Lịch Sử Của Việt Nam

Tiếng Hờn Chân Mây

quân sự việt nam, biệt động quân

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29

*Tác Phẩm TIẾNG HỜN CHÂN MÂY,  Ấn phí: 15 Mỹ Kim.
*Liên lạc để có sách với chữ ký của tác giả  qua Email: tranthyvan@yahoo.com hoặc điện thoại số: (714) 375-9547

TIẾNG HỜN CHÂN MÂY
Truyện dài In lần đầu:  7/2000
Tái bản lần thứ nhất: 11/2006

Bìa: Họa sĩ Hồ Thành Đức
Kỹ thuật & trình bày: Tác giả

Copyright  2000 by Tran Thy Van
TX 5-195-589
All Rights Reserved Printed in USA
     
THƯ TƯ - NGÂN PHIẾU - XIN ĐỀ:

TRẦN THY VÂN
P.O.BOX 2085
WESTMINSTER, CALIFORNIA 92648 - USA

LỜI NÓI ĐẦU 

Tiếp theo truyện dài Anh Hùng Bạt Mạng, in 1996, rất thu hút người đọc, đã tái bản nhiều lần trong thập niên qua; Tiếng Hờn Chân Mây cũng được viết lại từ hồi ký của tác giả về thời chinh chiến Việt Nam. Để sáng tỏ một phần sử liệu, kỳ tái bản này, THCM có thêm ghi chú, tiêu biểu một số báo chí, các nhà văn phê bình tác phẩm, ở cuối sách. Bối cảnh, sự kiện, và các nhân vật trong truyện đều có thật. Sự trùng tên chỉ là ngẫu nhiên với người ngoại cuộc. Tác giả.

Thương tặng HN Lê Hoa
Giữa lúc đất nước khởi đầu đen tối nhất
em về làm vợ người lính bại trận Trần Thy Vân.

(KỲ 12)    

CHƯƠNG MƯỜI HAI DAMER TIẾNG SÚNG TÀN QUÂN

...

Tôi giả bộ gườm anh:

- Hèn gì cả vợ lẫn chồng đòi con người ta chèo chẹo.

Đẩu im lặng, vội nhét gói bạc dưới cái gối dài đầu giường kế bên. Chị Hai sau vườn bước vô nhoẻn miệng cười:

- Khỏe không, Vân?

- Dạ khỏe!

Chị tới chỗ cửa hông, đứng nói lên nhà trên:

- Anh Ninh, có chú em từ Phú Hội đến chơi.

Một giọng Bắc khàn khàn của tên cán bộ vọng xuống:

- Ờ, bà con à? Tôi đang cố lập cho xong bản phúc trình.

Đoạn, ông ôm cặp đi ra ngoài. Đẩu ngồi xuống kế tôi:

- Ngoài đó nghe gì chưa?

Tôi vờ ngạc nhiên:

- Nghe gì?

- Trời ơi, suýt tí nữa anh chết mẹ nó rồi. Bất ngờ mấy ông "tàn canh" nhà ta về đục tử thương tùm lum...

- Đùa anh chơi chớ qua hôm sau tôi nghe liền cú đột kích ngoạn mục đó!

- Nói nho nhỏ, mày rống cái họng! Sao hay vậy?

- Thì trên đường đi trả tiền, tôi bị một tốp bộ đội chặn lại ở Liên Khương, cho biết tình hình Damer, tôi phải trở lui.

Anh Đẩu trố mắt:

- May thiệt! Nếu Vân vô thì mất cha nó gói bạc rồi.

- Sao mất?

Anh Đẩu thở phào:

- Con người từng chỉ huy đánh giặc lại hỏi nghe thất cười. Tao nói sáng bữa đó, công an bộ đội đầy hết, mặt thằng nào cũng đằng đằng sát khí. Nếu sớn sác Vân đút đầu vào với bị tiền thì..., anh cười hì hì, người lẫn của chắc đã khoán trắng cho Bác Hồ rồi. Trời ơi, may quá! Họ đi đường đem có mười ký gạo mà chúng còn tịch thu, huống hồ 800 đồng, mua trên một tấn rưỡi gạo.

Đẩu cũng gốc lính, dân miền Tây. Sau 30/4/75, anh ngược đời dắt vợ lên Damer, một bản Thượng hóc hiểm này, để ẩn dật. Giống như tôi, vì thời thế đành lang bạt tới Phú Hội, gần R'Chai, sinh sống. Tính anh vui vẻ, xuề xòa, nhưng lại không hạp ý với thằng em vợ là Út.

Tôi cười:  

- Nói giỡn chớ tôi ngu sao? Mạng tôi to thật, gặp đám bộ đội quen đón đường, mời vào uống cà phê, còn được bọn nó kể về tình hình "chiến sự" nóng hổi Damer, ngon không?

- Đêm đó anh run quá! Nghe tiếng lựu đạn nổ ình ình đầu tiên, anh và chị vội chun xuống gầm giường. Tiếp theo là các loại súng bắn liên tục. Run mà đã...

- Tưởng anh vội ra tiếp tay, làm nội ứng, trong lúc ngoại kích như vậy, anh lại nằm im re dưới gầm giường...

- Thôi mày, nói bậy tù cả đám bây giờ. À, thằng cha chủ tịch xã chết trước sân anh mới đau chớ. Chắc chả đang bò vô nhà, Phục Quốc rượt theo phơ nốt. Mẹ nó, hết chỗ gục, nhè ngay cửa ngõ gục, làm tụi nhỏ sợ ma tối không dám ra ngoài.

- Nghe nói có 12 người tử thương.

Đẩu lắc đầu:

- 12 là riêng mấy ông "cách mạng", còn dân bốn nữa...

- Bị lạc đạn?

Anh Đẩu vừa thò tay vô túi lấy gói thuốc rê vừa nói:

- Đáng lẽ chỉ giết mình chủ nhà, vì ông hay báo cáo bậy, làm khó dễ bà con trong đội hợp tác xã nông nghiệp, nhưng đám cô hồn "tàn canh" quá mạnh tay, dộng nguyên một quả M72 chết ráo cả gia đình.

Tôi chọc anh Đẩu:

- Vì mạnh tay mới dộng nguyên quả, còn nhẹ thì theo anh nên bẻ đôi trái đạn bắn một nửa, phải không?

- Vân sửa lưng anh nhiều rồi, giờ đem xì đế ra nhậu.

