Lịch Sử Của Việt Nam

Tiếng Hờn Chân Mây

quân sự việt nam, biệt động quân

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29

*Tác Phẩm TIẾNG HỜN CHÂN MÂY,  Ấn phí: 15 Mỹ Kim.
*Liên lạc để có sách với chữ ký của tác giả  qua Email: tranthyvan@yahoo.com hoặc điện thoại số: (714) 375-9547

TIẾNG HỜN CHÂN MÂY
Truyện dài In lần đầu:  7/2000
Tái bản lần thứ nhất: 11/2006

Bìa: Họa sĩ Hồ Thành Đức
Kỹ thuật & trình bày: Tác giả

Copyright  2000 by Tran Thy Van
TX 5-195-589
All Rights Reserved Printed in USA
     
THƯ TƯ - NGÂN PHIẾU - XIN ĐỀ:

TRẦN THY VÂN
P.O.BOX 2085
WESTMINSTER, CALIFORNIA 92648 - USA

LỜI NÓI ĐẦU 

Tiếp theo truyện dài Anh Hùng Bạt Mạng, in 1996, rất thu hút người đọc, đã tái bản nhiều lần trong thập niên qua; Tiếng Hờn Chân Mây cũng được viết lại từ hồi ký của tác giả về thời chinh chiến Việt Nam. Để sáng tỏ một phần sử liệu, kỳ tái bản này, THCM có thêm ghi chú, tiêu biểu một số báo chí, các nhà văn phê bình tác phẩm, ở cuối sách. Bối cảnh, sự kiện, và các nhân vật trong truyện đều có thật. Sự trùng tên chỉ là ngẫu nhiên với người ngoại cuộc. Tác giả.

Thương tặng HN Lê Hoa
Giữa lúc đất nước khởi đầu đen tối nhất
em về làm vợ người lính bại trận Trần Thy Vân.

CHƯƠNG BỐN

HÌNH ẢNH CHIẾN TRƯỜNG XƯA với Lm. NGUYỄN VĂN VÀNG

...

- Ừ, tại rạp Thanh Bình, ở đường Thống Nhất, năm 1965. Không những dự còn giữ trật tự, ghi âm, vì tôi đã có lòng yêu mến Cha từ bảy năm trước ngoài Đà Nẵng. Cuộc nói chuyện ấy do trường Trung Học Duy Tân Phan Rang tổ chức. Học trò bốn trường đến nghe, chật cứng cả rạp.

- Vân rất xông xáo, có sự liên hệ với Cha. Bây giờ ông bạn về đâu? Một điều tôi xin hỏi thêm: vợ con thế nào?

Tôi cười buồn:

- Bộ muốn bắt chước Cha Vàng quay tôi nữa à? Vợ con? Vì gia đình mà tôi chưa biết nơi đến. Tôi muốn dừng chân ở một miền quê hẻo lánh của cao nguyên Lâm Đồng, chẳng ai để ý mình. Tôi mong gặp lại vài người lính cũ, với cô gái tên Nhị đã thương tôi trong thời chiến, lúc tôi chưa gãy chân, bại trận. Chắc cô ấy sống đâu đó trên phố núi, “phố núi cao, phố núi đầy sương”. May mà có em đã hơn một lần ra tận chiến trường Sa Huỳnh này…

Chiếc xe đò đã sửa xong, máy nổ. Tài xế rú ga inh ỏi làm hành khách, kẻ đứng người ngồi rải rác ở các gốc cây, tảng đá mừng reo lên và lật đật tủa ra.

Thành vội đẩy chiếc xe lăn. Có anh tôi đỡ khổ. Thành thỏ thẻ bên tai, như sợ không còn cơ hội tâm sự:

- Tôi trước phục vụ ở Tiểu đoàn 304 Địa Phương Quân…

Anh chỉ nói có vậy rồi hì hục đẩy cái xe lăn bươn qua vạt đất lốc chốc sỏi đá .

Tôi gợi ý:

- Của Đại úy Phong, Tiểu khu Tuyên Đức, đúng không? Tôi biết Tiểu đoàn Phong đánh giặc giỏi, mà cũng tan hàng, “cải cách Lê Lai” (chạy làng). Tức thật!

- Không phải đâu, họ chưa bao giờ “cải cách Lê Lai”, vẫn tiếp tục Mình còn nhiều cơ hội gặp nhau! Tôi cầu mong Cha Vàng thành công…

Tôi nghĩ thầm, ông bạn mới quen hơi chủ quan, tôi không buồn cãi lại, chỉ nói lảm nhảm trong miệng: “Lớp bỏ chạy ra hải ngoại, lớp lọt mưu bọn tặc phương Bắc mời đi tù ráo, còn ai nữa chiến đấu?”.

