Lịch Sử Của Việt Nam

VĂN HÓA VÀ CHÍNH QUYỀN

1, 2

Lý Đại Nguyên 

TƯƠNG TÁC GIỮA TÔN GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ TRONG TIẾN TRÌNH THĂNG HÓA LỊCH SỬ NHÂN LOẠI

Văn Hóa vừa là nền móng, vừa là nội dung, vừa là hướng vươn lên của Con Người, của lịch sử Dân Tộc và Thế Giới. Chính Quyền có nhiệm vụ nhất thời là nối kết, lãnh đạo, tạo điều kiện cho Con Người xây dựng, bảo vệ, phát huy đặc tính Dân Tộc, tiến tới kiến tạo một Thế Giới Dân Chủ, Tự Do, Điều Hợp, Hòa Bình, Phát Triển. Đây không còn là mơ ước của các vị Chân Nhân của Loài Người từ ngàn xưa nữa, mà đang là nhu cầu thực tại của Nhân Loại sống giữa Thế Giới hôm nay.

Các nhà Văn Hóa của Nhân Loại, gồm các bậc Giác Ngộ như Đức Phật, Đấng Christ, Bậc Tiên Tri, các vị Chân Sư Đạo Học Minh Triết, các Văn Nhân Thi Sĩ...đều cùng biểu hiện Tâm Linh Trí Tuệ của mình ra, để hướng dẫn Con Người trên con đường đi lên xây dựng cuộc sống đep, đúng, lành và luôn luôn mới, nhằm cùng kiến tạo một Xã Hội Người, thánh thiện, nói lên đầy đủ Văn Hóa Tính.

Nhưng những tư tưởng thánh thiện minh triết đó, đều vì trình độ ý thức của đại khối người còn quá thấp kém hạn hẹp, nên chưa theo kịp, phần khác lại bị những kẻ có quyền lực trong tay, thường chỉ biết sử dụng như một phương tiện tinh thần, dùng vào việc khống chế niềm tin của Con Người, khiến Con Người ngoan ngoãn trở thành những bầy tôi trung thành, phục vụ cho kẻ nắm được quyền lãnh đạo xã hội.

Chính vì thế mới có hiện tượng Văn Hóa phục vụ cho Chính Quyền, vốn là thế lực nhất thời làm hư năng lực trường cửu. Khiến kỷ cương Văn Hóa bị đảo điên, bị ngắt ra từng đoạn. Xã Hội đọa lạc. Chính Quyền biến thành tà quyền bá đạo. Chung cuộc nạn nhân vẫn là Con Người. Những đường hướng tốt đẹp, tích cực khai mở Tâm Thức Con Người, nhằn phục vụ Loài Người của các bậc Chân Nhân Thượng Trí, chỉ còn là giấc mơ giữa cuộc sống khổ đau, đầy đọa lừa dối, bóc lột, tra khảo, chém giết lẫn nhau.

Thế nên, lời khuyên đúng nhất, chân thật nhất vẫn là lời của bậc Toàn Giác: "Mỗi Người tự  thắp đuốc lên mà đi". Khi đuốc  linh tuệ từ tâm mỗi người đã tự thắp sáng, tức là đã nhìn ra được chính tự thân mình: Có Quyền Tự Do, có Trách Nhiệm Tự Chủ và có Năng Lực Sáng Tạo, mới ý thức được chính mình, phải làm chủ lấy mình, trách nhiệm về mọi hành vi của mình, và nhận ra Con Người là Nguyên Nhân của Lịch Sử Loài Người.

CHÍNH DANH TỪ THUỞ  BAN ĐẦU

Thực ra, ngay từ khi Nhân Loại chập chững biết sống cuộc sống quần tụ, thoát khỏi cuộc sống Mặc Thức Nhân Nhiên, bước vào cuộc sống Ý Thức Nhân Loại, thì Con Người đã tự nhiên tuân theo tập quán, sau đó là tin tưởng, mà phân công trong việc dìu dắt Bộ Tộc.

1- Chăn dân, chiến đấu kiếm sống trong thực tế thuộc quyền Tộc Trưởng hay còn gọi là Tù Trưởng.

