Lịch Sử Quân Đội Việt Nam

Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa

Bài học Đến Từ Chiến Trường Bắc Việt

1, 2, 3, 4

Đỗ Ngọc Nhận

...

Nghị Quyết 36

Sau khi chiếm hữu toàn cõi VN ngày 30-04-1975, CSVN tiếp tục cuộc đấu tranh chính trị trường kỳ nhắm mục đích áp đặt chế độ độc đảng, độc tài, toàn trị về tinh thần cũng như vật chất lên đầu mỗi con người VN. Tiếng súng vừa ngưng, CS lập tức bắt bỏ tù hằng trăm ngàn quân cán chính VNCH, áp dụng chính sách kinh tế nhằm bần cùng hoá nhân dân MNVN ngang bằng với miền Bắc, loại bỏ những thành phần phản chiến kể cả các lãnh tụ hoặc tổ chức tôn giáo đồng minh giai đoạn, xoá bỏ chiêu bài MTGPMN nay trở thành vô dụng, triệt hạ những kẻ nội thù, nhưng thực chất là những đảng viên, những thành phần bất đồng chính kiến. Tuỳ thời gian và không gian, những đồng minh giai đoạn hay kẻ nội thù bị triệt hạ được CS gán tội là những “bọn phản động”, “bọn phản cách mạng”, “ thế lực thù địch”, “hoạt động diễn biến hoà bình” v.v. Quả thực,  “phương tiện thực hiện cách mạng vô sản là bạo lực, dối trá, khai trừ”. (Di Sản Mác-xít tại VN, Đỗ mạnh Tri, tr. 93)

Đối với đồng bào vượt biên lánh nạn CS đi tìm tự do, ban đầu CS lên án nặng nề, cho rằng đó là những bọn liếm gót giầy đế quốc, những cặn bã của xã hội, bọn nguỵ quân nguỵ quyền phản động v.v. Nhưng rồi theo thời gian, sự thành công của khối người tỵ nạn “nguỵ quân nguỵ quyền phản động”  tại quốc ngoại về các mặt học vấn, kinh tế, chính trị và ngoại giao dần dần trở thành mối đe doạ chế độ nhưng đồng thời cũng là kho tàng béo bở ngoại tệ, cho nên CS quay hướng 180 độ dở trò ve vãn chiêu dụ. Bởi vậy, ngày 23-03-2003, Bộ chính trị đảng CSVN cho ra đời Nghị Quyết 36/NQ-TW (NQ36) quy định đường lối đấu tranh nhằm khống chế khối 3 triệu người Việt đang sinh sống tại nước ngoài. Không cần đếm xỉa đến quyền tự do lựa chọn và nhu cầu về tinh thần cũng như vật chất của đồng bào, CS nguỵ biện rằng tất cả mọi người VN ở nước ngoài, kể cả các thành phần tỵ nạn CS nay đã trở thành công dân quốc gia nơi họ cư trú, đều là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc. Với sự gán ghép ngang ngược một chiều như vậy, CS tự cho mình có quyền săn sóc giúp đỡ (?) kèm theo là quyền khuynh đảo, chinh phục, kiểm soát tất cả các người Việt ở hải ngoại. Đối tượng ưu tiên là chiêu dụ các thành phần có khả năng kinh tế dồi dào, có trình độ trí thức cao mang tiền của và chất xám về nước phục vụ cứu nguy cho chế độ. Đối với những thành phần bất đồng chính kiến, chúng đe doạ có biện pháp đấu tranh thích hợp (?). Nhà cầm quyền CSVN cũng dành ngân khoản khổng lồ để thực hiện những chương trình do NQ36 đề ra cho người Việt ở nước ngoài như: dậy tiếng Việt, cấp sách giáo khoa, tổ chức các trại hè cho giới trẻ, đầu tư các chương trình phát thanh, văn nghệ, truyền hình, internet, báo chí, khen thưởng v.v. Với “vũ khí chiến lược về thăm VN và gởi tiền giúp bà con bên nhà”, đồng thời lợi dụng thế đối tác quyền lợi chiến lược đối với Hoa kỳ, CSVN đang từng bước thực thi các chương trình NQ36 nhằm xâm nhập, lũng đoạn, làm soi mòn ý chí chống cộng, gây chia rẽ hàng ngũ người Việt quốc gia hải ngoại.
Phản ứng của chúng ta hiện nay đối với NQ36 không đi xa hơn một số những hoạt động chống cộng tuy cần thiết, nhưng rời rạc thiếu sự thống nhất và chỉ có tác dụng chiến thuật. “Có lẽ lịch sử đau thương 30-04-1975 đang trên đà tái diễn tại cộng đồng người Việt quốc gia hải ngoại?”

