Lịch Sử Của Việt Nam

Tiếng Hờn Chân Mây

quân sự việt nam, biệt động quân

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29

*Tác Phẩm TIẾNG HỜN CHÂN MÂY,  Ấn phí: 15 Mỹ Kim.
*Liên lạc để có sách với chữ ký của tác giả  qua Email: tranthyvan@yahoo.com hoặc điện thoại số: (714) 375-9547

TIẾNG HỜN CHÂN MÂY
Truyện dài In lần đầu:  7/2000
Tái bản lần thứ nhất: 11/2006

Bìa: Họa sĩ Hồ Thành Đức
Kỹ thuật & trình bày: Tác giả

Copyright  2000 by Tran Thy Van
TX 5-195-589
All Rights Reserved Printed in USA
     
THƯ TƯ - NGÂN PHIẾU - XIN ĐỀ:

TRẦN THY VÂN
P.O.BOX 2085
WESTMINSTER, CALIFORNIA 92648 - USA

LỜI NÓI ĐẦU 

Tiếp theo truyện dài Anh Hùng Bạt Mạng, in 1996, rất thu hút người đọc, đã tái bản nhiều lần trong thập niên qua; Tiếng Hờn Chân Mây cũng được viết lại từ hồi ký của tác giả về thời chinh chiến Việt Nam. Để sáng tỏ một phần sử liệu, kỳ tái bản này, THCM có thêm ghi chú, tiêu biểu một số báo chí, các nhà văn phê bình tác phẩm, ở cuối sách. Bối cảnh, sự kiện, và các nhân vật trong truyện đều có thật. Sự trùng tên chỉ là ngẫu nhiên với người ngoại cuộc. Tác giả.

Thương tặng HN Lê Hoa
Giữa lúc đất nước khởi đầu đen tối nhất
em về làm vợ người lính bại trận Trần Thy Vân.

CHƯƠNG MƯỜI

TRẬN CHIẾN CỰC BẮC TCHÉPONE LầO

...

- Kể gì đám hậu cần, tu bổ đường sá... đấy!

Tôi cười:

- Lính tôi đụng rồi, họ đánh như điên!    

- Thế Dù và lính thủy đánh bộ ở mặt nào?

- Mấy ngày đầu, vì phụ tá ban ba, tức ban hành quân, tôi thấy đại khái trên bản đồ của Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn 21, các binh chủng chủ lực khác cũng do máy bay Hoa Kỳ đổ hướng nam Biệt Động Quân. Lấy quốc lộ 9 làm chuẩn cho dễ hiểu. Con đường này từ Đông Hà đâm ngang Cà Lu xuyên qua đèo Lao Bảo nơi biên giới, rồi thẳng vào tây, đến trung tâm quận Tchépone, tỉnh Savannakhet.

Như tôi nói lúc nãy, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân chúng tôi bị tống sang Lào trước hết, nhằm mục đích thử nghiệm để xem lực lượng các anh ở mức nào. Hồi đó có tin đồn rằng kế hoạch cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã lộ. Chắc do vậy mà mãi đến hai ngày sau các binh chủng bạn mới được tung vào mặt trận. Một cách tổng quát thì:

Cặp theo con lộ 9, phần đất Lào, nhiệm vụ của Sư đoàn 1 Bộ Binh, có Lữ đoàn 1 Thiết Kỵ yểm trợ, nỗ lực chính tiến đánh Tchépone. Bên hông phải, tức hướng bắc của Bộ Binh là Lữ đoàn 3 Dù, gồm pháo binh cơ hữu, thêm một pháo đội 155ly của Tiểu đoàn 44 Pháo Binh tăng cường, lập hai căn cứ hỏa lực 30, 31. Phía cực bắc do hai Tiểu đoàn 21 và 39 Biệt Động án ngữ, chặn Cộng quân tiếp viện theo đường mòn Hồ Chí Minh tiến vào. Ngoài ra, có một Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến là thành phần trừ bị, nằm đói meo râu ở mạn nam đèo Lao Bảo. 

Tất cả dưới sự chỉ huy của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân đoàn I đặt tại Khe Sanh...

Bộ đội Hồng nãy giờ ngồi im lặng bỗng nổi lên cười:

- Anh Vân vừa nói bọn lính thủy đánh bộ "đói meo râu". Hết thức ăn à?

Nghe thằng ngáo hỏi, tôi bật cười:

- Ừ, tụi Cọp Biển ghê lắm, Hồng! Thường thường tụi nó đi tìm mồi để vồ. Cuộc hành quân Lào bị bắt nằm yên một chỗ, chờ xong chuyện rồi mới vọt qua biên giới nên chả đớp được các anh một mống nào, không đói meo sao được?

Cả bọn trố mắt nhìn tôi. Tuất xen vô: 

- Tôi thắc mắc một điều, việc gì cũng do Mỹ quyết định, còn ông Thiệu?...

Gặp dịp Bình lại xen vô nói móc:

- Chúng ta thừa hiểu Mỹ điều khiển toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược, lấy Việt Nam làm lò sát sinh. Thiệu bù nhìn, tay sai thôi!

Nói xong, anh chàng ngả lưng lên đống gối mền trên đầu tấm phản, miệng phì phà điếu thuốc. Tính hắn thích câu mâu mà tốt, tuy nhiên tôi vẫn không ngại quạt nhẹ:

- Còn ngoài Bắc, nào Liên Sô, Trung Quốc thì sao? Nước chậm tiến nào không bị ảnh hưởng ngoại bang?

Bình bật ngồi dậy, nêu dẫn một vấn đề:

- Anh Vân không biết đấy, Hà Nội đã xảy ra chuyện một cán bộ Trung Quốc bị bắn chết toi, chỉ vì nó ném cái nón cối có gắn quốc huy Quân Đội Nhân Dân Việt Nam của một anh bộ đội xuống đất lúc cãi nhau. Phải biết tự ái dân tộc, không để ai xúc phạm đến danh dự tổ quốc...

Dứt lời, Bình lại nằm xuống với thái độ bực tức. Trung úy Đường tỏ ra không hài lòng người lính của ông:

- Bình chuyển sang vấn đề khác rồi! Hãy tập trung nghe chuyện Lào.