(KỲ 5)
CHƯƠNG NĂM
 
THÀNH PHỐ CŨ
 
 
Thấm thoát, chiếc xe đò cũ kỹ, nhét vội mấy mươi người, đã rời khỏi Sa Huỳnh, chạy thâu đêm xuyên qua Bình Định, Khánh Hòa, sáng nay thì dừng lại ở xóm Động.

Phan Rang đây rồi sao? Ngày trở về có anh thương binh, tổ quốc đã dành cho một sự trừng phạt, mất nửa phần thân thể vẫn chưa chai đá, để còn biết hổ thẹn. Phan Rang, thành phố cũ, của mười năm trước tôi thôi học lên đường tòng quân với mộng ước quê hương sẽ sạch bóng thù, mà nay tôi như kẻ xa lạ giữa khung trời ảm đạm, lớp phế hưng che khuất đường về với những ánh mắt thân thương, bao nụ cười tuổi dại. Tôi ngơ ngác, lạc lõng... 

Thành, người bạn mới quen, lăng xăng lấy hành lý và nhờ các phu khuân vác đưa chiếc Honda ba bánh trên mui xuống. Xong, Thành và tôi, cả hai như bất động, đứng nhìn nhau, dù sâu kín cũng không giấu được một nỗi buồn hiện rõ trên mỗi nét mặt. Tôi ở đây, Thành thì đổi hướng tiếp tục lên Đà Lạt, biết bao giờ gặp lại.

Rất tiếc, qua một chặng đường dài mệt mỏi, hai đứa ngủ gà ngủ gật, chưa kể hết cho nhau nghe những mẩu chuyện về thân phận những kẻ chiến bại sa cơ, bị đọa đày dưới chế độ bạo ngược này, nhưng Thành cũng rất tâm đầu ý hiệp với tôi từ lúc xe ngừng tại Sa Huỳnh.

Trước phút chia tay Thành biết tôi chưa dứt khoát về đâu, nhà Huệ, cô em gái cùng cha khác mẹ của tôi có chồng dưới Vân Sơn, gần Ninh Chữ. Trên bước đường lánh nạn thế này, tôi không muốn lụy tới Huệ. Còn ông bà ngoại sắp nhỏ trên ấp Phủ Thành, Thuyền Cũ, thì cũng ý hướng đó. Thấy tôi mãi lưỡng lự, Thành chạnh lòng đổi ý, bỏ ngang chuyến xe lên Đà Lạt, anh đưa tay chỉ cái quán ăn bên kia đường, nơi khu Tam Giác:

- Vào đó kiếm gì lót bụng, mọi chuyện tính sau. Tôi hiểu tâm trạng Vân, như kẻ đứng giữa ngã ba đường.

Không đợi tôi gật đầu, Thành vội vứt hai túi xách lên phía sau chiếc Honda ba bánh, rồi hì hục dắt bộ, tôi lăn xe theo.

Tuy quán vắng khách, Thành vẫn ngại hai đứa có thể hớ hênh không ý tứ, nói năng "phản động", nên đưa tôi vào ngồi bàn trong cùng.

Bà chủ còn trẻ, gật đầu chào và giới thiệu thực đơn:

- Sáng nay chỉ có bún tươi với mắm nêm.

Thành nói:

- Được! Cho hai tô, bỏ ớt tỏi nhiều, rau nữa.

- Phan Rang này khỏi nhắc mấy thứ đó! Phải không, anh Thy Vân?

Tôi giật mình, ngước nhìn người chủ quán:

- Sao biết tên tôi hay vậy?

Với nụ cười mủm mỉm, bà vừa cầm khăn lau các vệt nước loang lổ trên mặt bàn vừa hỏi lại:

- Làm như tên anh đẹp lắm! Không nhớ ai đây sao?

Tôi nhíu mày:

- Nhớ sao nổi...

- Anh biệt xứ cả chục năm, quên hết! Hân học Duy Tân đây, nhớ chưa? Tụi bạn nói anh đi Biệt Động Quân bị thương cụt hết hai chân trong trận nào đó ngoài miền trung, nay Hân mới thấy. Sao dữ vậy?

- À... Hân cùng lớp ngày xưa với tôi. Xin lỗi, vì Hân bây giờ đẹp hơn thời thiếu nữ, hay vì tôi tàn phế, lẩm cẩm không nhìn ra cô bạn cũ. Chồng đâu Hân?

