Lịch Sử Quân Đội Việt Nam

Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa

Quân-Đoàn III Quân-Khu III

quân sử quân đoàn III quân khu III

Hành Quân Ngoại Biên (70-71) Cùng Những Hệ Lụy Về Chính-Trị

1, 2, 3, 4

1. Bối Cảnh Địa-Dư và Chính-Trị:

A/ Vấn đề biên-giới, nói một cách tổng quát, về phương diện địa-dư được bao gồm lãnh thổ và cả lãnh hải, được gắn liền với chủ quyền của một nước. Đó là một vấn đề căn bản và quan trọng, đòi hỏi hai (hoặc ba) quốc-gia láng giềng với nhau, phải nghiêm túc tôn trọng.

Mức độ tranh chấp, nếu có, của những nước cùng chia sẻ biên giới, còn tùy thuộc vào một vài yếu tố như thái độ của dân chúng; như chủ trương hoặc thể chế chính-trị của đôi bên có tương thuận hay không? Vì thế, một khi đã coi là người láng giềng, hai quốc-gia thường cố tránh những hành động dễ đưa đến những gây hấn, nhất là về mặt quân sự; Vì thế các cuộc hành quân của đôi bên đều tránh né diễn ra tại vùng ven biên. Do tính chất tế nhị đó, đôi khi khu vực giữa lằn ranh giới được “bỏ ngỏ”; không ngoài tính cách nhằm giảm thiểu những chuyện đụng độ, gây phiền nhiễu, ảnh hưởng không tốt trên phương diện ngoại giao. Khu vực “bỏ ngỏ” vừa đề cập, đôi khi có chiều rộng cả gần cây số tại vùng đất của đôi bên; Cũng còn được ám chỉ như một “khu vực không có người” (No Man’s Land Zone). Vùng “không người” đôi khi còn được áp dụng như một hàng rào kiểm soát vô hình, ngăn ngừa những cuộc giao chiến, được dự trù sẽ xẩy ra giữa hai nước thù nghịch; Thí dụ khu vực dọc theo Vĩ-tuyến 38, ấn định làm “Hòa” tuyến giữa hai miền Nam Bắc Triều-tiên sau Hiệp-định ngưng bắn được ký năm 1953 tại Bình-nhưỡng; Hoặc giải đất phải được kể là “không người” ở hai bên Vĩ tuyến 17 tại Việtnam.

Lịch-sử có khi cũng đã chứng minh vùng không có người này (do hai nước tôn trong biên giới của nhau) đã không may bị kẻ thứ ba, thâm độc, bí mật thực hiện mưu đồ đen tối. Kẻ thứ ba này lợi dụng vào sự “ít được kiểm soát” tại vùng ven biên giữa hai quốc-gia, đã xử dụng giống một hành lang, lén lút di chuyển quân đội và vũ khí đến tấn công, gây rắc rối cho một trong hai nước láng giềng như vừa nêu trên.

Kể từ sau Hiệp-định Genève năm 54, tình trạng “xâm nhập bất hợp pháp” của lực lượng Bộ đội CS Bắc việt đã xẩy ra tại khu vực biên giới giữa Việt-Nam Cộng hòa với Cambốt (cũng như Lào). “Kẻ thứ ba, thâm độc” được nêu ra ở đây chính là Hồ-chí-Minh, vừa là một sáng lập viên lại vừa kiêm cả chủ tịch Đảng, gồm Việt minh và Cộng sản Việtnam.

Chủ tọa một buổi họp của Bộ chính-trị Trung Ương Đảng CS Bắc việt, tổ chức tại Hà-nội ngày 20-12-1960 (1), Hồ-chi-Minh tuyên bố thành lập ’Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam’ (MTGP); Đồng thời gấp rút thúc đẩy việc khai thông một con đường mòn lấy tên là HCM, dùng làm đường ‘giao liên’, trải dọc theo biên giới giữa 3 quốc-gia Lào, Cambốt và Việt-nam Cộng-Hòa, nằm phía tây rẫy núi Trường Sơn. Hành động này đương nhiên chứng tỏ trước thế giới sự vi phạm trắng trợn bản Hiệp-định Genève do chính họ Hồ cùng tập đoàn Việt minh CS đã đặt bút ký kết với Pháp năm 1954.

Theo một tài liệu ghi nhận được của cơ quan tình báo Mỹ (CIA), vào thời điểm này, Hà-nội đã chỉ thị cho thành lập hai (02) căn cứ quân sự chính ở dưới Vĩ-tuyến thứ 17; Một, nằm tại vùng phía Tây, Cao nguyên Trung phần (QK 2) và căn cứ thứ Hai, thuộcTỉnh kiêm Tiểu khu Tây-ninh, tọa lạc ở phía tây của QK 3. Đây là một khu vực hình tam giác, phía nam của QL1; Trục lộ giao thông chính thức nối liền từ thành-phố Sàigòn qua Tỉnh Tây-ninh lên tới thủ-đô Phnompenh của Cambốt. Đường biên giới có hình tam giác, mà đỉnh nhọn nằm giữa ranh giới Cambốt với các Tỉnh Hậu-nghĩa, Tây-ninh (QK 3) và Kiến-tường (QK 4).