Chiến lược - Chiến thuật – Sách lược
Những trích dẫn trên đưa đến kết luận:
-          Hai cụm từ CTND và CTCM tuy có tên gọi khác nhau, nhưng cả hai cuộc chiến đều có cùng bản chất chính trị và cùng mục tiêu là áp đặt chế độ cộng sản độc tài toàn trị lên đầu nhân dân toàn cõi VN.
-          CTND/CTCM của CSVN  là một bộ phận nằm trong cuộc chiến tranh bành trướng ý thức hệ toàn cầu của CS quốc tế.
-          CTND/CTCM là một cuộc chiến tranh toàn diện, toàn dân và trường kỳ vận dụng các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hoá, xã hội và tâm lý.
-          Về quân sự, CTND/CTCM chủ trương khởi đầu lấy du kích chiến làm chính, vận động chiến là phụ, từng bước phát triển đưa vận động chiến lên thành chủ yếu.
-          Quần chúng được CS xử dụng như một loại “vũ khí phi vũ trang” trong chiến tranh dưới nhiều hình thức.
-          Đối với CS, Hiệp định Genève 1954, hay Hiệp định Paris 1973 cũng chỉ là một sách lược giai đoạn, một loại “vũ khí phi vũ trang”, một công cụ nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng là chiếm hữu toàn cõi VN, áp đặt chế độ cộng sản toàn trị lên đầu nhân dân toàn cõi VN.
-          Sau khi chiếm hữu được toàn cõi VN, CS tiếp tục cuộc đấu tranh chính trị trường kỳ nhằm trả thù thành phần quốc gia, loại bỏ những thành phần đồng minh giai đoạn, triệt hạ những thành phần đối kháng, để áp đặt và củng cố chế độ độc đảng, độc tài, toàn trị.
-          Nghị Quyết 36 do Bộ Chính Trị đảng CS phổ biến ngày 23-03-2004 là hình thức đấu tranh mới của CSVN nhằm lợi dụng và khống chế cộng đồng người Việt hải ngoại.
Đại tá Harry G. Summers, tác giả cuốn sách ON STRATEGY về CTVN trong chương mở đấu, thuật lại cuộc đối thoại ngắn ngủi tại Hà Nội giữa ông ta và tên đại tá CSBV trong BLHQS bốn bên vào tháng 4-1973:
-          “Ông biết không, các ông chưa bao giờ thắng chúng tôi trên trận địa”, đại tá HK nói
-          “Điều đó có thể đúng, nhưng đâu có liên hệ gì”, tên đại tá CSBV đối đáp sau giây lát suy nghĩ. (on Strategy, Harry G. Summers, tr.1).
Cuộc đối thoại ngắn ngủi trên nói lên một thực trạng, quân lực hùng mạnh Hoa kỳ đã thắng lợi về chiến thuật, nhưng cuối cùng lại chiến bại trong CTVN.

Chiến lược và chiến thuật là những phạm trù quân sự cùng nằm trong một hệ thống, một đường lối thống nhất nhằm đảm bảo chiến thắng trong chiến tranh. Bất cứ nước nào, quân đội nào trong thời chiến cũng như vào thời bình đều phải xác định về đường lối chiến lược và chiến thuật của mình một cách nghiêm túc. Nói cách khác, chiến lược là đường lối hành động vận dụng tài nguyên quốc gia phù hợp với tình hình thực tế để thành đạt mục đích chiến tranh. Nhiệm vụ của chiến lược là triệt để phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm của mình, đồng thời triệt để khai thác nhược điểm và khắc phục ưu điểm của kẻ địch. Còn phạm vi và chức năng của chiến thuật là giải quyết vấn đề đấu pháp, vấn đề phương pháp hành động để đoạt thắng lợi ngoài chiến trường trong khuôn khổ đường lối chiến lược.

