Lịch Sử Của Việt Nam

PHỤC HỒI SỰ THẬT LỊCH SỬ
VIỆT TỘC LÀ MỘT ĐẠI CHỦNG

PHẠM TRẦN ANH

Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay. Kể từ thời lập quốc, Hán tộc kẻ thù truyền kiếp của Việt tộc đã không ngừng xâm lược đánh đuổi dân tộc Việt phải rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn từ vùng châu thổ lưu vực 2 con sông Hoàng Hà Dương Tử xuống trụ lại ở phần lãnh thổ Việt Nam ngày nay.  Chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử của Ngô Quyền năm 938 đã mở ra một thời kỳ Độc lập tự chủ của dân tộc sau gần một ngàn năm dân tộc Việt bị Tàu Hán thống trị. Đất nước độc lập tự chủ được hơn một ngàn năm với các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn thì thực dân Pháp lại vào xâm chiếm nước ta. Trong khi toàn dân đang đấu tranh giành độc lập thì đảng Cộng Sản Việt Nam đã núp dưới danh nghĩa kháng chiến để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản đưa dân tộc vào thế khốn cùng nhất trong lịch sử.

Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của kẻ thắng trận và thủ đoạn thâm độc quỉ quyệt đã không những dùng mọi phương cách để đồng hóa Việt tộc bằng cách xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết tìm về lịch sử trong một mớ “chính sử” hỗn độn mơ hồ. Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của một ngàn năm đô hộ của sự nô dịch văn hóa khiến ta chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm. Thế nhưng… Lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù bị sửa đổi vùi lấp hàng nghìn năm dưới ánh sáng của chân lý khách quan trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại: “Lịch sử Việt là lịch sử bi hùng của một đại chủng với những thăng trầm của vận mệnh dân tộc”.

Với những kết quả khoa học về phân tích cấu trúc di truyền mới nhất, sự thật lịch sử đã được phục hồi: Việt tộc là một trong 3 đại chủng lớn của nhân loại. Sự thật lịch sử này làm đảo lộn mọi nhận thức từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Đến nỗi mà một sử gia thời danh J Needham người có công phục hồi sự thật lịch sử bị che giấu hàng ngàn năm, làm đảo lộn mọi sử sách xưa nay đã phải thốt lên: Sự thật bị che phủ hàng ngàn năm cùng với ảnh hưởng của ngàn năm thống trị nô dịch văn hóa khiến ngay cả người Việt cũng ngỡ ngàng, không tin đó là sự thật .!!!”. Theo học giả J.Needham thì Protoviets đã mang theo 25 đặc trưng văn hoá lên địa bàn cư trú mới. J. Needham khẳng định rằng: “ những nếp sống văn hoá này đem vào Trung Hoa thời Tiền sử mang yếu tố “Biển” rõ rệt và có thể mô tả bằng một chữ, đó là chữ “VIỆT” mà trước kia thường gọi sai lầm là Thái cổ  (ProtoThai)”. Học giả lừng danh này còn chú thích rõ chữ Việt nay là quốc hiệu của một nước vùng Đông Nam châu Á: Nước Việt Nam ngày nay.

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nhìn lại toàn bộ lịch sử Việt để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại địa bàn Việt Nam bây giờ.

Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 của Ngô Quyền mới chính thức mở ra thời kỳ độc lập của Việt tộc. Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục cả đời sống trên lưng ngựa thạo việc chiến tranh nên Việt tộc đã bị đẩy lùi xuống phương Nam nhưng nền văn hóa của Việt tộc đã thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để hình thành cái gọi là văn minh Trung Quốc. Chính sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mã Thiên đã phải thừa nhận một sự thực là “ Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy ..!”.      

     Ngày nay, sự thật lịch sử đã được phục hồi khi các nhà Trung Hoa học trong hội nghị quốc tế về “Nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa” tại Đại học Berkerley Hoa Kỳ năm 1978 đã xác nhận rằng Di-Việt là chủ nhân của Trung nguyên tức toàn thể lãnh thổ Trung Quốc bây giờ. Một sự thực lịch sử nữa cũng được xác nhận là hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Vạn thế sư biểu của Hán tộc là Khổng Tử đã ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đã viết như sau: “Độ luợng bao dung, khoan hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy ..!  Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo ở đó ...

Chính Hán Hiến Đế một vị vua của Hán tộc, cũng đã phải thừa nhận nước ta là một nước văn hiến: Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”.  