Tôi thản nhiên tiếp tục:

- Ngày đầu tiên, tuy cô quạnh, vị trí đóng quân của chúng tôi vẫn còn yên tĩnh, chẳng có gì để gọi là chiến trường đẫm máu. Như thường lệ, lính tráng chỉ lo đào hầm hố cá nhân rất kỹ và một giao thông hào sâu ngang bụng, chạy vòng quanh bờ tuyến. Bên ngoài, gài chằng chịt các loại mìn Claymore, soi sáng, lựu đạn... và đặt nhiều tiền đồn, cũng như chấm sẵn các điểm quấy rối lẫn tiên liệu để khi cần yểm trợ, pháo binh bắn chính xác, nhanh chóng. Xong, Tiểu đoàn tung ra xa vài trung đội đi lục soát dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh ngoằn ngoèo sát dưới chân đồi căn cứ, từ bên hướng đông bắc vòng qua phía tây nam.

Ngày thứ nhì, 9-2-1971, hệ thống phòng thủ tiếp tục được tu bổ, chỉ bồi đắp thêm những chỗ còn mong manh, nên anh em thư thả, kẻ đứng hút thuốc, người ngồi nhìn rừng núi âm u nơi xứ lạ, thì bỗng có hai trực thăng xuất hiện ở hướng đông, biên giới, sắp ngang qua trên đầu căn cứ Ranger South Biệt Động chúng tôi. Cả hai nối đuôi nhau có khuynh hướng như muốn bay thẳng vào tỉnh Savannakhet. Thấy lạ, tôi nói các sĩ quan bên cạnh: "Kìa, sao hai con chuồn chuồn bay khơi khơi vậy, không sợ phòng không bắn à?". Quả thật, đâu mấy phút chiếc trước nổ tung như xác pháo. Chúng tôi lại hồi hộp cho chiếc kế, mong nó vòng lui, nhưng không, nó cứ ung dung... rồi cùng chung số phận. Hai chiếc đều rơi xuống một triền núi cách căn cứ Tiểu đoàn 21 Biệt Động hai cây số, hướng tây (phương giác 5200). Sau nghe tin, trên một trong hai trực thăng có một thiếu úy Biệt Động. Vì có một sĩ quan mũ nâu trong tai nạn, nên tôi nghĩ họ cất cánh từ dưới Đông Hà hay Khe Sanh vào căn cứ Phú Lộc ở biên giới, rồi bay quá lố qua Lào. Hoặc Phú Lộc về hướng 3 giờ, phương đông, nhưng bay nhầm ngược chiều 180 độ hướng 9 giờ, sang tây. Lạ thật! Lẽ nào thằng trước đui, thằng sau cũng mù luôn!

Tôi không rõ bao nhiêu người chết trong hai "đóm lửa ma trơi" đó, chỉ một điều tôi biết chắc họ là những kẻ bị loại khỏi vòng chiến đầu tiên trên không phận Lào của Lam Sơn 719.

Mấy cái chết bí ẩn ấy không làm chúng tôi nao núng, chỉ một thoáng buồn man mác. Rồi anh em lại reo lên khi thấy phía đông nam bốn cây số đường chim bay, căn cứ hỏa lực 30 của Lữ đoàn 3 Dù xuất hiện trên một đồi trọc. Vị trí mỗi lúc một trơ màu đất đỏ dưới ánh mặt trời. Và từ đó, những phát súng đại bác 155ly khởi bắn vào hướng tây, yểm trợ thiết lập tiếp căn cứ 31, gần A Lưới. Biệt Động Quân bớt cô đơn giữa núi rừng ngoại biên.

Tôi đang nhìn khoảng không gian có vẻ yên tịnh thì Trung úy Đỗ văn Nai, Đại đội trưởng Đại đội 4, mời tôi qua căn lều Bộ Chỉ Huy anh nhậu. Nói đến món lưu linh tôi chẳng mấy thích, nhưng vì cả nể, tôi đã "dzô" thẳng thừng một lon, loại đựng trái cây thập cẩm ration Mỹ bằng hộp sữa bò, đầy nhóc Hennessy. Rượu vào tôi say mềm đã đành, trời đất Lào hôm ấy cũng chếnh choáng luôn. Người lẫn vật như đá núi cỏ cây bắt đầu thi nhau lộn tùng phèo trong cơn... pháo! Cộng quân rót, rót rất đầy...không phải Hennessy, Cognac Pháp, mà 75ly không giật với 130 ly như mưa, làm bật tung hết hầm hố. Ai chết nằm tại chỗ, khổ nhất những anh bị thương, kêu la chí chóe, y tá băng bó không kịp, lớp thì lo đào xới kéo lên hết người này tới kẻ khác dưới các căn hầm sập.

Trong lúc rối ren, sĩ quan truyền tin Tiểu đoàn lại nhận tin từ chiếc phi cơ quan sát L19 Hoa Kỳ gọi cho hay Việt Cộng đang di chuyển đến gần chúng tôi. Lính tráng vội ùa ra giao thông hào sẵn sàng chiến đấu. Riêng tôi thì được lệnh xuống giữ chức vụ Đại đội phó Đại đội 2/21, đơn vị cũ của tôi trước ngày tôi biệt phái nhảy viễn thám cho Sư đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ 1969-1970. Trái với nhiều người cầu an, ở một nơi mà quân đội gọi là "núp bóng từ bi", tôi lại mừng ra đại đội, dĩ nhiên gian nguy, trực tiếp cầm quân đấm đá, hơn làm cái công việc phụ tá ban 3 tù túng, và bên cạnh một ông tiểu đoàn trưởng Bắc kỳ khó tính, quan liêu Nguyễn Hiệp.

Đại đội 2 Biệt Động đang bao quanh mỏm đồi đông nam của căn cứ, thiếu sĩ quan trầm trọng, ngay cả đại đội trưởng, Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn cũng của Trần Quang Giảng còn mang lon thiếu úy từ bên Đại đội 3 qua nắm quyền xử lý, chứ cấp số quy định phải là trung úy.