Dứt lời, anh đứng dậy lấy chai rượu nếp than đen thui trên kệ ván xuống. Thấy chai rượu tôi phát ớn và nghĩ bụng, đối ẩm với tay hũ chìm này, thì chỉ có chết tới bị thương thôi.

Tôi hỏi:

- Nhậu với món gì, anh Đẩu?

Anh đáp bằng giọng nhừa nhựa như đã say:

- Khỏi lo, anh đãi ăn chim áo đà ram mặn, mới mua sáng nay 200 con, béo lắm! Mình lai rai rồi dùng cơm trưa luôn.

Nhắc đến món chim ram, tôi náo nức:

- Chà, 200 con, nhổ lông móc ruột bao giờ xong?

Đẩu không trả lời thẳng, quay hỏi xuống bếp:

- Xong chưa má sắp nhỏ?

- Anh mời chú Vân vào bàn lần đi!

Đẩu đắc ý cười khà khà rồi xề lưng cõng tôi:

- Nghe chưa bạn? Cho dù cả một "tiểu đoàn" chim đi nữa, chị Hai Đẩu nhà ta cũng bóp họng cái rẹt trong tích tắc.

Chị Hai háy anh:

- Thôi mà, chim thì nói là đàn, bày đặt tiểu đoàn, sư đoàn có ngày rắc rối.

Quả thật, chị đem tới một đĩa thịt thơm phức. Thịt con nào con nấy úc núc như hột mít, tươm mỡ vàng, rất bắt mồi. Anh Đẩu lấy chén đũa, rồi rót rượu ra hai lỵ

- Mời Thy Vân!

- Mời ai nữa cho vui chứ? Nhậu mà thiếu tay cũng buồn.

Đẩu vừa lắc đầu vừa nâng ly rượu lên, tỏ ý mời tôi cụng:

- Ai đâu. Chỉ có một thằng Thượng hợp gu. Thằng rất tốt, chuyện gì nặng nhọc anh kêu nó. Còn nhậu, nó thuộc loại hũ chìm, uống chết bỏ. Nhưng bậy một cái gắp mồi không dùng đũa, nó cứ lấy tay bươi bốc. Thôi, để dịp khác.

Tôi nhìn vợ anh Đẩu loay hoay nơi bếp:

- Ngon quá, chị Hai! Chị bày tôi cách nhổ lông chim cho mau, chứ mấy trăm con nhỏ xíu vậy, ngồi vặt từng sợi lông, móc từng đùm ruột, bao giờ xong?

Chị cười, nụ cười hiền thục của người thiếu phụ Long An:

- Chú Vân không biết thiệt sao?

- Thiệt! Đến mùa gặt lúa mới có dịp ăn nó. Ăn thì nhiều lần, nhưng chưa thấy cách làm...

- Dễ! Khi mua, dĩ nhiên chim sống còn bay được, họ nhốt hàng trăm con vào bao cát. Để nguyên vậy nhúng nước lạnh ướt sơ, rồi tưới nước sôi lên chung quanh phía ngoài vài lần. Hơi nóng làm lông bị tuột gốc, sẵn sàng rụng. Xong, lấy tay vò cái bao, động tác giống như mình giặt khăn, không những lông trụi lủi, phân cũng xịt ra hết, khỏi moi ruột. Chim áo đà chỉ ăn lúa, ruột ngắn, ít phân, như cá cơm hay tôm. Sau cùng, rửa sạch.

Khi bẫy loại chim này, mấy người thợ đem theo nhiều bao cát hay giỏ dày để chứa. Nếu đánh trúng thì cả ngàn con.

- Chắc họ đánh bằng lưới?

- Ừ, giăng lưới, họ dùng mấy cây sào tre chống lưới căng lên ngay vạt ruộng vừa thu hoạch. Nếu cần, rải thêm lúa chỗ bẫy để nhử, chim mau tụ lại.

Nghe kể thích thú, tôi hỏi đùa:

- Họ đánh chim như vậy, còn chị bẫy anh Đẩu cách nào?

- Ảnh bẫy tôi thì có!

Quay sang Đẩu, tôi cười khật khật:

- Anh chỉ tôi vài chiêu đi.

Miệng Đẩu nhóp nhép:

- Cứ lo hỏi, mày không nhậu gì hết. Nghe lời bả có ngày bán lúa giống. Lần đầu tiên tao đến nhà, bả liếc tao trước...

Chị Hai mủm mỉm:

- Ảnh tán gái giỏi lắm, chú Vân! Nhớ lúc mới quen nhau, ảnh dụ tôi: "Với hai bàn tay trắng anh sẽ tạo nên sự nghiệp". Câu nói ảnh mượn ý của thi sĩ Quách Tấn hay Huỳnh Tấn gì đó, Gs trường TH Võ Tánh Nha Trang đầu thập niên 60. Chú Vân biết không, sự nghiệp đâu chưa thấy, tôi chỉ thấy được vợ rồi là ảnh đi nhậu hoài.

Tôi có thêm một trận cười nữa. Chị vừa nói vừa dọn cơm lên bàn. Tôi ăn cầm hơi chứ bụng no cứng một đĩa thịt chim.

Xong bữa trưa, mặt trời đã ngả về hướng tây, và vì đường xa, tôi ngỏ ý kiếu từ.

Đẩu nói:

- Vân đem về chục ký gạo cho sắp nhỏ.

- Có lý ạ! Nó phù hợp lời tôi nói tụi bộ đội hôm nọ. Dưới 10 ký thôi, để các trạm kiểm soát khỏi tịch thụ

Anh Đẩu rút cái bao cát trên bồ lúa:

- Anh biết. Cái bao này cột túm miệng là đúng y chín ký, không thể tịch thu. Chúng ác lắm, phải bóp họng mới được. À, em gói lá chuối ít thịt chim đã ướp để Vân đem về chiên cho mấy đứa nhỏ ăn chiều...

Chị Hai mở tủ:

- Em đã soạn sẵn đây rồi. Chuối khô nữa.

Tôi cảm động:

- Anh chị chu đáo quá, cám ơn nhiều!

Đẩu mỉm cười:

- Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ này, anh chị còn mang ơn Vân, không bao giờ trả nổi...

- Chuyện gì mà anh nâng tôi lên hàng ân nhân dữ vậy?