Trước đây, giới nghiên cứu đưa ra nhiều giả thuyết về cội nguồn phát tích của dân tộc Việt. Các nhà nghiên cứu lịch sử thường căn cứ vào những sách sử duy nhất còn lại của Hán tộc nên nhất loạt cho rằng Việt tộc phát tích từ miền Bắc rồi di cư xuống phương Nam. Chính vì vậy, môt số người còn cho rằng dân tộc Việt là một nhánh của Hán tộc (Tàu) hoặc cho rằng chúng ta phát tích từ người Việt ở Triết Giang và Phúc Kiến trong cộng đồng Bách Việt di cư xuống Việt Nam thời Xuân Thu Chiến quốc như hai học giả Pháp là L’Aurousseau và Madrolle. Các nhà nghiên cứu thuộc trường Viễn Đông Bác cổ của Pháp ở Hà Nội thì cho rằng người Việt phát tích từ Tây Tạng, thuộc chủng Indonesian ngành Mongoloid phương Nam và nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc cho rằng Mã Lai là cội nguồn dân tộc. Tất cả những luận điểm trên đều không có tính thuyết phục nên chúng ta phải tìm về nguồn cội phát tích của tộc Việt từ truyền thuyết đến hiện thực lịch sử được kiểm chứng bởi văn hoá khảo cổ, dân tộc và ngôn ngữ học, kết quả khảo tiền sử và cấu trúc di truyền DNA mới nhất, thuyết phục nhất.

I. TRUYỀN THUYẾT KHỞI NGUYÊN DÂN TỘC
       
Mỗi dân tộc đều có những truyền kỳ lịch sử được thần thoại hoá thể hiện lòng tự hào dân tộc mang tính sử thi của dân tộc đó. Nữ sĩ Blaga Dimitrova cũng như nhiều học giả ngoại quốc khác đã hết sức ngạc nhiên xen lẫn thán phục khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, một dân tộc mà huyền thoại và hiện thực đan quyện hoà lẫn với nhau đến độ khó có thể phân biệt đâu là huyền thoại đâu là hiện thực nữa. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về cội nguồn huyết thống Việt tuy đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại tràn đầy tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn của truyền  thống nhân đạo Việt Nam.

Mỗi dân tộc đều có những truyền thuyết độc đáo mang sắc thái đặc thù biểu trưng riêng của dân tộc đó. Vì thế ngay cả những dân tộc mà ngày nay được xem là văn minh cũng đều có một con vật biểu trưng cho dòng giống như Ấn Độ là voi, Tàu là con cọp, Pháp là con gà trống Gaulois, Anh là con sư tử, Mỹ là con chim Ưng (đại bàng) nên Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ lấy chim đại bàng và Pháp lấy con gà làm quốc huy cho cả nước.

Truyền thuyết Rồng Tiên của Việt Nam thoạt nghe có vẻ hoang đường huyền hoặc thế nhưng vấn đề là chúng ta phải đặt mình vào thuở ban sơ cách đây mấy ngàn năm mới thấy rõ Tổ tiên ta đã sống ra sao và suy nghĩ thế nào ở thời cổ đại? Từ đó mới có thể hiểu được những gì mà Tổ tiên ta đã gửi gấm cho chúng ta qua bức thông điệp lịch sử đó. Với những suy nghĩ của thời đại duy lý thì làm sao có chuyện trứng nở ra người? Chi Âu Việt của người Việt cổ chọn vật linh biểu trưng là chim nên mẹ Âu đẻ ra trăm trứng là chuyện bình thường. Nếu mẹ Âu (Chim) đẻ ra người mới là chuyện lạ, nên chúng ta phải hiểu đây chỉ là biểu trưng để diễn tả mẹ Âu Bố Lạc đã khai sinh ra trăm giống Việt mà thôi. Mặt khác, chim Phượng Hoàng huyền thoại trên thực tế là con Công của người Việt tung cánh bay theo hướng mặt trời, vừa diễn tả ý niệm người Việt thiên cư dần về hướng Đông xuống miền bể và chim bay lên trời dẫn tới hình tượng “Tiên” của mẹ Âu. 

Theo triết gia Kim Định thì cơ cấu luận thì Sử ký là “sử hàng ngang” ghi chép các biến cố, các sự kiện cụ thể với những con người cụ thể theo năm tháng, còn Huyền sử được gọi là “Sử hàng dọc” mang tính tâm linh biểu thị bằng những hình tượng nguyên sơ. Thật vậy, cái biểu tượng uyên nguyên đó có thật như một lý tưởng nhưng chưa hiện thực được. Đó là những nguyên lý được kết tinh và tiềm ẩn trong đời sống tâm linh của một dân tộc như trong huyền sử Rồng Tiên thì Âu Cơ chỉ là hình tượng nguyên sơ. Mẹ Âu Cơ là chi tộc thờ chim của Việt tộc nên việc mẹ đẻ ra một cái bọc trăm  trứng là chuyện bình thường cũng như cái bọc không chỉ nói về cái bọc mà nó biểu tượng cho ý niệm công thể, ý nghĩa của 2 chữ “đồng bào” cùng chung một bào thai của mẹ Âu Cơ. Tầm nguyên ngữ nghĩa của chữ Tiên gồm chữ sơn và chữ nhân, hàm nghĩa người ở trên núi mà thôi. Cũng thế trăm con không nhất thiết phải là một trăm mà hàm ý số nhiều từ đó chúng ta mới có ý niệm “Trăm họ” (Bách tính) và rộng hơn nữa là “Bá tánh”.