Tuy tốt nghiệp sĩ quan trước một khóa và dù bạn bè đồng lứa, thường chơi ngang nhau hằng ngày, nhưng vì bị đặt dưới sự chỉ huy, tôi phải đứng nghiêm trong tích tắc giữa lửa đạn mịt mù, đưa tay chào trình diện Thiếu úy Trần Quang Giảng, Đại đội trưởng. Ngày ấy, tâm trạng mọi người lính đều phập phồng lo sợ cảnh "đem con bỏ chợ" và khiếm khuyết đủ thứ, nên khi thấy tôi đến đáo nhậm đúng lúc rất cần thiết tại mặt trận, Giảng mừng reo lên:

- Trung đội 3 mới báo cáo bắn chết ba tên thu 3 khẩu AK và đốt cháy một kho đạn phòng không 37ly tại cộc số DC16, đường mòn Hồ Chí Minh. Tao bảo tụi nó tiếp tục lục soát.

Đám nhỏ lốc chốc mà bạo gan của Tiểu đoàn 21 mũ nâu, cùng cấp bậc một bông mai vàng, tụi tôi vẫn hay xưng hô tao mày, trừ phi trước hàng quân, có lính tráng.

Thấy trời đã gần tối, Giảng vẫn chưa cho lệnh Trung đội 3 rút vô, tôi đề nghị:

- Soát gì nữa, bảo tụi nó về Giảng ơi! Mình nằm tít ngoài này, nguy hiểm lắm!

Tôi vừa dứt lời thì súng nổ vang dưới trũng ở hướng đông trước mặt. Người truyền tin kế bên mở lớn volume, speaker của máy PRC-25 phát ra các tiếng gọi dồn dập.

Giảng đứng dậy hét:

- Thiếu úy Vân điều động Trung đội 3 vào, để tôi xin Bộ Chỉ Huy kêu pháo binh.

Tôi bắt ống liên hợp, bên kia đầu máy người chỉ huy vừa nói vừa thở hổn hển:

- Gio Linh, Gio Linh đây Ba Mươi! (Gio Linh là danh hiệu của Trần Quang Giảng).

Tôi đáp:

- Nghe rồi, Ba Mươi kéo hết về ngay, nghe rõ không!

Máy bỗng im lặng. Chắc người đối thoại ở Trung đội 3 đã quên giọng nói của tôi, nên nghi ngờ tôi là địch lọt vô tần số. Ngoài chiến trường hay xảy ra vậy. Tôi nói nhỏ nhưng nhanh hơn đủ để hiểu:

- Thẩm quyền Vẻ Vang (Thiếu úy Vân) của 3/2 ngày xưa đây, nhớ chưa? Hiện là Đại Bàng phó. Lệnh Gio Linh bảo Ba Mươi rút về gấp!

Buộc lòng tôi phải nhắc nhở để họ nhớ tôi người chỉ huy cũ của Ba Mươi, tức Trung đội 3, hai năm trước. Bỗng Trung sĩ I Lê văn Châu, cựu học sinh Nguyễn Công Trứ Đà Nẵng, thi rớt tú tài I, buồn đời tình nguyện đi lính, vào quân trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang, vừa nhận ra tiếng tôi, anh rống lên:

- Trình thẩm quyền Vẻ Vang! Ba Mươi đang chạm súng, hai "dài hạn", và địch đang chặn đường...

Tôi giật mình:

- Anh em xuống ngay!

Tôi quay qua vị Đại đội trưởng:

- Trung đội 3 bị đánh, đã chết hai, cần tiếp cứu.

Thiếu úy Giảng vội trao ống liên hợp máy liên lạc Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn lại cho Huỳnh Sỹ truyền tin, rồi nói lớn:

- Thượng sĩ Nhơn cho "gia đình" vọt lẹ!

Th/sĩ Nguyễn Nhơn vội khoác tay, Trung đội 1 đang đứng dọc dưới giao thông hào phóng ra mỏm. Nhưng chưa gì súng đã nổ dữ dội, đạn từ đường mòn Hồ Chí Minh bắn thẳng lên. Qua cuộc điện đàm của Giảng, tôi nghe Nhơn báo cáo Trung đội của Th/sĩ Nhơn cũng bị một thành phần địch bám sát căn cứ chận đánh. Như vậy Cộng quân đang ở giữa Trung đội 3 ngoài xa và sát bên bờ tuyến Đại đội 2. Chưa hiểu lực lượng đối phương có đông không, nhưng biết chắc họ dựa chúng tôi để tránh bom đạn, chờ dịp tấn công. Đại đội 3 mặt bắc cho hay có tiếng sột soạt địch đào hầm. Trời sắp tối, mìn bẫy lại gài chằng chịt, không thể ra lục soát được. Tôi đề nghị trình Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn gấp Việt Cộng đang nằm sát bờ tuyến nhưng Giảng chẳng nói năng gì hết, cứ mãi lo điều động hai thằng con 1 và 3 tháo lui.

Rồi hai trung đội tả tơi về được căn cứ và chưa kịp nghỉ, cơn pháo lại tới nữa. Lần này khiếp hơn, vẫn là đại bác 130ly, nhất là 75ly đều trúng ngay giữa căn cứ, nướng đỏ khu đồi. Nhiều căn hầm thêm một phen sập bẹp. Dứt pháo, anh em phải đào lôi đồng đội lên, cứ thế, việc làm giống như người ta hốt cốt cải táng.

Nhưng địch chẳng để yên, bắt đầu tấn công. Dĩ nhiên Biệt Động Quân chống trả mãnh liệt, dưới vòm trời sáng rực hỏa châu do máy bay C47 của Mỹ thả liên tục, và hàng ngàn đạn cối 60ly, 81ly cơ hữu cùng đại bác 105ly Phú Lộc biên giới bắn qua, rải quanh sát phòng tuyến. Kẻ chết người bị thương đôi bên nằm ngổn ngang từ trong ra ngoài chiến hào. Đó là đêm ác liệt đầu tiên của Tiểu đoàn 21 Biệt Động...

Thấy tôi ngưng và thở dài, bộ đội Nguyễn văn Đường, Sư đoàn 304 BV, mỉm cười, nụ cười như chia sẻ nỗi gian nguy đời lính, cả những người xuất thân bên kia Bến Hải.