- Vụ máy xay lúa. Năm ngoái, nếu Vân không "biến hóa" tài tình thì công an huyện Đức Trọng đã xơi tái cái giàn máy anh bán cho cậu Út.

Anh nhắc tôi mới nhớ sự việc. Đầu năm 1976, đột nhiên công an tới xét nhà, và niêm phong cái máy xay lúa của Út, vì không có giấy chủ quyền, do Đẩu bán lại. Hôm đó, tình cờ tôi ghé Út R'Chai chơi, thấy tên Cẩn, trung úy, đang ngồi lập biên bản, Út thì khúm núm đứng bên cạnh. Sẵn mang chứng sốt kinh niên, Út phát run lập cập, trông tội nghiệp.

Trung úy Cẩn nói:

- Các thứ máy móc lớn, loại sản xuất, không có giấy chủ quyền đăng ký, nhà nước phải quản lý.

Lợi dụng quen biết từ lúc nhà tôi bị mất cướp và xin Út cả chục ký gạo cho Cẩn, tôi xen vào, nói như thật, cốt để hắn ta nghe:

- Có giấy tờ đàng hoàng sao không? Út quên à? Hôm bán máy, anh Đẩu nói là chừng nào Út trả hết tiền ảnh mới giao giấy chủ quyền. Nếu Út bệnh không đi được để mai tôi vào Damer lấy giấy cho, chứ giờ tháo gỡ cái máy chở lên huyện, phải đập phá nền xi măng, rồi họ lại trả về, nó nặng cả tấn, chắc hư hết. Khách hàng Thượng sẽ làm reo nữa, vì hai thôn R'Chai và Jirong Tambor chỉ nhờ có cái máy xay lúa này.

Biết tôi bạo phổi nói bừa để cứu vãn tình thế, Út há mồm nhìn tôi, còn Cẩn công an thì tin rôm rốp:

- Vâng, anh Vân giúp Út chút, nếu không, kẹt lắm!

Chợt nhớ tới một câu tuyên truyền của chúng vẽ trên các vách tường ngoài phố, tôi khai thác:

- Cách mạng có nói rằng "Bắt cũng được, không bắt cũng được, thì nên tha". Anh Cẩn thấy rõ vấn đề, sao không thả

Cẩn đứng dậy:

- Biên bản sẽ sửa đúng, nếu mai anh đem giấy chủ quyền lên huyện đưa tôi xem.

Tôi phân bua:

- Đường vào Damer quá xa, xin anh cho trễ đôi ngày, và đích thân Út gặp anh.

- Ừ, anh Út!

Dứt lời, Cẩn cùng đồng bọn kéo nhau ra xe. Út vẫn chưa hoàn hồn, mặt bị xị:

- Anh hứa vậy, giờ sao? Anh Đẩu làm gì có biên lai?

- Sáng mai tụi mình đi Đà Lạt gấp, tới một người chuyên làm giấy giả. Khai sanh, hôn thú còn được, nhằm nhò gì cái biên lai, chủ quyền, chỉ trả đôi ba đồng tiền công là xong.

- Ông Cẩn có biết giấy dởm không?

- Mấy thằng mọi rú trong rừng ra, biết mốc gì! Còn Cẩn, chữ nghĩa lem nhem. Hắn đã thành thật kể hồi nhỏ hắn đang chăn trâu bị Việt Cộng bắt đi theo, nên dốt đến bây giờ. Vả lại, Cẩn cảm tình mình, nhờ Út cho gạo, không nhớ à? Hồi nãy ông Cẩn do dự, tỏ vẻ dễ dãi. Tôi biết tẩy quân này lắm! Chúng luôn hù dọa để ăn hối lộ, ông Cẩn cũng vậy thôi. Đôi khi mình cương lên thì  nó sợ. Tôi có nói Út nghe vụ cơ quan kiều lộ Đức Trọng đòi tịch thu chiếc Honda ba bánh của tôi ngày tái đăng ký, vì xe chỉ có số sườn, không có số máy. Tôi giải thích loại 72 phân khối, hồi xưa Mỹ du nhập, tôi mua lại để biến cải thêm một bánh nữa cho người cụt chân sử dụng. Họ không chịu. Tức quá, tôi nói thẳng với tên trưởng phòng, nguyên là kỹ sư công chánh Đà Lạt trước năm 1975 được lưu dụng: "Anh ở miền Nam phải rõ tình trạng các xe gắn máy hai bánh như loại 72 thế này không bán trên thị trường chứ! Muốn tịch thu cứ tịch thu, tôi lết về!". Nghe tôi hét, bọn cách mạng 30, trở cờ tiếp tay giặc, vội gật đầu chịu làm. Sau một tháng tôi đến công an huyện nhận thẻ chủ quyền xe, họ trao một mảnh giấy bằng bàn tay, có in thêm một hàng chữ đỏ to chính giữa rất mọi rợ: "Cấm bán và cho tặng". Út yên trí...

Quả thật, Út thoát nạn. Tờ giấy biên lai giả cũng cũ rích ra phết, thích hợp với thời gian, xuất xứ từ mẫu in của một cửa tiệm chuyên bán nông cụ tại Sài Gòn, mà chủ đã cao xa bay chạy đâu những ngày giặc vào tháng 4/1975.

Chuyện nhỏ, "ba cái lẻ tẻ", anh Đẩu cũng nhập tâm, nhớ ơn. Anh đưa tôi ra xe và cột chặt giỏ đồ ăn gồm bao gạo với gói thịt chim áo đà phía sau khung sắt. Tôi nổ máy dưới nắng chiều vàng hực. Trước mắt, tôi sẽ băng qua một đoạn đường dài quanh co, lốc chốc những gốc cây đen thui sau nhiều năm mà vẫn còn nguyên, như những bóng ma luôn luôn chập chờn rình rập...

CHƯƠNG MƯỜI BA

XUÂN DIỆU, NHÀ THƠ ĐỒNG TÌNH LUYẾN ÁI  

Sau mấy tháng giận nhau, vì trong gia đình có sự bất đồng chính kiến, sáng nay bà mẹ nuôi tôi nhắn tôi xuống. Chắc có chuyện cần. Vừa tới ngõ tôi thấy nơi sân trước, dượng Hồ Cũ, đời chồng sau của mẹ tôi, đang ôm hôn ríu rít một người đàn ông lạ mặt. Mẹ tôi thì đứng bên cạnh, như chờ đến lượt mình, miệng cười cười nói nói huyên thiên.