Địa điểm thứ hai, cũng được nghi ngờ là cơ sở tiếp vận ‘hậu cần’ quan trọng của CS Bắc việt và phe MTGP. Tại nơi đây cộng quân tích trữ vũ khí, nhiên liệu và thực phẩm được lén lút xâm nhập vào hàng loạt bằng đường mòn HCM. Nguồn tin tiết lộ thêm, có địa điểm còn phát hiện được cả một ‘Trạm cứu thương‘, đặt ngầm dưới mặt đất (?).

Nhờ doanh trại được ẩn dấu giữa rừng cây, nên Trung Ương Cục Miền Nam (Cục R) mới có cơ hội hoạt động dễ dàng vì tương đối khó bị quan sát. Cho nên nơi đây cũng còn được mệnh danh là ‘Mật khu An toàn’. Tuy nhiên để tránh khỏi sự phát hiện, bộ chi-huy của MTGP phải di động, chạy trốn thường xuyên “như một bóng ma”, từ địa điểm này đến địa điểm khác trong vùng rừng cây bát ngát của các đồn điền cao-su tọa lạc trong vùng biên giới, mà phần sở hữu chủ thuộc về cá nhân, hoặc chính-phủ Pháp (?).

[Qua các nguồn tin tiết lộ, mật khu ‘An toàn’ (!) của cộng quân còn bị nghi ngờ là chỗ giam giữ, thẩm vấn các tù binh. Tiếp theo, đặc biệt là tù binh Mỹ, sẽ được bí mật vận chuyển ra Bắc (?)]

B/ Đối với thế-giới, Cambốt được công nhận là một nước Trung lập. Tuy nhiên khối CS quốc-tế vẫn cứ tiếp tục xúi dục, yểm trợ cho một ‘Đảng phái đối lập’ hoặc chính-phủ ‘Trung Lập thân Cộng’. Vài thí-dụ như Pathét Lào hay Khmer Đỏ là hai nước cùng có chung biên giới với Việt-nam Cộng-hòa; Do đó mới có dịp bao che cho các vụ xâm nhập bất hợp pháp của CS Bắc việt, cho mưu toan thúc đẩy cuộc chiến tranh xâm lăng vào miền nam VNCH.

Hơn nữa, một số sự kiện quân sự kể như ngẫu nhiên, đã xẩy ra trong khoảng nửa năm đầu của 1970. Các diễn tiến đề cập sau đây (1) được kể là quan trọng, gây ảnh hưởng chung cho vận mệnh của cả hai quốc gia, VNCH và Kampuchia (Cambốt).

Những sự kiện này đã gây nên cuôc “khủng hoảng chính-trị” của Hoa-kỳ lúc bấy giờ. Hơn nữa còn tạo bất lợi cho cuộc chiến đấu tự vệ của miền nam VNCH trước mưu đồ xâm lược của tập đoàn CS Bắc việt :

-- Một trong các buổi họp của Hội nghị Ba-lê, thảo luận về vấn đề ngưng bắn; Ngày 21-2-70, Lê-đức-Thọ (CS Bắc việt và VC) cùng Kissinger (Mỹ) tiếp tục “NÓI CHUYỆN RIÊNG RẼ VÀ BÍ MẬT’ với nhau về vận mệnh của các nước ở Đông nam Á châu. Riêng tại VN họ Lê vẫn ngoan cố phản đối “việc rút quân song phương”; Theo đó, CS Hà-nội bắt buộc phải rút khoảng hơn 150,000 quân Chính quy, Bộ đội ra khỏi miền nam VN, tức VNCH, cùng với việc hồi hương toàn bộ lực lượng của Mỹ.

-- Ngày 11-3-70: Khoảng 20,000 người biểu tình tại Thủ-đô Phnompenh, mục đích phản đối Bộ đội CS Bắc việt và VC hiện diện trên lãnh thổ Cambốt. Đồng thời Thủ tướng Lon-nol ngỏ lời xin lỗi, vì kết quả của cuộc biểu tình, dân chúng Khmer đã tấn công tòa Đại sứ CS Hà-nội và Chính-phủ Lâm thời Miền nam (Provisional Revolutionary Government of SVN).

-- Tiếp theo ngày hôm sau, chính-phủ Cambốt hủy bỏ Khế Ước Mậu Dịch; Không cho CS Bắc việt và VC được phép xử dụng Sihanoukville như một hải cảng để Nga sô (tận dụng đường biển) thực hiện chương trình yểm trợ quân viện, để châm thêm vũ khí, đạn dược cũng như nhiên liệu cho quân CS Bắc việt và VC hiện đang khuấy phá tại vùng biên giới Cambốt và VN.