2- Giao tiếp với Trời, Thần, Ma, Quỷ thiêng liêng, chữa bệnh, gìn giữ tập tục, thuộc quyền các Pháp Sư, hay có nơi gọi là Phù Thủy, Ông Đồng, Bà Cốt.

Đây là những nét phác thảo thô sơ về đầu mùa của cuộc sống Ý Thức Người. mà đây cũng là sự phân công rất hợp lý do nhu cầu cuộc sống đòi hỏi. Phần tinh thần Chỉ Đạo thuộc quyền Pháp Sư. Phần thực tế Lãnh Đạo, thuộc quyền Tộc Trưởng. Cả 2 đều tin dựa vào Thần Quyền mới có mạng số thực quyền đối với con dân. Sau này gọi đó là Văn Hóa Chỉ Đạo, hay Giáo Quyền hướng dẫn tâm linh và Chính Quyền Lãnh Đạo, hay Thế Quyền cai trị xã hội.

Nhưng càng ngày Ý Thức Người càng biến thiên, nặng về tranh cướp quyền lực cá nhân, nên hai lãnh vực Chỉ Đạo và Lãnh Đạo luôn luôn muốn lấn vượt nhau. Cuộc sống càng trở nên gay gắt, tranh giành mỗi lúc một quyết liệt, thì khuynh hướng độc quyền càng có cơ hội lớn mạnh. Rồi gom hai thứ thành một. Bắt thứ này phục vụ cho thứ kia, hay ngược lại, khiến cho cuộc sống Ý Thức Nhân Loại gặp không biết bao tai ương cho đến giờ này  vẫn chưa hết.

VƯƠNG QUYỀN VÀ VĂN HÓA

Khi Loài Người chính thức sinh hoạt trong cảnh sống Ý Thức Nhân Loại, thì các Quốc Gia Phong Kiến cũng thi nhau xuất hiện. Lúc đó Loài Người thực sự sống bằng ý thức tôn thờ người hùng chiến tranh. Quyền Lực Quốc Gia trong tay kẻ chiến thắng. Kẻ chiến thắng tối hậu làm Vua. Vua là Con Trời làm chủ nhân ông tuyệt đối của Quốc Gia. Dân thuộc quyền sở hữu của Vua. Quần Thần, có nơi cả các Thầy Tư Tế, Tu Sĩ, Đạo Sĩ, cũng đương nhiên là bầy tôi của Vua. Tức là Văn Hóa phải phục vụ Vương Quyền.

Có những nước thuộc thời cổ đại như Ai Cập, Trung Hoa, Vua là đại diện Thượng Đế, hay chính là Con Trời. Bởi thế việc tế Trời nhà Vua đảm nhận, Vua kiêm cả việc sắc phong các vị Địa Thần, Nhân Thần để cho dân chúng thờ kính. Vua cũng cử ra các quan trông coi việc tế tự. Tóm lại quyền thiêng liêng Vua cũng thu vào tay, nói chi đến Văn Học, Nghệ Thuật. Thứ gì đẹp ý Vua, thì được trọng dụng, phát huy, thứ gì không thích thì cấm chỉ.

Thời đó các nước phong kiến theo chế độ Con Trời này, thường là các Đế Quốc dữ tợn. Còn ở các tiểu quốc thì vẫn hiền lành trong sự phân công giữa Vương Quyền và Giáo Quyền. Nếu ở nơi còn tình trạng Đa Thần thì giới Văn Nhân, Đạo Sĩ được tôn quý, ngay nhà Vua cũng nể vì. Riêng các Tiểu Vương Quốc trong lục địa Ấn Độ thì đều đặt giới tu sĩ Ba La Môn lên thành đẳng cấp thượng đẳng trên Vương Quyền. Lục địa Ấn Độ không thống nhất bằng Vương Quyền Đế Quốc, mà lại thống nhất qua Giáo Quyền Bà La Môn. Đến thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch, Đại Đế Asoka, 268-232 trước TL, đùng binh đội thống nhất nước Ấn. Sau đó ông theo Đạo Phật, xiển dương tinh thần Từ Bi, áp dụng vào việc cai trị, có nghĩa là lấy Đạo Phật làm Quốc Giáo cho cả Đế Quốc. Nhưng bản chất Đạo Phật là Đạo Giải Thoát không thích ứng với việc cầm quyền thống trị. Chính vì vậy, mà sau thời đó, Đạo Phật bị đánh bật khỏi lục địa Ân Độ, Ba La Môn Giáo lại trở về nguyên vị toàn thống cho tới nay.