Để họ khỏi bận tâm, tôi chạy lủi chiếc xe Honda ba bánh vào đậu ở góc vườn, dưới bóng râm của giàn mướp, rồi ngồi nhìn vu vơ.

Vị khách kia là ai, liên hệ thế nào, mà cử chỉ ba người rất hồ hởi, bày đặt ôm nhau nâng nựng theo kiểu cách chủ nghĩa xã hội miền Bắc?

- Lâu quá, mình nhớ Diệu hết sức!

Nhân vật tên Diệu, tuổi trạc 60, dáng thấp, hơi mập, trắng trẻo, choàng tay lên vai dượng Cũ:

- Diệu cũng nhớ Cũ lắm! Ông bà được mấy cháu?

Dượng Cũ cười hì hì:

- Chỉ hai trai thôi. Sao biết nhà ở đây?

- Diệu từ Hà Nội vào công tác, vừa ghé thăm đồng chí Hồ Nghênh, Chủ tịch Ủy Ban Quân Quản Đà Nẵng, cũng để xin địa chỉ Cũ.

Mẹ tôi lấy miếng thuốc rê trong miệng ra và nhổ bãi nước trầu xuống gốc cây vạn thọ xong, bà quay nhìn vị khách:

- Mấy năm chiến tranh, tụi tôi nhiều lần tìm cách liên lạc ra Bắc hỏi thăm Diệu nhưng bọn địch trong này quá ác ôn...

Chợt nhớ tôi dưới giàn mướp, mẹ bỏ lửng câu nói xấu chế độ cũ miền Nam. Rồi cả ba dìu nhau vào nhà, khép kín cửa. Quả thật tôi là cái gai nhọn của gia đình. 

Nghe cách xưng hô Diệu Diệu, Cũ Cũ, tôi có cảm tưởng họ đang sống lại thời son trẻ. Buồn tình tôi trở về, nằm duỗi dài trên giường, suy nghĩ lung tung.

Tức quá, sáng sớm hôm sau dù sương mù còn dày đặc, tôi vội chạy đến dừng xe ngay trước cửa. Tôi cung kính cúi đầu chào ba người đang trò chuyện nơi bàn giữa, và lết vào kéo ghế ngồi kế vị khách tên Diệu.

Mẹ tôi cười đưa:

- Hôm qua bận rộn me quên giới thiệu, đây là cậu Diệu ở Hà Nội về thăm.

Sẵn bực mình lẫn thành kiến từ lâu với những tên tập kết theo giặc, nay hồi kết, tôi cố tình giọng nhừa nhựa:

- Có gì quan trọng đâu me!

Biết tôi nổi quạu, không chú tâm tới ông "cậu" ngoài Bắc về, mà ai cũng muốn tôi phải tay bắt mặt mừng, nên dượng Cũ nói:

- Thi sĩ Xuân Diệu đó Vân!...

Tôi giật mình. Cụm từ vỏn vẹn có bốn tiếng nghe rất xa xăm, thuở học trò còn mơ mộng, nay bỗng dưng như có thần lực thúc đẩy, tôi xoay qua vừa nở nụ cười vừa nắm chặt tay ông một cách tự nhiên:

- Hân hạnh được gặp cậu. Thì ra... cậu là Xuân Diệu, Ngô Xuân Diệu. Vậy mà mẹ cháu chẳng hề nhắc tới.

Nhà thơ có tên tuổi trong văn học vỗ vai tôi:

- Vân là gì của Cũ và chị Ba nhỉ?

Dượng Cũ đáp:

- Con riêng đời chồng trước của nhà Cũ...

Mẹ tôi xen vào:

- Để khi nào tôi kể rõ Diệu nghe, chuyện dài dòng lắm! Đại khái tôi với ba nó thôi nhau, sau ảnh chết, còn Vân lưu lạc hồi nhỏ. Đến năm 1970, hai mẹ con gặp lại tại Đà Nẵng, thì Vân đã là lính "ngụy" rồi. Cứng đầu lắm, không ai nói nó nghe.

Cứng đầu, tôi cứng đầu việc gì chứ? Bà nói tắt ngang làm Xuân Diệu chau mày. Câu chuyện mẹ vừa kể quá "đại khái", thoạt nghe như bản tóm lược từ một truyện tiểu thuyết ly kỳ. Chắc bà muốn lấy lòng người em theo Cộng Sản, mà em bà con ra sao tôi chẳng rõ. Mới mất nước một năm, mẹ đã tiêm nhiễm quá nhanh, bắt chước thiên hạ hay dùng tiếng "ngụy", ngụy quân, ngụy quyền, nhàm chán!

Xuân Diệu nãy giờ ngồi dựa ngửa, tay khoanh trước ngực, đưa mắt nhìn quanh căn phòng, và nghe mẹ nói tôi cứng đầu, tác giả tập thơ tình bất hủ "Gởi Hương Cho Gió", ấn nhẹ cặp kính trắng gọng vàng sát sống mũi rồi hỏi tôi bằng một giọng miền Trung nhài nhại tiếng Bắc:

- Vân sao cụt chân?

- Dạ, cháu là phế binh chế độ cũ...

- Quân hàm và lính gì?

Đã đoán trước sẽ có câu hỏi đó, thói quen của Cộng Sản, tôi đáp ngay:

- Trung úy Biệt Động Quân.

Xuân Diệu mủm mỉm:

- Biệt Động Quân, lính thế nào?

Tôi đang phân vân, chưa biết giải thích sao cho phải lẽ thì dượng Hồ Cũ, vốn dĩ ghét cay ghét đắng binh chủng này, vội cướp thời cơ, nói hớt, buộc miệng xen vào lãng xẹt:

- Loại lính đội mũ nâu, áo quần rằn ri, mang cái đầu cọp nhe răng, dữ lắm!

Xuân Diệu le lưỡi:

- Thế à, chỉ mang cái đầu, còn thân mình đâu?

Bị nhà thơ lãng mạn hỏi móc họng, tôi ác cảm xỏ lại:

- Cậu không biết à? Một giống cọp miền Nam chỉ thích xé nát đối thủ, không thèm ăn, nên chẳng cần bụng.