Nghe tôi hỏi, Hân đổi sắc mặt, từ vui qua buồn, đôi môi mấp máy, muốn khóc:

- Tù rồi...

Cô bạn miễn cưỡng trả lời xong vội đi xuống bếp. Vì chưa thấu hiểu tâm trạng của nàng, tôi nói vói theo:

- "Học tập cải tạo" chứ tù gì, Hân!

Nàng quay lui:

- Anh cũng nói vậy à?...

Hân im lặng một giây sau câu hỏi vặn lại ẩn ý trách móc, rồi nàng vừa run rẩy vừa trút ra một tràng lời cay đắng:

Ứ- Huân, chồng tôi, không tuân hành cái lệnh hèn nhát của tổng thống phản quốc Dương văn Minh, bảo toàn quân buông súng đầu hàng, giao nạp vũ khí, cả mạng sống của mình cho kẻ thù. Cái lệnh ngu xuẩn ấy tiếp tay giặc chiếm miền Nam , sẽ còn ám hại đến ba đời chứ không riêng thế hệ này. Huân không thể làm "hàng thần lơ láo", tự trình diện "học tập cải tạo", để bản thân, đất nước ô nhục. Huân vào rừng, thà hợp tác với Fulro tiếp tục chiến đấu như ngày nào. Dĩ nhiên, anh đã phải sa cơ, bị Cộng quân, lũ cướp nước, bắn trọng thương ở Hữu Đức tháng Sáu vừa qua... Như vậy mà gọi là "học tập cải tạo" sao anh Vân?

Tôi tối mắt, mặt sa sầm xấu hổ. Lời nói tôi vô tình chạm đến nỗi đau đớn của người bạn học có chồng là một chiến sĩ bất khuất, đang chết dần mòn trong bàn tay sắt máu của giặc cướp phương Bắc.

Thành cũng kém vui, anh phân bua:

- Vân dùng cụm từ đó là để che mắt bọn gian ác, cô Hân!

Xong, Thành gật gật cái đầu, tỏ vẻ đắc ý. Câu Thành nói như một châm ngôn, đã hóa giải được sự tự ái của hai người, hôm qua tôi tại Sa Huỳnh, hôm nay đối với Hân.

Chắc chưa nguôi giận, gương mặt Hân còn lộ nét chua xót khi đến đặt bình trà trên bàn và không buồn nhìn tôi như lúc mới gặp nhau. Hân chậm rãi rót nước ra hai ly, thái độ chần chờ một điều gì.

Tôi nói khẽ:

- Xin lỗi nghe Hân! Huân khí khái thật! Hân à, tôi không buồn vì những lời đay nghiến ấy, mà còn muốn đón nhận sự nguyền rủa nặng hơn.

Hân im lặng. Thành thì không nắm bắt được ý của tôi, vội chuyển qua đề tài khác, đánh trống lảng, và cũng để thay đổi bầu không khí hơi u ám, anh hất cằm hỏi tôi:

- Hân vừa đề cập đến Hữu Đức, là ở đâu?

- Một làng Chàm, thuộc quận Bửu Sơn, nằm heo hút phía tây nam Phan Rang, cách đây trên mười cây số. Cảnh trí nên thơ, có núi sau lưng, có sông trước mặt...

- Vân tới rồi?

- Hồi còn học trường Duy Tân Phan Rang, tôi thường theo mấy người bạn Chàm Năng Xuân Bì, Quảng Đại Banh, Hán Thanh Tủ, Đàng Năng Hồi... về chơi các miền quê cố quốc Chiêm Thành mỗi dịp hè ở Hữu Đức, Cà Na, Chất Thường, Công Thành, Bà Dày, và vào tuốt Mỹ Nghiệp tán tỉnh các cô trong đội vũ Chiêm từng đi lưu diễn nhiều nơi... Vui nhất là những lần dự đám cưới, tụi này phải lưu lại hai ba ngày, ăn uống thoải mái. Người Chàm hiếu khách, tiếp đón niềm nở, nhà luôn luôn sẵn sàng hàng chục đôi chiếu để khách nằm. Tụi tôi hay lui tới nơi nào có con gái. Mỗi lần vậy thì cha mẹ lánh mặt hết, nhường nhà trên cho các cô cậu tự do đùa giỡn suốt đêm. Nhưng chớ bao giờ dại dột tán tỉnh công khai, hay nói: "Ai ních tài lô" (anh yêu em) là chết...

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29

Quân Sử Việt Nam (Top)