- Lần đầu ấy đơn vị anh chết và bị thương bao nhiêu?

- Tôi không nhớ chính xác, chung tiểu đoàn thì xấp xỉ 30 người. Sáng hôm sau, trực thăng Mỹ vào tiếp tế đạn dược, tải thương vẫn bị phòng không bắn xối xả, nổ như pháo bông, có chiếc bốc cháy ngay trên bầu trời, hay rơi tan tành ở bãi đáp. Việc cấp cứu ngày thêm khó khăn và chậm, mặc dù mỗi lần các trực thăng Huey vào vùng luôn luôn có các chiếc Cobra bay kèm theo bảo vệ.

 Tôi phải nói trong trận chiến Hạ Lào các phi công Mỹ lẫn Việt rất can đảm. Nhiều chuyến bay không bao giờ đáp, thật hào hùng. Chỉ tiếc sự liên lạc phối hợp giữa dưới đất với trên không, tức giữa đơn vị lâm chiến và máy bay, ít khi được trực tiếp điều khiển không yểm, mà phải nhờ giới chức thứ ba tại nội địa Việt Nam. Vì gọi xin yểm trợ qua trung gian nên quá trễ, tổn thất nhân mạng cao là vậy.

Lợi dụng lúc các phi vụ đang oanh kích, đại bác bắn quấy rối chung quanh, Biệt Động Quân tu bổ hệ thống phòng thủ. Họ hạ các cây lớn, gần bằng thân người, cưa từng khúc, dài một thước rưỡi để làm hầm chữ "A", phỏng theo kiểu của các anh du kích, rất vững chắc, chỉ chịu thua đầu đạn điều chỉnh "Delay", hay hỏa tiễn 122ly thôi.

Mặt khác, vì địch quân bám dưới chân đồi căn cứ, Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn có lần yêu cầu ném bom Napalm sát chung quanh, lửa liếm bờ tuyến làm mìn bẫy gài nổ hết. Xong, cho lính ra lục soát thấy nhiều xác chết và bắt được một cán binh bị phỏng nhẹ mình mẩy. Điều lạ, trong bình đông anh ta có dầm một loại thuốc, nước màu nâu. Gặng hỏi thì anh nói để uống khỏe. Ai cũng nghĩ đó là thứ kích thích, làm con người hăng máu, "thà chết chứ không hề lui". Phải không?...

Đám bộ đội ngồi cười. Trung úy Đường gục gặc cái đầu:

- Anh tếu lắm! Còn tiểu đoàn gì khi rút lui có người bám vào cái càng "máy bay lên thẳng" đấy?

Đường hỏi móc vụ một chú lính Tiểu đoàn 39 Biệt Động ôm dưới càng trực thăng. Chuyện có thật. Báo chí ngoại quốc khai thác bôi bẩn, còn đài phát thanh Hà Nội thì gọi là "biệt động bò". Cứ mỗi lần loan tin về chiến sự "Nam Lào" họ đều lặp lại cụm từ đó để mỉa mai người lính miền Nam.

Tôi trả lời:

- Đó là Tiểu đoàn 39 Biệt Động Quân. Lát nữa tôi sẽ nói vì sao. Bây giờ tôi kể sơ qua đơn vị mũ nâu này. Trong binh chủng, 39 là một tiểu đoàn luôn luôn gặp xui xẻo, đến nỗi cả Liên đoàn 1 đều biết. Xui nhiều cái không ngờ được. Riêng cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào, đúng ra nhiệm vụ của Tiểu đoàn 39 là bảo vệ Bộ Chỉ Huy Liên đoàn 1 Biệt Động Quân tại căn cứ Phú Lộc biên giới, không phải vào đất Lào. Nhưng khi lệnh xuống bảo đẩy Tiểu đoàn 37 Biệt Động tiếp sau 21 bọn tôi thì người chuyển lệnh lại lẩm cẩm tống nhầm Tiểu đoàn 39 lên trực thăng. Chuyện bốc lộn đó các giới chức giấu kín, để rồi ba ngày sau, đơn vị ấy chết lẫn bị thương và mất tích hết mấy trăm quân. Trước khi rút lui, Tiểu đoàn 39 Biệt Động đã dũng cảm chặn đứng bên ngoài nhiều đợt xung phong bằng biển người của một trung đoàn các anh suốt bốn ngày thư hùng, đẫm máu như sau:

Ngày 11/2/71, Tiểu đoàn 39 được đổ xuống một ngọn đồi cách Tiểu đoàn 21 BĐQ hai cây số đường chim bay, về phía đông bắc, trên một đoạn đường Hồ Chí Minh. Cũng chiếm cứ một vị thế hiểm độc, chặn nghẹt cái sinh lộ duy nhất địch từ Bắc vào cứu nguy vùng hậu cần quanh Tchépone sắp bị tiêu hủy, rõ ràng Biệt Động Quân 39 "đứng mũi chịu sào" nơi cứ điểm -Ranger North. Chắc chắn đối phương không để yên.

Lấy kinh nghiệm mấy ngày qua Ranger South chúng tôi bị pháo tả tơi, Ranger North thiết lập ngay hệ thống phòng thủ kiên cố hơn. Chưa đầy một buổi ngọn đồi thơ mộng, cây cao bóng mát, đã trụi lủi, lô nhô hầm hố quanh chiến hào.

Chúng tôi cảm thấy vui, nam bắc có bạn. Nhưng chỉ được vài hôm, ngày 14/2, một chiếc phi cơ quan sát L19 của Hoa Kỳ gọi xuống báo có một đoàn xe Molotova chở khoảng một trung đoàn Cộng quân từ hướng bắc đã gần tới các vị trí Biệt Động, lính cả hai căn cứ đều ra hết phòng tuyến chờ đợi.