Tôi vừa dứt lời mọi người cười rồ lên. Chú em tên Hồ Trí, cùng mẹ khác cha, đang ngồi trên giường nơi góc nhà, cũng hả họng. Họ cười phả lấp, cốt để tôi bớt giận, nhưng sẵn trớn tôi phang tiếp:

- Nhiều khi cọp còn ba chân vẫn rượt chạy trối chết hàng trăm thằng. Dượng mẹ cháu biết mà!

Dượng Cũ ngoảnh mặt ra sân, nhìn ngọn núi bên thác Gu-ga. Chắc không ai hiểu ý tôi mượn câu chuyện Tiểu đoàn 42 Biệt Động, chỉ còn ba đại đội đánh tan một tiểu đoàn Cộng quân, khi phá vỡ ổ phục kích của chúng. Vì chiến thắng lừng lẫy đó, đơn vị được tặng biệt danh "Cọp Ba Chân" hay "Cọp Ba Đầu Rằn", mà về sau, kẻ thù nghe đến là khiếp đởm. Tôi muốn nhắc khéo thêm vụ tái chiếm Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, 1973. Dượng Cũ biết rõ. Liên đoàn 1 Biệt Động Quân chúng tôi đã đuổi chạy dài hai trung đoàn Cộng Sản Bắc Việt khỏi trận địa, bỏ lại hàng ngàn xác chết quanh bờ đầm Nước Mặn Sa Huỳnh...

Thấy tôi dễ nổi nóng khi bị nói xấc, Xuân Diệu nhẹ nhàng hỏi lảng sang vấn đề khác:

- Vân được mấy cháu nhỉ?

- Sáu đứa, cậu!

Xuân Diệu lắc đầu:

- Miền Nam sanh đẻ quá "tiêu chuẩn". Tương lai kế hoạch gia đình sẽ được áp dụng triệt để. Đó là chính sách hàng đầu của Đảng và nhà nước đem lại hạnh phúc cho nhân dân, như ở Hungary, Bulgaria... mà Diệu đã đi thăm.

Xuân Diệu nói về cai đẻ một cách say mê, không ngượng miệng. Mẹ tôi nhà dưới xách ấm nước lên vừa châm trà vừa hỏi Xuân Diệu:

- Diệu bây giờ công tác ở bộ nào?

- Bên kế hoạch gia đình.

Tôi vờ ngạc nhiên:

 - Thường thì đảng viên lâu năm được nắm chức vụ lớn, quan trọng. Cậu là một thi sĩ danh tiếng, theo Bác và Đảng từ đời nào tới giờ, sao lại làm bên ngành đó? Việc kế hoạch gia đình để giới phụ nữ họ lo chứ!

Bị tôi chê, ông khó chịu:

- Vân không biết. Đó cũng là một phần vụ quan trọng...

Xuân Diệu ngưng, đưa tách trà lên miệng hớp một ngụm xong, ông hạ giọng nói khe khẽ, như để mình tôi nghe:

- Cậu đi làm cách mạng, chứ không theo Cộng Sản. Tuổi Đảng đâu cậu giữ chức vụ lớn?

Tôi khẽ cười và nhủ thầm: "Vào đảng cướp đó cho đắc tội à?". Dượng Hồ Cũ nắm được ý người bạn cố tri, mặt dượng hơi nhăn, ra chiều suy nghĩ, một giây lâu mới hỏi:

- Sao vậy, Diệu?    

Nhà thơ lặng thinh, không một thoáng buồn.

Thật khó tin. Lý gì ông chối bỏ cái chủ nghĩa Marxist ông đã đeo đuổi phụng sự suốt 40 năm nay? Hay Xuân Diệu, thời trai trẻ, hẳn đã đem lòng nhiệt huyết tham gia các phong trào cách mạng dân tộc, thật sự bài phong đả thực, như bao nhà ái quốc khác. Nhưng vì mẻ lưới trí trá của Cộng Sản bủa xuống cuộc đời người thi sĩ tài hoa từ khi rời bỏ xứ mẹ Vạn Gò Bồi, Bình Định, theo cha về quê nội Thanh Hóa, 1937. Tôi không rõ thật hư thế nào, chứ nơi đây có gì đáng ngại ông phải phủ nhận quá trình hoạt động suốt thời gian ông ngoài Bắc, đang lúc biết bao tay mơ, gió chiều nào xoay chiều đó.

Qua những lời tâm sự của Xuân Diệu tôi đổi hẳn thái độ, không những hết thành kiến, còn kính mến, thông cảm ông một thời sống dưới chế độ hà khắc, bất nhân. Tôi tiếp tục gợi lòng trắc ẩn nơi ông:

- Thường thì ai cũng muốn người thân có chức phận. Tài thơ cậu đâu thua kém Tố Hữu?...

- Tài là một việc, tư tưởng trong các tác phẩm mới đáng kể. Khác với Tố Hữu, thi ca chẳng giúp cậu có địa vị, vì cậu không chịu được gò bó. Người ta cho cậu là thi sĩ lãng mạn. Nếu thật, thì càng không thể đóng khung cậu ở bất cứ lãnh vực nào.

Thấy ông cởi mở tôi lạm bàn qua thơ:

- Một nhà thơ lớn từ tiền chiến như cậu, tới nay, chắc còn mãi mãi, được rất nhiều giới độc giả say mê những thi phẩm ngày xưa của cậu. Thế suốt thời gian ngoài Bắc, cậu Diệu có viết bài nào thuộc sở trường trữ tình nữa không?

Ông tháo đôi kiếng xuống, vừa lấy vạt áo lau bụi vừa đáp:

- Thỉnh thoảng thôi. Nếu giữ mãi cái "sở trường" như Vân nói thì tai hại lắm. Năm 1961, cậu làm bài "Biển". Một lần đi bình bài thơ này, cậu được đãi ăn bữa cháo gà. Chiều cậu sẽ chép tặng Thy Vân.

Tôi lắc đầu:

- Sao buồn vậy cậu? Mười lăm năm chỉ làm được một bài thơ tình!

Mặt trời đã lên cao, chắc đói bụng nên Xuân Diệu muốn nhắc khéo cơm nước chăng? Hay ông thèm một bữa thịt gà thơm phức khi thấy một bầy gà trống lẫn mái ú nú đang nhởn nhơ rỉa cỏ ngoài sân? Sau 20 năm chia đôi đất nước, lần đầu tiên, từ nơi xơ xác về nhìn lại miền Nam trù phú, Xuân Diệu tuy không nói ra chứ trong lòng ngây ngất. Lúc sáng, mẹ tôi làm cho Xuân Diệu một tô mì cua, ông xuýt xoa bảo để dành trưa ăn với cơm. Là thi nhân, tâm tình có khác, đậm đà, chan chứa, nó cũng nhạy cảm làm sao! Hẳn Xuân Diệu đã rõ cuộc chiến vừa qua, ai giải phóng ai? Buồn ơi là buồn!