ĐẾ QUỐC VÀ VĂN HÓA

Lục địa Trung Hoa, sau thời xuân thu, chiến quốc, nhà Hán thống nhất được đất nước, lúc ấy Đạo Khổng đã phổ cập trong giới sĩ phu. Với thuyết chính danh, định phận, theo trật tự Trời, Đất, Người. Vua Tôi, Thầy Trò, Cha Con, Chồng Vợ, Anh Em, hết sức mạch lạc, nghiêm ngặt. Làm bầy tôi thì phải tận trung với Vua. Học thành tài để thờ vua, giúp nước. Những nguyên tắc đó rất thích hợp cho việc trị nước, an dân, củng cố Vương Quyền tuyệt đối. Nên Hán Võ Đế 140-87 trước Tây lịch, dùng thuật cai trị của Pháp Gia, kết hợp với Đạo Khổng để chủ đạo cho triều đại Nhà Hán. Khổng Tử được tôn thành Vạn Thế Sư Biểu. Đạo Nho thành kỷ cương của chế độ, dùng vào việc giáo hóa dân chúng và mở mang Đế Quốc. Ảnh hưởng khắp miền Á Đông, kéo dài tới hai ngàn năm, dù nhiều triều đại đã thay đổi, nhưng Nho Gia đại diện cho Văn Hóa Trung Hoa, trước sau vẫn lệ thuộc Vương Quyền.

Suốt thời gian dài trên 300 năm, Đạo Kitô bị cấm đoán, tàn sát tại Lamã, nhưng tín lý của Đạo đã đáp ứng với tâm thức Con Người thời đại, nên Đạo Chúa Kitô đã phát triển rất mạnh trong dân chúng bị trị ở khắp các Vương Quốc Âu châu. Năm 312, Hoàng đế Lamã Constantine  thống nhất toàn bộ Âu Châu, nhà vua hiểu được rằng: Muốn thực sự nắm trọn được tư tưởng và niềm tin của dân Châu Âu, thì phải dùng tới Đạo Chúa Kitô làm Công Giáo để chủ đạo cho sinh hoạt Đế Quốc. Thế nên, ngay năm sau 313, Hoàng Đế chính thức công nhận Kitô Giáo là đạo của toàn Đế Quốc Lamã. Rồi năm 314 triệu tập hội đồng Giám Mục toàn cõi, sắc phong Giáo Hoàng, thành hình Giáo Hội Lamã. Mãi tới năm 1059, giáo hội Lamã mới độc lập với vương quyền, thành lập Hội Đồng Hồng Y Giáo Chủ để bầu lên Giáo Hoàng lưu truyền tới nay.

Một khi Giáo Quyền đã thành lập, thì luôn luôn bền vững hơn Thế Quyền. Cho nên, Giáo Quyền nhiều lúc vượt hẳn lên trên Thế Quyền, để nắm quyền lãnh đạo Đế Quốc. Nhất là khi các Hoàng Đế Lamã suy yếu. Cuộc tranh giành quyền bính giữa Giáo Quyền và Thế Quyền kéo dài cả ngàn năm. Dù khi các nước Âu Châu đã không còn công nhận quyền lãnh đao của Hoàng Đế Lamã nữa, nhưng vẫn phải cần tới việc xin được Giáo Hoàng Lamã tấn phong cho vương hiệu, thì mới được chính thức đăng quang. Vì toàn thể các nước Âu Châu đền nhìn nhận Giáo Hội Kitô là Công Giáo.

1, 2

Quân Sử Việt Nam (Top)