-- Sau chuyến công du Moscow và Bắc-kinh, ngày 18-3-70 Sihanouk bị lật đổ bằng một cuộc đảo chánh không đổ máu của Tướng Lon-Nol (đảm nhiệm chức vụ Thủ-tướng kiêm Bộ trưởng Quốc-phòng) và Hoàng thân Sirik Matak (trong chức vụ Đệ Nhất Phó Thủ-tướng). (Với một thành phần chính phủ mới, Cambốt đã tiếp nhận một khoản tiền viện trợ là 300 triệu Đô-la của Hoa-kỳ cho lãnh vực kinh-tế và quốc phòng)

-- Ngày 20-3-70: Lần đầu tiên trong một cuộc hành-quân của lực lượng Cambốt có sự hỗ trợ của quân đội VNCH và lực lượng đồng-minh, đã đẩy lui cuộc tấn công một đơn vị CS Bắc việt tại vùng biên giới, khoảng 16 cây số phía bắc Thị trấn An-phú (QĐ 4).

-- Nhà cầm quyền CS Hà-nội, trong âm mưu duy trì Bộ đội Bắc việt tại Cambốt; Ngày 21-3-70, Lê-duẩn đã bí mật cử Phạm-văn-Đồng (Thủ tướng Bắc việt), sang Bắc-kinh thảo luận với Chu-ân-Lai (Thủ tướng TC) để giúp Hoàng thân Sihanouk thành lập một chính phủ mới, thân Cộng cho Cambốt.

Hai ngày sau đó tại Bắc-kinh, Sihanouk hô hào dân chúng Khmer thành lập lực lượng võ trang chống lại chính phủ của Thủ tướng Lon-nol tại Phnompenh; Đồng thời hô hào thành lâp Mặt Trận Liên Hiệp Quốc Gia Kampuchia (National United Front of Kampuchia= NUFK).

Do đã có sẵn âm mưu, tổ chức của Sihanouk được Trung Cộng đỡ đầu, lập tức được sự thừa nhận của đồng bọn CS Bắc việt, Mặt trận Giải phóng (MTGP), Pathét Lào (Lào cộng) và dĩ nhiên cả phía Miên cộng (Khmer Đỏ).

Đấy là nguyên nhân đã khiến có cả hàng chục Sư đoàn Bộ đội CS Bắc việt và VC, tiếp tục có mặt bất hợp pháp trên đất Miên và Lào để chờ dịp quấy rối vùng “Tam biên” ngã ba biên giới, phía Tây cao-nguyên Trung phần và cả miền nam VNCH.

……

Ngày 9-4-70: Quân đội chính-phủ Cambốt rút toàn bộ khỏi Thị trấn Svayrieng (tiếng Việt gọi là Tỉnh Soài-riêng), khoảng cách gần 10 cây số phía bắc biên giới Tỉnh Kiến-tường (QK 4). Tỉnh Svayrieng còn nằm trên QL1, trục lộ giao thông huyết mạch trước đây trên toàn cõi Đông-dương, nối liền Sàigòn với Phnompenh. Vùng này còn được biết với cái tên là khu “Mỏ Vẹt” (Parrot’s Beak).

Tương tự như trường hợp đã xẩy ra tại Thị trấn Snoul, Tinh Svayrieng cũng bị chiếm hữu qua lại của lực lượng thuộc các phe quốc gia (Cambốt và VNCH) và cộng sản (Hànội và MTGP).

Trong thời gian này, thảm trạng “Cáp ruồng” (massacres) đã xẩy ra tại một vài nơi thuộc vùng Tỉnh Svayrieng; với mức thiệt hại được ghi nhận khoảng vài trăm nhân mạng người Khmer gốc Việt.

Dư luận quốc tế cho rằng đây là một trong những kế hoạch (?) của CS Bắc việt và VC nhằm gây sự hiềm khích, chia rẽ giữa hai dân tộc, khiến gây trở ngại các cuộc hành quân hỗ trợ song phương giữa hai chính phủ của Thủ tướng Lon-nol và Tổng thống Nguyễn văn Thiệu, VNCH trên chiến trường ngoại biên.

Tại Hoa-kỳ, do áp lực của sinh-viên và dân chúng, nhất là phe phản chiến, một số những cuộc biểu tình bị xách động đã xẩy ra tại một số các trường Đại-học cũng như trên đường phố; Lên án chính-phủ Mỹ chủ trương “bành trướng” chiến tranh qua nước Cambốt ! Kết quả đưa đến việc Tổng thống Nixon phải xuất hiện trước Nghị viện Mỹ ngày 5-5-70, cam kết “Rút lui lực lượng Mỹ khỏi lãnh thổ Cambốt trong vòng từ 3 đến 7 tuần lễ”, đồng thời ra lệnh cho quân lính Mỹ (trong thời gian đó) không được tiến xâu quá 21 miles (tức 33.6 km) trong nội địa Cambốt .

1, 2, 3, 4

Quân Sử Việt Nam (Top)