Vì sao bài thơ "Biển" Xuân Diệu được đãi ăn cháo gà để ông nhớ mãi? Tất cả văn nghệ sĩ ngoài Bắc đều học tập, sáng tác phải theo giáo điều là ca ngợi Đảng, khích động toàn dân hận thù "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào", đánh tới độ ai cũng chán ngấy. Bài "Biển" chắc mang một sắc thái mới, mới trong cái cũ của Xuân Diệu, vẫn thứ tình yêu lãng mạn, như giữa thập niên 30, nên được bữa cháo gà, một tiểu gia súc rẻ rề trong Nam, nhưng quí như con bò ngoài Bắc.

Dượng Cũ bảo mẹ tôi đi chợ Phú Hội gần đó để mua thức ăn. Trước khi ra khỏi nhà, mẹ nhắc Xuân Diệu:

- Hôm qua Diệu nói muốn xem thác Gu-ga. Kìa, Vân đưa Diệu đi. Thác gần đây, rồi về ăn cơm trưa.

Xuân Diệu cười:

- Diệu vào Nam chỉ mục đích thăm gia đình và Gu-ga.

Bà quay qua tôi:

- Con lấy Honda ba bánh chở cậu. Coi cẩn thận!

Tôi ra trước nhà. Xuân Diệu bước theo, đứng ngắm nghía chiếc Honda Sport, 72 phân khối, thấp nhỏ, màu xanh nước biển bóng láng. Xe được biến cải ba bánh, cỡ niền Spring, có thể chở thêm hai người nặng tổng cộng 200 ký lô, và chạy 60 cây số một giờ. Do đó, dù cụt hai chân tôi vẫn bay vùn vụt, tỉnh này sang tỉnh nọ, từng phóng lên đèo Hải Vân ra Huế, từ Đà Lạt đổ dốc theo Quốc lộ 20 vào Sài Gòn, và ngược lại. Con "Rồng" của tôi cũng bao phen chọc tức tụi bộ đội ngồi chồm hổm bên đường, nó thổi tung bụi bặm lẫn khói đen mù mịt, chúng gầm gừ: "Mẹ, bọn ngụy lắm kiểu xe!".

Xuân Diệu dán mắt vào chiếc Honda đang rực rỡ:

- Chở cậu được chứ nhỉ?

- Dư sức qua cầu. Nhờ con "Rồng" xanh vĩ đại này, cháu hiên ngang đi khắp nơi...

- Chớ nói "vĩ đại", hai chữ này đặc biệt chỉ được kèm sau tên Bác!

- Vậy sao, chỉ đi kèm theo tên Hồ Chí Minh?

Xuân Diệu rống to:

- Hai chữ nằm kế sau tên Bác! Nghe chưa? Không có nói trổng trổng Hồ Chí Minh. Coi chừng người ta ghép tội...

Tôi vờ nhún vai:

- Khó ghê nhỉ?

- Khó thì phải tập! Tập ăn, tập nói cho thích hợp với chủ trương, đường lối...

- OK, cậu ngồi "kèm" sau đây, hai chân bỏ một bên, lên vị trí này, tay nắm chặt khung sắt dựa lưng...

Tôi chỉ các chỗ cần thiết. Xuân Diệu se sẽ ngồi xuống như sợ chiếc xe nó cắn.

- Vân rành đường đến Gu-ga không?

- Cháu là ông Thổ Địa. Thác nằm phía trước nhà cháu.

Xong, tôi nổ máy. Ra khỏi ngõ tôi tà tà chạy trên Quốc lộ 20 cũ, đầy ổ gà. Nhiều người với mặt tư lự lũ lượt đi ngược chiều về hướng trụ sở xã Phú Hội. Hôm nay, nếu không có ông "cậu", chắc tôi cũng đến hội trường nghe cán bộ huyện nói việc thành lập "hợp tác xã lao động". Tôi đã dự một buổi họp khởi đầu. Rồi đây chúng sẽ sung công đất đai, trâu bò, cả máy móc sản xuất của tư nhân, và bắt dân làm ăn tập thể. Cứ mỗi buổi sáng một hồi kiểng thúc mọi người vác cuốc ra đồng, chiều một hồi kiểng tả tơi quay về, áp dụng giống các vùng "kinh tế mới". Mặt ai nấy xanh dờn...

- Sao im lặng thế?

Xuân Diệu hỏi, tôi giật mình:

- À, cháu đang nghĩ thiên hạ sắp thành lập hợp tác xã lao động. Nghe đâu Đảng sẽ tái diễn vụ "Cải Cách Ruộng Đất" rất ác liệt như ở ngoài Bắc những năm 1953-1956. Lần này, không những tiếp tục triệt hạ địa chủ, họ còn bóp họng luôn giới "tư sản mại bản". Nghĩa là làm cho dân chúng miền Nam phải tàn mạt mới thôi. Một bộ đội Sư 304 kể, ông nội chú bị giết vì tội nhà hơi khá, chứ của cải không bao nhiêu. Phải chi ruộng vườn cò bay thẳng cánh cho đành. Đó là vật chất, tinh thần cũng sẽ tắt tiếng. Bằng cớ sách báo quý giá thời chế độ trước họ đã tịch thu hết. Rồi cũng sẽ đến "Trăm hoa héo tàn" cho giới văn học như sự cố Nhân Văn Giai Phẩm 1956-57 đó, cậu Diệu! Ông dượng Cũ có đưa cháu một đống sách, quyển nào quyển nấy dày cộm, viết về Karl Marx, Lénine, Engel và có cả sách ca ngợi ông Bác nữa... Đọc chết luôn!

Xuân Diệu đập vai tôi:

- "Ông" Bác nào?

- Bác Hồ!

- Tầm bậy! Bác là Bác, chứ "ông" gì trong đó? Chị Ba nói đúng: Vân ngang bướng thật!...

Tôi lắc đầu:

- Không biết hoàn cảnh tàn phế như cháu sẽ ra sao. Chắc đói. Hoan hô chủ nghĩa xã hội, cậu Diệu hả?