Điều tôi lấy làm lạ, mục tiêu di động lộ liễu và khẩn cấp, mà chẳng ai gọi máy bay oanh kích. Rồi họ xuống xe và như cao bồi, tấn công ngay Tiểu đoàn 39, cùng lúc, mở một trận pháo cỡ lớn vào 21 đến nghẹt thở. Suốt đêm đó, hai nơi khác là căn cứ hỏa lực 30, 31 của Lữ đoàn 3 Dù ở hướng nam cũng rền vang tiếng súng. Địch đồng loạt đánh mạnh hết các vị trí quân miền Nam trên đất Lào, nặng và dai dẳng nhất là Tiểu đoàn 39, như đã nói, đó là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, Cộng quân cần phải thanh toán trước. Máy bay C-47 thả hỏa châu liên tục nhưng không thắp sáng vòm trời hơn lửa đạn của đôi bên. Pháo binh 105ly Tiểu đoàn 64 biên giới cùng 155ly của Pháo đội C/44 từ căn cứ 30 dành ưu tiên hỏa lực để cứu nguy Ranger North, cực bắc Tchépone, từng giây từng phút.

Vị trí của Ranger North gồm hai ngọn đồi, cái lớn, cao do Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn cùng ba đại đội trấn thủ, cái nhỏ hơn ở phía tây bắc thì chỉ một đại đội nằm giữ. Giữa hai điểm là thế đất yên ngựa, cách nhau khoảng trên một trăm thước.

Từ lúc mở màn tấn công, địch dồn nỗ lực cố đánh chiếm khu đồi nhỏ làm bàn đạp và có cái lợi cho họ nữa là đại bác của Tiểu đoàn 44 và 64 bị giới hạn, đạn đạo đi từ hướng đông nam phải vòng qua sát đầu Bộ Chỉ Huy 39 mới rơi xuống. Sự điều chỉnh tác xạ xa hay kéo gần đều rất nguy hiểm cho Biệt Động Quân.

Vì sự yểm trợ chặn địch tràn ngập không hữu hiệu và tổn thất nhân mạng đã nhiều, Trung úy Nguyễn văn Hòe Đại đội trưởng 4/39 BĐQ ngoài mỏm, được lệnh rút Đại đội nhập vào đồi lớn.

Hai bên giằng co nhau trên từng tấc đất. Qua máy PRC25, tôi nghe tiếng nói của Tiểu đoàn phó 39 gọi báo dồn dập lên Bộ Chỉ Huy Liên đoàn 1 Biệt Động Quân ở Phú Lộc con số thương vong ta và địch không thể kể xiết. Việt Cộng mỗi lúc một áp sát bờ tuyến, ông xin cứu nguy. Tôi không nghe rõ vị thẩm quyền bên kia đầu máy trả lời sao, chỉ thấy giữa đêm, ngoài hai căn cứ Phú Lộc và hỏa lực 30, không còn tiếng súng nơi nào yểm trợ nữa...

Kể tới đây tôi cảm thấy mệt, tâm trạng như đang sống lại trong bối cảnh trận Hạ Lào năm xưa. Trung úy Đường hỏi:

 - Sao không gọi máy bay?

- Máy bay thì có các loại phản lực, trực thăng chiến đấu, chỉ dùng ban ngày mới hữu hiệu, ban đêm chúng còn tệ hơn thằng mù. Vả lại, lúc ấy đôi bên quá kề cận, muốn xáp lá cà, ôm vật nhau. Tôi có nghe sau cuộc hành quân Lào các tướng lãnh Việt Mỹ trách nhau sự thiếu yểm trợ Ranger North và kế đó là các căn cứ 30, 31 của Dù, và Ranger South Biệt Động, thảy đều điêu tàn...

- Đúng như anh đã nhận xét, họ "đem con bỏ chợ", và tôi nghĩ, ngay từ lúc đó Mỹ đã muốn bỏ rơi miền Nam.

Tôi nuốt nước bọt:

- Có thể. Mãi đến 1973 cấp nhỏ chúng tôi mới hiểu không những mặt trận Hạ Lào, các cuộc chiến khác được diễn song song với chính trị theo ý xấu của tên Kissinger, Ngoại trưởng Mỹ, làm tiêu hao lực lượng chúng tôi chỉ vì cụm từ ngoa ngữ là "Việt Nam hóa chiến tranh" để Mỹ rút quân về nước trong danh dự. Tháng 4/1975 thì thế giới đã thấy rõ "danh dự" của Mỹ là không kịp cuốn cờ, đạp lên nhau mà chạy...

Trở lại vấn đề căn cứ 39 Biệt Động Quân. Qua hôm sau, cả đôi bên đều uể oải, toàn vùng Hạ Lào lại êm dịu, mức độ tấn công vào Ranger North có vẻ cầm hơi.

Tiểu đoàn 21 thấm thoát đã tới kỳ tiếp tế, trực thăng liên tục đổ lương thực, gồm ration C, đạn dược các loại. Đợt tiếp tế này, không những khá nhiều để dự trữ, còn có các gói quà cho ba ngày tết Tân Hợi dù muộn, vì mấy ngày đầu xuân ấy rực lên xương trắng máu đào. Những bức thư lẫn thiệp chúc mừng năm mới đầy màu sắc, với thức ăn, do thân nhân, bằng hữu gởi qua chưa kịp phân phát, đã tung bay như bươm bướm bởi trúng đạn pháo. Trước mắt tôi, trên bãi đáp Tiểu đoàn 21, những người chết, và các anh thương binh, đâu biết trong cái xơ xác rơi lả tả đó lại có những dòng chữ thâm tình thăm hỏi, tỏ nỗi lo âu của vợ con gởi mình.

Mặc dù vị trí bị pháo kích te tua, thực phẩm vẫn dư thừa, chỉ thiếu nước uống. Sát dưới chân đồi, mạn bắc, có một con suối duy nhất mà mỗi ngày mỗi khô dần vì bom đạn cày xới. Đã vậy, mấy ngày sau này sáng nào Việt Cộng các anh cũng tới "cắm dùi", giành uống một mình. Mỗi lần lính Biệt Động xuống lấy nước lại giống như đi uýnh giặc, phải cử một trung đội đầy đủ vũ khí mở đường và gặp địch hay không cũng bắn rạt hết. Có hôm chạm súng thật, phe tôi thua liểng xiểng, vội xách bình đông, ống đạn 106, rùa nhựa xẹp lép chạy lên, làm đơn vị khốn đốn. Tức mình, Tiểu đoàn trưởng cho cả một đại đội hạ sơn đánh thẳng thừng, đổi máu lấy nước...