Ngày nay không ai phủ nhận được giá trị của huyền  thoại và truyền thuyết được coi như lịch sử dân gian mà đôi khi nó có giá trị trung thực hơn cái gọi là chính sử của các chế độ độc tài xưa và nay. Beaudelaire một thi sĩ nổi tiếng đã nhìn nhận sức mạnh của truyền thuyết huyền thoại vì đó là “Sử cô đọng của các dân tộc. Đại văn hào Pháp Victor Hugo khi viết “Truyện kỳ các thời đại” ông đã tìm về nguồn cội, khai thác các truyền thuyết thần thoại xa xưa vì theo ông, đó là “Lịch sử được lắng nghe ở ngưỡng cửa của truyền thuyết. Truyền kỳ có phần nào hư cấu nhưng tuyệt đối không có ngụy tạo”. Thật vậy, truyền thuyết tự thân nó không phải là lịch sử biên niên nhưng truyền thuyết là có thật, nó phản ảnh những ý nghĩa có thật của một thời lịch sử ban sơ mà người xưa ký thác vào đó dưới lớp vỏ hư cấu huyền hoặc để truyền lưu gửi gấm cho những thế hệ sau. Một triết gia nói: Tất cả nền  minh triết cũng như trí khôn loài người đều ẩn  tàng trong các huyền thoại, truyền kỳ lịch sử dân gian”. Vấn đề là phải làm sao hiểu được những lý tưởng uyên nguyên, những tâm linh sâu thẳm hàm tàng ẩn chứa qua những hình tượng nguyên sơ trong đó. Nói theo Jung, một triết gia thời đại thì: Truyền thuyết huyền thoại hàm chứa những ý nghĩa lịch sử trung thực nhất, vì nhân vật thần thoại là sản phẩm đúc kết biết bao suy tư của một thời đại tạo dựng độc sáng nhưng nó phải chờ thế hệ sau diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lý giải. Huyền thoại là đạo sống của một dân tộc”  mà theo Wallace Cliff thì “ Nếu dân tộc nào để mất đi huyền thoại là đánh mất mạch nối vào nguồn cội quá khứ của tổ tiên và cũng sẽ mất luôn căn bản cho việc xây dựng tiền đồ của dân tộc đó”. Thật vậy Laurens va de Post đã xem huyền thoại là di sản thiêng liêng nhất vì nó diễn tả tinh thần dân tộc ở mức độ cao nhất. Micia Eliado cũng cho rằng Huyền thoại là gia sản quí báu nhất vì tính chất thiêng liêng điển hình và mang lại ý nghĩa sống cho cả một dân tộc”. Lịch sử đã chứng minh lời của Karl Jung là “Dân tộc nào quên đi huyền thoại thì dân tộc đó dù là những dân tộc văn minh nhất sớm muộn cũng sẽ tiêu vong”. Trong lịch sử loài người, nhiều cộng đồng người đã không tồn tại được với thời gian vì không có truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc. Huyền thoại là di sản thiêng liêng nhất, quí báu nhất mà tiền nhân đã để lại cho hậu thế. Huyền thoại là mạch sống nối cội nguồn quá khứ với thế hệ hiện tại và mai sau, là gia sản cao quí vô giá ghi nhận những cảm nghiệm nội tâm của người xưa đã thực chứng suốt dòng vận động của lịch sử. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên đã thấm sâu trong lòng mỗi người chúng ta để trở thành đạo sống của dân tộc Việt.

Với phương pháp nghiên cứu huyền thoại, chúng ta nghiên cứu huyền sử, tìm về nguồn cội dòng giống qua những gửi gấm của người xưa là một việc làm hết sức đúng đắn và cần thiết. Vấn đề đặt ra là với một thái độ nghiêm túc, một phương pháp khoa học, nhưng không có quyền áp đặt những suy nghĩ của nhân loại thế kỷ 21 lên những tư tưởng của người xưa mà chúng ta phải đặt mình hoàn cảnh lịch sử thời đó để có thể hiểu được cái gọi là lịch sử sống động của dân gian”. Một mặt, phải gạt bỏ những yếu tố thần thoại, loại ra những chi tiết hư cấu. Mặt khác, đặt mình vào hoàn cảnh xã hội đời sống tâm linh của người xưa, mới thấy được cái tinh tuý cốt lõi tiềm tàng trong truyền thuyết để giải mã bức “Thông Điệp” hàng ngàn năm lịch sử của tiền nhân.

Quân Sử Việt Nam (Top)