- Đừng có hoan hô tầm bậy giữa đường họ cười và đề cập đến mấy chuyện cấm kỵ đó!

- Cấm cái gì, cậu?

- Vụ "Cải Cách Ruộng Đất" và "Nhân Văn Giai Phẩm" (8). 

Quở xong, ông hạ giọng tâm sự:

- Vân biết không, 40 năm trước thân sinh cậu kể ông có đi thăm Gu-ga, cậu ao ước lắm...

- Sao mấy lúc cậu không thăm?

- Ở ngoài Bắc làm sao đi, hỏi ngớ ngẩn?

Tôi cười hì hì:

- Kìa, cậu nhìn bên trái, dòng sông thơ mộng khởi nguồn từ một hồ nước thiên nhiên mênh mông, cao lừng trời tại Đa Nhim, quận Đơn Dương, phía đông thành phố Đà Lạt. Trước khi chảy nhập vào sông Đồng Nai, nó băng qua Liên Khương tạo thành thác Liên Khàng, không mấy hùng vĩ, nhưng khi tới ngang đây thì đổ quặp xuống một trũng sâu, dốc đứng là Gu-ga. Cậu nghe không? Tiếng thác đang ì ầm với bụi nước tung cao như màn sương trước mặt. Cậu Diệu sẽ tha hồ ngắm và làm thơ.

Ông cậu thi sĩ cười khật khật:

- Bảo làm thơ mà Vân tả cảnh dùng chữ "quặp", làm mất hứng. Sao không nói "trúc" hoặc "trút" có hay hơn không?

Tôi cười:

- Hay lắm! Lát nữa cậu "trút", nghen!

Tới ngã ba tôi rẽ trái, theo con đường đất đỏ ngoằn ngoèo vào đậu xe gần bờ dốc cuối mỏm. Xuân Diệu đi nhón người đến nhìn cây nước khổng lồ như điên cuồng nhào lộn xuống vực sâu, xoáy tròn, trắng xóa...

Ông reo lên:

- Đẹp quá, Vân ơi! Coi chừng, đừng lết ra nữa, đất sụp!

Tôi ôm chặt một gốc cây bên mép đồi:

- Cậu Diệu tới chỗ tảng đá to kìa, xem rõ hơn!

Tuy phong cảnh tuyệt vời, đẹp nhất Lâm Đồng, nhưng dân địa phương quen gọi Gu-ga là "ổ gà". Lời nói trại này ẩn ý không tốt. Trước 1975, nơi đây xảy ra nhiều án mạng rùng rợn. Các cặp trai gái đến làm tình xong, có mấy nàng bị đạp xuống thác, hoặc tự tử. Mới tháng trước, một anh bộ đội một đơn vị của Sư 304 Cộng Sản Bắc Việt, đóng ở Đại Ninh, siết cổ một thiếu nữ miền Nam ném vào kẹt đá. Một chú Thượng R'Chai ngồi câu cá cũng bị bắn vì nghi Fulro. Đa số chết bất đắc kỳ tử, nên các am miếu thờ trong khu vực Gu-ga này rất linh thiêng...

Tôi chưa dám kể mấy chuyện thuộc cõi trên như vậy cho người thi sĩ dư tim mà thiếu gan này nghe, chờ ông làm xong bài thơ.

Xuân Diệu nhìn say mê bức tường nước mãi gầm gừ vang động một góc núi. Chiếc áo trắng ông mặc nổi bật giữa rừng xanh. Tôi chưa thấy Nhà thơ cầm bút. Ông đứng ngắm hoài, thế đứng kỳ lạ, như anh lính bị phạt phơi nắng, đôi bàn tay đan nhau để sau gáy, hai cánh tay thì cung ra thành hình tam giác. Thỉnh thoảng mắt ông nheo lại, đầu gật gật, như đắc ý một điều gì.

Trời nắng kinh khủng, cái sọ muốn nứt, tôi định thúc giục thì đúng lúc ông lấy giấy bút hí hoáy viết. Bây giờ ông mới bắt đầu sáng tác.

- Chiều cao cây nước bao nhiêu thước, Vân?

- Chà, có đo đâu mà biết?

- Thì ước khoảng thôi!

- Khoảng trên dưới 30 mét!

Trả lời xong tôi nhủ thầm: "Làm thơ chứ đâu phải làm thợ mộc mà hỏi thước tấc nhỉ?".

 - Xong rồi, về!

- Lẹ vậy cậu?

Xuân Diệu im lặng, vừa quay lui vừa liếc nhìn cái am thờ cô gái bị siết cổ chết, nhang khói lạnh tanh, bên mé đồi.

Thấy mặt trời chưa đứng bóng, tôi chạy ngược lên hướng xóm Thượng Jirong Tambor, vòng qua đoạn Quốc lộ 20 mới, gần thôn Lam Sơn người Nùng, để Xuân Diệu xem rừng bắp xa tắp chân trời phía tây. Xuân Diệu bảo dừng xe. Lần này ông ghi ghi chép chép rất nhanh vào quyển sổ.

Cơm trưa xong, nhân lúc gia đình đầy đủ, ngồi trò chuyện quanh bàn nước, Xuân Diệu nói:

- Mời Cũ, chị Ba, các cháu Vân, Tâm, Trí nghe Diệu đọc hai bài thơ.  Trước hết, bài BẮP: 

Ba cây số chiều ngang hương bắp

Hương đồng pha hăng hắc hương rừng

Phấn bắp tỏa ngạt ngào sức lực

Cờ bắp lay ngọn gió trong thung

Vừa tới cao nguyên rạo rực lòng

Lại say hoa bắp nắng vàng ong

Một mùa bắp mới xưa chưa thấy

Làm má non sông cũng ửng hồng.

Xuân Diệu

Phú Hội 13/06/1976 

Đọc xong, tác giả cùng mọi người đều im lặng, chẳng ai ý kiến, khen hay chê. Tôi cũng vậy, dù cảm thấy mình như vừa bị cú sốc. Thưởng thức thơ của thi sĩ tài danh mà tưởng đâu tôi nghe một bài phóng sự chiến trường. Tôi muốn hỏi vì sao thơ ông "xuống cấp" dữ vậy. Ý thơ không do sự rung động của con tim, chỉ là tiếng cào cuộn từ bao tử đói phát ra thành lời. Câu đầu của bài, ông phang ngang, câu 3 khập khễnh...