Chuyện đi lấy nước tôi còn nhớ một vụ rất rùng rợn, như lần Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân lạc vào vùng phi quân sự, DMZ (Demilitarized Zone). Nơi đó gồm nhiều dải núi đá, có tên gọi là Khu Đinh. Các bình đông nước đều khô cạn. Tiểu đoàn cho dừng quân, tung lính đi lục lạo các thung lũng khe đồi, và khi vừa tìm được "nguồn sống" thì xảy ra "cuộc chiến nước uống". Trước lúc nổ súng hai bên còn hỏi han, đùa giỡn đã rồi mới bắn nhau, máu nhuộm đỏ một khúc suối.

Ai cũng biết đây là vùng phi quân sự, Hiệp Định Genève 1954 quy định hai miền Nam Bắc không được đưa quân vào. Nhưng vì trời quá nóng, như lửa hắt từ các vách đá trọc đen thui, nên khi gặp một con suối, bọn lính liền nhảy xuống tắm luôn. Bất ngờ, chẳng rõ từ đâu, một chú Cộng nhí lại sớn sác đến lặn hụp kế bên. Biệt Động Quân thấy lạ, liền thộp cổ:

- Mày là Việt Cộng, phải không?

Nghe ông Cọp Rừng hỏi một câu hết sức ngớ ngẩn, nó trả lời tỉnh bơ:

- Em ở Vĩnh Linh, bên kia Bến Hải, qua đây bẻ măng le, nóng quá em tắm!...

Giữa lúc ấy, Trung sĩ Ba, vừa tốt nghiệp Hạ sĩ quan Đồng Đế, về đơn vị này chưa đầy tháng, làm tài khôn quát to:

- Ở đây toàn là núi đá, măng đâu mà bẻ? Dìa nhà tắm!

Chú nhóc mặc cái quần xà lỏn ướt dầm, vội cắm đầu chạy mất dạng. Chắc Trung sĩ Ba tưởng là con sông ranh giới được dễ dàng qua lại mới bảo về nhà tắm. Nghe chuyện lạ, Thiếu úy Phước, Ấn Độ lai, kêu hết cả đám lính lên giũa:

- Đồ ngu, để sẩy mất tên Việt Cộng! Nếu nó không phải bộ đội Sư đoàn 324B thì là hà bá của con suối này thôi! Cái nữa, Bến Hải đâu đây, còn tuốt xa ngoài kia, cả chục cây số! Vậy mà cả đám tin lời thằng ma đó nói đi bẻ măng le. Nó bẻ họng tụi bay cho le lưỡi ếch thì có!...

Th/u Phước đang nói đến đó thì một tràng AK lẫn B40 từ mé đồi đối diện bắn xối xả xuống, làm đám Biệt Động Quân dưới suối bị thương mấy người...

Nghe tôi kể chuyện Biệt Động Quân "dư ăn thiếu uống", gian nan đi tìm nước, Việt Cộng lại "dư uống thiếu ăn", mấy chú bộ đội cười khật khật. Tôi chợt nghĩ, có thể vì "dư uống thiếu ăn" là một nguyên nhân tạo nên cuộc chiến hai miền. Một bên, người dân sống dưới mực nước sông Hồng, hồn treo trên đê; bên thì hả hê, những đồng ruộng lúa vàng bát ngát, cò bay thẳng cánh.

Nhưng trong câu chuyện "tìm nước" còn một vần đề khác cứ lẩn quẩn trong đầu, tôi không tiện bộc lộ.

Nhờ chuyến đi lạc đó, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân mới phát hiện một nghĩa địa "Sinh Bắc Tử Nam" vĩ đại giữa vùng phi quân sự, vùi chôn cả chục vạn bộ đội Cộng Sản Bắc Việt chết trên chiến trường miền Nam. Khu nghĩa địa chiếm một thung lũng rộng thênh thang, tràn lên tới các triền núi tứ bề. Dưới chân mỗi nấm mộ cắm một trụ cây cao một thước, trên đính một miếng tôn nhỏ có khắc tên, số quân, đơn vị, ngày tử trận của kẻ bạc mệnh bằng lỗ đinh. Khi Tiểu đoàn 21 Biệt Động băng qua, tôi tưởng như lạc xuống địa ngục. Dù ai chai đá cách mấy cũng cảm thấy bùi ngùi trước một rừng mồ mả nằm lặng yên, thiên thu nơi chốn thâm sơn cùng cốc.

Hàng trăm ngàn hài cốt chôn ở DMZ bao gồm số tử vong từ các trận đánh kinh hoàng Vùng 1, nào Khe Sanh, Tết Mậu Thân Huế 1968, Hạ Lào 1971, nào Quảng Trị 72... từng làm chấn động thế giới. Đặc biệt Cồn Thiên, 1967, tên Mỹ: "Hill of Angels", phía tây Gio Linh, nơi mà Tiểu đoàn 3/9 Sư đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ đã tử thủ trước sự tấn công của Cộng quân từ 11/9 đến 31/10/1967. Mặc dù đơn vị đồng minh này tơi tả, địch cũng bỏ lại trên 2000 xác tại chỗ. Với mức độ đẫm máu chung quanh ngọn đồi đã khiến tướng Westmoreland ví Cồn Thiên như một trận Điện Biên Phủ cỡ trung bình và hậu quả của nó đã làm chính trường Mỹ bắt đầu rối ren, chia rẽ, bên ủng hộ, bên chống đối, cả hai xuống đường biểu tình cấu xé lẫn nhau một thời. Các thương phế binh Gi thì bị những phần tử phản chiến hèn nhát, lợi dụng xuyên tạc rằng thanh niên Mỹ không thể chết cho một đất nước Việt Nam xa lạ. Họ cố khai thác các bức thư gởi về từ mặt trận, các cuộn băng thu lời ta thán thống khổ của những người lính viễn chinh, trong đó có con rể Tổng Thống Lyndon B. Johnson, làm ông xúc động, gục đầu xuống bàn, đưa ông đến quyết định không tái tranh cử tổng thống nhiệm kỳ kế, 1968, vì chiến tranh Việt Nam đã thật sự sa lầy.