Kinh nghiệm cuộc chiến vừa qua cho thấy chiến lược của Hoa kỳ và VNCH mang tính chất quy ước trong mọi hoạt động quân sự hành quân quy mô lớn liên binh, liên quân cũng như hành quân quy mô nhỏ trong chương trình bình định. Mặc dầu với ưu thế tuyệt đối về hoả lực, về khả năng di động, về khoa học kỹ thuật trên đất liền, trên không, trên mặt biển sông ngòi,  nhưng Hoa kỳ và VNCH vẫn không chiếm được ưu thế về mặt chiến lược đương đầu với chiến lược CTCM của CS. Lý do rất dễ hiểu là do bản chất chính trị của cuộc chiến, trọng tâm guồng máy chiến tranh chủ yếu của CS không nằm ở tổ chức võ trang hay lãnh thổ, mà là ở tổ chức chính trị quần chúng. Cũng vì chiến lược của Đồng Minh không đúng, không sắc bén, không tấn công bẻ gẫy được quy luật phát triển quân sự ba thứ quân của địch, cho nên phát sinh hậu quả mâu thuẫn. Ưu thế  quân sự của ta tuy mang lại nhiều thắng lợi to lớn ngoài chiến trường, nhưng chiến tranh có khi lại phát triển theo chiều hướng ngược: địch bị tổn thất nặng về quân sự, nhưng nông thôn của ta mỗi ngày thêm ung thối, tổ chức lực lượng quân sự địch không ngừng phát triển. Sau HĐ Paris 1973, mặc dầu do nhiều yếu tố khách quan tác động, nhưng phần chủ yếu là do ta đã không kịp thời chủ động được đường lối chiến lược phù hợp với khả năng và tình hình thực tế, cho nên đã chuốc lấy thảm bại 30-04-1975.

Bàn về tư tưởng chiến lược và chiến thuật, ta có thể đơn cử tỷ dụ về tư tưởng phòng vệ ấp theo chủ trương và đường lối của chương trình Ấp Chiến Lược (ACL). Vào khoảng năm 1962, cao trào xây dựng ACL mỗi ngày mỗi bành trướng. Trên 6000 ấp đã được hình thành, hạ tầng cơ sở VC đang từng bước bị loại khỏi thôn ấp. VC ra sức đánh phá phản công để lật ngược thế cờ. Nhiều ấp không tránh khỏi mũi giùi công phá của địch. Vấn đề đặt ra là phải có phương thức phòng vệ ấp hiệu quả hơn để vừa giữ được ấp, vừa bảo vệ được sinh mạng và tài sản của dân, đáp ứng mục tiêu chính trị của chương trình. Các hội thảo viên một khóa hội thảo tại Trung Tâm Hội Thảo ACL tại suối Lồ Ô đề nghị một phương thức có tư tưởng chiến lược rất sáng tạo như sau:  “Tại các địa phương thường có khuynh hướng phòng thủ chu vi các ACL. Ta có trên 6000 ấp, quân đâu đủ để mà phòng thủ. Vả lại phòng thủ như vậy không đáp ứng được nhu cầu bẻ gẫy quy luật đánh phá ấp của VC. Một cấp chỉ huy nếu có tư tưởng chiến lược khi phòng thủ hay tấn công đều phải đặt vấn đề điều nghiên quy luật tác chiến của địch. Lấy tỷ dụ, muốn tấn công ấp, VC không thể đi ra ngoài quy luật thâu thập tin tức, điều nghiên quy luật hoạt động của ấp, chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị tiếp liệu, dự kiến tuyến xuất phát, đường tiến quân, đường lui quân, cách di chuyển, đêm hay ngày v.v. Tư tưởng chiến lược của người chỉ huy là phải bẻ gẫy quy luật tác chiến của địch, tức là đánh địch trước không cho địch hoàn tất giai đoạn chuẩn bị. Đánh như vậy là chủ động là mang chiến trận ra xa khỏi ấp cho nên còn được thắng lợi cả về mặt chính trị nữa…”.

 

1, 2, 3, 4

Quân Sử Việt Nam (Top)