Xuân Diệu vừa thầm thì bên tai dượng Cũ điều gì, vừa lật qua lật lại mấy trang giấy chằng chịt chữ, rồi ông đằng hắng:

- Để Diệu đọc bài THÁC GU-GA:

Đổ ào ào đổ Gu-ga

Sông Đa Nhim đến đây òa thành bông

Thành tơ trắng xóa một vùng

Bạc tuôn đổ xuống vô cùng thời gian

Cao ba chục thước nước tràn

Ào ào binh mã nghe vang tháng ngày

Cây xanh, thác trắng, xinh thay

Chạy trời trên suối đổ mây sau rừng

Thác Gu-ga đó, tiếng lừng

Trong ta bừng giậy khí hùng thiên nhiên.

Xuân Diệu

Gu-ga 13/06/1976

Lần này dượng Cũ mới trầm trồ:

- Hay! Dữ dội!

Nghe người bạn tri kỷ khen, Xuân Diệu cười múm mím, đặt quyển sổ xuống bàn và đưa tách trà lên miệng.

Quả thật, Thi sĩ Xuân Diệu đã tỉnh ngộ, sau hơn 30 năm sống dưới chế độ gian trá Cộng Sản. Liếc thấy chữ "giậy" ở câu chót, tôi hỏi:

- Hình như cậu Diệu viết lộn "dậy" thành "giậy"?

Mẹ tôi càu nhàu:

- Mày dám sửa thơ cậu mày?

- Chứ "giậy" nghĩa là gì? Thôi, tiện đây, cậu chép cho bài "Biển" kẻo quên.

Xuân Diệu cúi mở cái cặp dưới chân rút ra tờ giấy:

- Đã có sẵn.

Tôi đưa hai tay đón nhận bài thơ. Tuồng chữ không nắn nót mà rất đẹp, trên góc trái có ghi một hàng chữ bằng mực xanh: "Chép tặng cháu Trần Thy Vân". Tôi hãnh diện. Lần đầu tiên được đề tặng thơ với thủ bút của thi hào. Tự nhiên, tôi ân hận vì chê chữ "giậy" vô nghĩa, và âm điệu bài "Bắp" như tiếng bắp rang, tiếng xe bò lộc cộc trên đường lởm chởm đá. Tôi đọc thầm bài thơ Xuân Diệu tặng:

BIỂN

Chép tặng cháu Trần Thy Vân

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng

Bờ cát dài phẳng lặng

Soi ánh nắng pha lê.

Bờ đẹp đẽ cát vàng

Thoai thoải hàng thông đứng

Như lặng lẽ mơ màng

Suốt ngàn năm bên sóng. 

Anh xin làm sóng biếc

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ thật êm

Hôn êm đềm mãi mãi.

 

Đã hôn rồi hôn lại

Cho đến mãi muôn đời

Đến tan cả đất trời

Anh mới thôi dào dạt.

Cũng có khi ào ạt

Như nghiến nát bờ em

Là lúc triều yêu mến

Ngập bến của ngày đêm.

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng cũng xin làm bể biếc

Để hát mãi bên gành

Một tình chung không hết.

Để những khi bọt tung trắng xóa

Và gió về bay tỏa nơi nơi

Như hôn mãi ngàn năm không thỏa

Bởi yêu bờ lắm lắm em ơi!

Xuân Diệu 1961

Tôi toát mồ hôi. Hèn chi ông được ăn cháo gà.

Thấy đã quá trưa, Dượng Cũ bảo Xuân Diệu:

- Diệu vào trong nghỉ chút, để chiều sang Ủy Ban Xã với Cũ thăm mấy ông bạn già từ thời kháng chiến chống Pháp.

Xuân Diệu đẩy ghế đứng dậy, hai chú em Tâm và Trí rủ nhau ra xe đi chơi, còn dượng Cũ thì tới ngồi cạnh mẹ tôi nơi giường gần đó.

Mẹ tôi lằm bằm:

- Ông lên nằm với Diệu như ngày nào đi. Đêm qua ông ngủ dưới này Diệu ghen tôi, không thấy sao? Ghen cả đời!

Dượng Cũ vừa gượng cười vừa ôm gối đứng lên. Nghe bà nói vậy với nét mặt hai người kém vui, tôi rất đỗi ngạc nhiên. Chắc có chuyện u ám gì đây, hay mẹ tôi xỉn? Trưa chiều nào bà cũng làm vài cốc rượu trước bữa ăn. Nhậu thì không bao nhiêu mà hay lèm nhèm, thỉnh thoảng bà mới say lúy túy rồi ngủ, chứ không nói sảng. Chẳng hiểu hôm nay mắc chứng gì, hay bà nói lóng, cũng chưa hẳn vì lóng kiểu đó để tôi nghĩ là cậu Diệu yêu bà, "Ông lên nằm với Diệu như ngày nào đi... Ông ngủ dưới này Diệu ghen tôi, không thấy sao?". Bà còn nhấn mạnh: "Ghen cả đời!". Rõ ràng một tràng lời bạch văn, không mã hóa, cũng chẳng sáo ngữ, ẩn dụ.

Tôi phải hỏi cho ra lẽ. Tôi gấp bài thơ "Biển" đút vào túi, rồi lăn xe tới cạnh giường:

- Me ngủ chưa?

Bà hé mắt:

- Chưa.

- Hồi nãy me nói gì ghen với tuông vậy?

- À... chuyện Xuân Diệu ghen tao với dượng mày...

Tôi sửng sốt:

- Me đã bảo cậu Diệu là em me mà!

Bà trợn mắt:

- Mày nghe lầm! Xuân Diệu yêu dượng mày, không phải yêu tao...

- Yêu dượng thì có sao, bạn bè...

- Mày không biết đâu! Hai ông kỳ cục lắm, lấy nhau như vợ chồng. Hồi xưa, khi bắt đầu quen dượng Hồ Cũ mày, Diệu đã ghen tao rồi.

Mẹ tôi nói toạc ra, tôi muốn độn thổ:

- Me làm như dượng với cậu đồng tính luyến ái...

- Chớ gì nữa? Chuyện này chỉ gia đình biết thôi.

Dượng Cũ nhà trên xuống, tỏ ý không vui:

- Mình nói cho Vân nghe làm chi?

- Nó lớn rồi...

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29

Quân Sử Việt Nam (Top)