Khi khám phá ra cái nghĩa trang mờ ám ấy, chúng tôi đã hiểu được ý đồ "bác và đảng" không cho mang thân xác của kẻ chết trận về Bắc, mà phải chôn tại vùng phi quân sự, hay vùi dập đâu đó trên tuyến đường xâm nhập, để khỏi lộ chân tướng dối trá. Biết bao cán binh chết rục đâu rồi, họ vẫn nói còn sống để lừa bịp các thế hệ thanh niên tiếp tục vào Nam.

Chuyện khuất lấp của Cộng Sản có tính trước là làm tiền thân nhân những kẻ bạc mệnh khi chiến tranh chấm dứt. Sau tháng 4/1975 nghĩa địa "Sinh Bắc Tử Nam" trở thành một kho tàng béo bở, để Đảng hái ra tiền từ những gia đình, họ hàng muốn tìm hài cốt thân nhân về cải táng.

Thật vậy, việc đi tìm hài cốt sau 15 năm chinh chiến khác nào cá tìm chim. Nay Đảng đã tập trung sẵn hàng trăm ngàn nấm mộ ở vùng phi quân sự, như một vựa chứa "vĩ đại", do sở quốc doanh Cựu Chiến Binh CSVN đầu cơ tích trữ...

Tôi im lặng, suy nghĩ lung tung, hai tay cứ loay hoay quấn mãi điếu thuốc rê chưa xong, vì miếng giấy lịch rách toạc...

Thấy tôi ngưng nói, bộ đội Bình nhắc khéo:

- Anh Vân thích thuốc nặng nên khổ.

- Ai mà thích! À xin lỗi, lúc nãy anh Đường hỏi vụ người lính bám càng trực thăng khi triệt thoái. Chuyện như thế này: qua hai ngày 17 và 18/2, toàn vùng trở nên căng thẳng. Các trực thăng UH-1B Mỹ vào tải thương, bị bắn rớt khá nhiều. Các thương binh và người chết của Tiểu đoàn 21 chúng tôi, đa số bên căn cứ Ranger North còn kẹt lại, nằm ngổn ngang. Như tôi đã nói, Tiểu đoàn 39 Biệt Động Quân đứng mũi chịu sào, địch bất cứ giá nào cũng bứng cho được, họ dồn hỏa lực đánh mỗi lúc một ác liệt hơn, cả khu đồi muốn bốc cháy.

Tôi nghe Đại úy Đỗ Đức Chiến Tiểu đoàn phó 39 báo cáo về biên giới là ông đã bị thương. Mặt khác, trước nguy cơ bị đối phương tràn ngập biển người, Chiến cũng cấp tốc gọi qua cầu cứu Tiểu đoàn 21 tìm cách giải vây, nhưng 21 đành chịu. Thiếu tá Hồng Hà 21 (Tôi giấu, không nói tên thật là Nguyễn Hiệp) chỉ điều động bốn khẩu 106ly bắn trực xạ tối đa sát bờ tuyến phía tây nam TĐ 39, mặt đối diện 21, khoảng cách hai cây số đường chim bay, nhìn bằng mắt trần thấy nhau rất rõ. Mức sát hại của đầu đạn 106ly chẳng khác nào 105ly, thế mà địch vẫn tiến, kẻ sống đẩy xác người chết lăn theo phía trước chắn đạn, hết lớp này tới lớp khác. Phút chốc khu đồi trụi lủi như cái đầu trọc quấn vành khăn đen xác người.

Rồi cả bốn cây 106ly Tiểu đoàn 21 bị đại bác 130ly Cộng quân trả đũa, phủ dập sứt gọng gãy càng, hầm đạn bốc cháy nổ tung khắp chiến hào, Ranger South te tua. Việc ăn miếng trả miếng rất ngoạn mục giữa trận mạc tranh hùng.

Pháo đội C/44 ở căn cứ hỏa lực 30 Dù, cũng hết mình nã 155ly tới tấp cứu nguy 39, và bóp họng dùm 21 mấy "con gà cồ"ụ đang gáy đinh tai nhức óc trên các sườn đồi phía tây.

Người mà lâu nay tôi khâm phục, để bụng không nói ra, là Trung tá Nguyễn văn Hiệp. Lúc ấy danh hiệu: Sơn Linh, Liên đoàn trưởng Liên đoàn 1 Biệt Động Quân đang ở Bộ Chỉ Huy Phú Lộc biên giới. Vì nóng lòng và để giữ vững tinh thần các binh sĩ dưới quyền giữa những giờ phút thập tử nhất sinh, Nguyễn văn Hiệp, người hùng đã từng điều quân bách chiến bách thắng ở nội địa, đã không nệ gian nguy, lên trực thăng bay vào. Thật mong manh, đơn độc, chiếc UH-1B của ông đảo quanh trên vùng trời lửa đạn, giữa mạng lưới phòng không địch. Sự xuất hiện của vị anh cả Liên đoàn 1 Biệt Động như thiên thần. Nghe tin, Đại úy Đỗ Đức Chiến, dù đã bị thương, mừng reo lên, nắm máy liên lạc, ông kêu to bằng bạch văn:

- Sơn Linh! Sơn Linh! Con cái chết nhiều rồi!...

Nghe Chiến gọi, giọng nói như từ cõi âm vọng lên, các sĩ quan chỉ huy 21 rúng động, tôi cũng chảy nước mắt. Trung tá Hiệp thúc các gunship tiếp tục xạ kích dọc theo bờ tuyến 39, chặn đứng từng đợt xung phong cơ hồ như sóng vỗ, cùng lúc xin trực thăng chở đạn tiếp tế và tải thương. Mỗi lần ra khỏi vùng về Khe Sanh đổ xăng ông đều báo: "Tôi đi lấy Whisky, sẽ trở lại ngay". Một lối ngụy thoại thông thường mà rất mới, tình nghĩa trên chiến trường Lào. Rồi chấm đen vụt chao đảo, lượn giữa tầng mây bạc đầy những tia đạn phòng không như hoa nở tiễn đưa. Hình ảnh Sơn Linh thật tuyệt vời!...

