Thanh (QK 4).

Hai trong những lần xuất quân chính thức được ghi nhận như sau (1):

2.1 - Ngày 29-4-70: Một lực lượng gồm 6000 binh sĩ thuộc QL VNCH mở đầu cuộc hành quân vào khu vực Mỏ Vẹt (Parrot’s Beak) vùng biên giới, tiếp giáp với các tỉnh Tây-ninh, Hậu-nghĩa (QK 3) và Tỉnh Kiến-tường (QK 4). Cuộc hành quân được sự hỗ trợ của Không quân và Pháo binh Hoa-kỳ. Ngoài ra BTL MACV còn cố vấn cho chiến dịch về phương diện quân sư như Không quân chiến lược và chiến thuật, phụ trách tiếp vận và mọi phương tiện tản thương cần thiết.

2.2 - Hai ngày sau đó, tức 01-5-70, tiếp theo cánh quân thứ hai được đổ vào vùng biên giới thuộc khu vực Lưỡi Câu (Fish Hook) vào khoảng gần 20 cây số hướng tây-bắc Thị trấn An-lộc, thuộc Tỉnh Bình-long; gồm tập hợp lực lượng của khoảng 8,000 quân Mỹ cộng với 2000 binh sĩ VNCH. (Trong một tài liệu khác (2), lực lượng tham chiến của cánh quân này được biết với số lượng là: 5000 của VNCH và 15,000 phía quân đội Hoa-kỳ).

Đoạn dẫn chứng trên đây cho thấy cuộc hành quân lùng địch của lực lượng bạn, vào cuối Tháng 4 bước sang đầu Tháng 5-1970: Khởi sự bằng hai mũi dùi chủ yếu xuất phát từ Tỉnh Kiến-tường (QK 4) và Tây-ninh (QK 3), tấn công ngược lên hướng bắc, tiến xâu vào lãnh thổ Cambốt.

Sự kiện cho thấy là ngày và giờ xuất phát khác nhau tại hai địa điểm (a) Cánh quân từ biên giới tiến vào vùng Mỏ Vẹt: ngày N; Và (b) Cánh quân tiến vào khu Lưỡi Câu: Ngày N+2. (Sau cánh quân kia là hai ngày).

Theo tin tình báo (A2) giải đoán thì: cả hai khu vực này bị tình nghi là Bộ chỉ-huy của TƯC Miền nam (Cục R), còn như nếu không phải, thì ít ra cũng là những địa điểm quan trọng được mệnh danh là ‘An toàn khu’ như VC thường vẫn tuyên bố. Đây là những trại đóng quân còn gọi là “the City”(theo cách gọi của binh sĩ Mỹ), được thành lập để tiếp nhận số bộ đội, chiến cụ, nhiên liệu và lương thực v…v ; Được bí mật vận chuyển bằng đường bộ vào từ Hà-nội (do đường mòn HCM), hoặc theo đường biển, qua hình thức viện trợ, do các tầu Nga-sô chuyên chở (ghi nhận khoảng 80% trên tổng số tiếp tế cho chiến trường Cambốt), mà trước kia đã được Sihanouk (Chính phủ thân cộng) chấp thuận cho cập bến tại hải-cảng Sihanoukville.

3. Chiến Dịch Toàn Thắng -71:

Sau đây là đoạn “Hồi ký“ của một quân nhân thuộc Quân lực VNCH, trực tiếp tham dự vào cuộc hành quân ngoại biên, được coi là một nhân chứng sống trong cuộc chiến đấu hào hùng của quân lực VNCH:

….”Cuối năm 1970 BTL/QĐIII xử dụng ba Sư đoàn cơ hữu là 5,18,25 và 2 Liên đoàn 3 và 5 BĐQ thay phiên nhau mở cuộc hành quân sang lãnh thổ Kampuchia, (mục đích nhằm) phá tan hậu cần VC dọc theo biên giới: mật khu Ba Thu, Mỏ Vẹt, Lưỡi Câu. Đồng thời đi sâu vào các tỉnh Svay Rieng, Kompong Trach, Prey Vieng, cứu đồng bào VN thoát khỏi cảnh nạn kiều, đưa trở về VN định cư. Gần Tết các đơn vị được rút về VN ăn Tết, đồng thời chuẩn bị cho cuộc hành quân quy mô Toàn Thắng 1/71 trên lãnh thổ Kampuchia”.

[Do quyết định của Trung tướng Đỗ-cao-Trí, Tư-lệnh QĐ III kiêm Tổng Tư-lệnh chiến dịch Toàn-Thắng, LLXK QĐ III được đặc biệt, thành lập vào Tháng 11, 1970; theo kế hoạch của Tướng Tư lệnh, để xử dụng cho thích hợp với chiến trường ngoại biên, ở một thế đất ít xình lầy và tương đối quang đãng trong nội địa Cambốt] (phần chữ ‘đứng’ được tác giả ghi chú thêm).

“Lực lượng xung kích Quân đoàn III được thành lập gồm 3 Chiến đoàn tinh nhuệ, tổ chức như sau:

1. Chiến đoàn 3 gồm có: Lữ đoàn 3 Kỵ binh (- 2 Thiết đoàn) + 1 Tiểu đoàn của Liên đoàn 3 BĐQ + 1 Tiểu đoàn của Liên đoàn 5 BĐQ + 1 Pháo đội của Tiểu đoàn 46 Pháo binh.

2. Chiến đoàn 333 gồm có: Liên đoàn 3 BĐQ (- 1 Tiểu đoàn) + 1 Thiết đoàn Kỵ binh + 1 Pháo đội của Tiểu đoàn 46 Pháo binh.

3. Chiến đoàn 5 gồm có: Liên đoàn 5 BĐQ (- 1 Tiểu đoàn) + 1 Thiết đoàn Kỵ binh + 1 Pháo đội của Tiểu đoàn 46 Pháo binh.

 

1, 2, 3, 4

Quân Sử Việt Nam (Top)