Trung úy Đường Sư đoàn 304 CSBV khẽ cười:

- Nó không thể đẹp hơn cách anh bộc trực mô tả đâu!

- Bộc trực?

- Thì trong câu chuyện anh kể.

- Thời đó anh ở đâu, không dự cuộc hành quân Lào à?

- Tôi chưa vào bộ đội, còn đi lao động. Xin anh tiếp tục.

- Đang lúc cận chiến thì một trực thăng cứu thương liều mình đáp xuống khu đồi 39 nhưng tôi không thấy nó bay lên, đến chiếc kế cũng vậy, cả hai đã bốc cháy.

Sau đó tôi mới biết, các nhân viên phi hành bị thương gần hết, chỉ viên y tá tên Fujii, Dennis Fujii, được Đại úy Đỗ Đức Chiến dìu vào hầm Bộ Chỉ Huy Ranger North.

Tôi xin nói thêm về nhân vật tên Fujii. Ngay lập tức anh được sử dụng, có thể nói vào việc quyết định sự sống còn của 39, đứng vững vài ngày trước khi thất thủ. Mặc dù nhiệm vụ là nhân viên cấp cứu, của Lữ đoàn 44 Quân Y Hoa Kỳ, nhưng Dennis Fujii là một chứng nhân cho thế giới biết sự chiến đấu hào hùng của Tiểu đoàn 39, nói chung là Biệt Động Quân ở cực bắc Tchépone. Nhắc đến Fujii để giải thích tại sao cuộc hành quân Lam Sơn 719 không có Mỹ tham dự trực tiếp dưới đất, mặc dù sợ xâm phạm đất Lào, chúng tôi bị gài vào cái thế gặp nhiều khó khăn, tổn thất nặng, và mang tiếng xấu có người lính bám càng trực thăng. Thiệt hư ra sao?

Đại úy Chiến (5) sĩ quan hiện dịch, tốt nghiệp khóa 20 VB Đà Lạt, thừa hiểu trong tình huống đó, nếu không một người Mỹ nào lâm nguy dưới đất, thì việc không yểm của Hoa Kỳ thiếu tận tình, nên Chiến kéo Fujii vô hầm, để nhờ anh ta gọi trực tiếp các chiến đấu cơ đến oanh kích mau hơn qua trung gian người Việt Nam. Quả thật, khi nghe Fujii cầu cứu trong máy, các giới chức Mỹ ở Khe Sanh, như định lệ, lập tức cho hai F-4 Plantom với Cobra vào vùng chặn địch, mặt khác, hai chiếc trực thăng đáp xuống căn cứ 39 tiếp tế đạn và chưa kịp tải thương về, lại bốc cháy. Địch quá đông, cứ vây hãm, Biệt Động Quân diệt không xuể, mà thiệt hại mỗi lúc càng nặng, gần hết khả năng chống cự. Để cứu nguy giữa lúc thoi thóp, Dennis Fujii run sợ, anh quyết theo sự hướng dẫn của Đại úy Chiến là bảo máy bay đánh bom ngay trên nửa phần đồi tây bắc mà Cộng quân đã tràn vào bên trong tuyến. Hành động đó để rồi sau này viên Y tá trở thành một anh hùng của nước Mỹ. Nhưng tôi khoái nhất thuật "dụng nhân như dụng mộc" của Đại úy Đỗ Đức Chiến Tiểu đoàn phó, mà ông đã kể cho tôi nghe dưới căn hầm, bên khúc sông đầu Sésamou Lào, vào mấy ngày ông bị thương chờ tải về Việt Nam.

Chưa hết, từ 21 nhìn qua 39, âm thanh hỗn loạn, khói lửa mịt mù, tôi thấy lòng mình như thiêu đốt. Nơi speaker PRC-25 phát ra giọng Fujii run rẩy, có lúc dồn dập kêu gọi, dù các Cobra đang phóng rocket, đại liên quạt ngay trên chiến hào. Màn đêm lẫn sương mù Savannakhet bắt đầu bao phủ, khiến sự yểm trợ bị giới hạn.

Sáng hôm sau, trong khi đôi bên đang nhừ tử, không đánh nổi nữa, thì đột nhiên một chiếc trực thăng bay lướt sát ngọn cây rồi nhủi xuống giữa đồi 39 để bốc Fujii, nhằm lúc Đại úy Đỗ Đức Chiến bị trúng đạn lần thứ hai, gãy một tay ngã chúi, Fujii vội chạy tới bồng ông bỏ lên trực thăng. Thấy vậy, một người lính Biệt Động Quân, vốn là cận vệ của Đại úy Chiến, liền phóng theo với ý định là để săn sóc vị chỉ huy của mình dù ở đâu, khi lâm nguy hay lúc yên bình. Nhưng Dennis Fujii không hiểu, lấy tay xô anh ra, viên xạ thủ đại liên (the door gunner) cũng tống bồi một đạp khiến người lính mũ nâu văng xuống nằm trên cái càng giữa lúc chiếc trực thăng đã cất lên cao lướt ra khỏi ngọn đồi. Vì dưới chân là thung lũng sâu anh phải nắm cứng cái càng, và chỉ mấy phút, hẳn đuối sức, anh buông tay rơi xuống khe đá. Như các anh biết, sau có một số sách báo mỉa mai chuyện "bám càng", chết hèn. Theo tôi đó là cái chết chỉ vì lòng trung nghĩa của người lính trận.

Nhưng, chiếc trực thăng tải thương đợt cuối cùng ấy lại bị Cộng quân bắn gãy đuôi, quay chuồn chuồn, và may mắn sà đầu xuống được căn cứ 21 Biệt Động Quân rồi cháy rụi, sau khi viên xạ thủ kịp lôi Chiến ra ngoài trước mắt cách tôi 30m.

Thượng sĩ Tuất nãy giờ im lặng, anh chợt thở dài:

- Thời ấy, đài phát thanh Hà Nội loan tin trận đánh Nam Lào hỗn loạn lắm! Các anh rút quân vì pháo. Nói chung hai bên đều thiệt hại nặng. Chúng tôi phần nhiều bị B-52...

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29

Quân Sử Việt Nam (Top)