Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Sinh Hoạt Hậu Trường Tại Các Bộ Tư Lệnh Việt Mỹ
Trong Chiến Dịch Pleime

quân sự Việt Nam, Tướng Nguyễn Văn Hiếu

Thiên tài quân sự Việt Nam, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu

1, 2, 3, 4, 5, 6

...

(The choice to go into the Chu Pong, a longtime enemy sanctuary [near the Cambodian border]) into which ARVN had never gone, was not mine. It was either that of General Knowles or the brigade commander. We hadn't looked at the area. It wasn't intelligence that led us there. If anything, it was the lack of intelligence, and this seemed a logical place.

Điều này cũng giải thích thái độ ngạc nhiên của Tướng Kinnard biểu lộ khi không thấy Trung Đoàn 32 xông xuống tiếp sức với Trung Đoàn 66 giao tranh với Tiểu Đoàn 1/7 KK tại LZ X-Ray trong ngày 15 tháng 11 (Pleiku, tình báo ngày 15/11, trang 88):

Một điều khác không giải thích được là Trung Đoàn 32 đã không sung trận và ở nán lại các vị trí tại 12-14 cây số phía tây bắc của mạn bắc bờ sông Ia Drang.

Tướng Kinnard đâu có hay biết là quân lính trung đoàn này và cả Trung Đoàn 33 đang bị bom B-52 ghìm xuống mặt đất! (Pleime, chương VI):

Trong năm ngày liên tiếp, từ 15 đến 19 tháng 11, các phóng pháo cơ B52 đã bay tổng cộng 96 phi vụ. Từng khu vực một, các khu vực của rặng núi Chu Prông - mỗi khu 20 dậm vuông - tuần tự trải qua một cơn động đất từ Tây sang Đông. Các công sự và hầm hố trước nay từng chống cản các vụ đánh phá của phi cơ tác chiến và pháo binh bắt đầu bị các trái bom 750 cân anh trực tiếp đánh rập. Lớp cây lá rừng rậm không còn hữu hiệu cho công việc ẩn núp lẫn bao che. "Cửa hậu" vào Căm Bốt bị đóng lại và để trốn thoát, tàn quân Việt Cộng chỉ còn lại thung lũng eo hẹp của Ia Drang.

Trong cuộc phỏng vấn với Cochran, Tướng Kinnard cũng cho thấy là ông không biết đến khái niệm hành quân đánh vào Chu Prong khi ông nói là Tướng Larsen bắt ép ông duy trì quân lính tại LZ X-Ray khi mà ông muốn rút quân ra khỏi bãi ngay ngày 16 tháng 11:

Trong lúc trận chiến xảy ra tại Xray, Tướng Swede Larsen đang bị giới báo chí chất vấn tại sao chúng ta rời bỏ chiến trường. Họ không hiểu cách thức các đơn vị ta chiến đấu. Với một đơn vị không kỵ tấn công, chúng tôi không đếm xỉa gì đến địa thế. Chúng tôi có thể đi đến bất cứ đâu. Chú tâm là địch quân. Chúng tôi đi đến ngay chỗ có địch. Tại Xray, địch ngưng đánh, chúng tôi không ngưng giao chiến. Chúng tôi không thấy lợi gì ở lại Xray. Mảnh đất này không có giá trị gì đối với tôi. Tôi muốn đi tới nơi này có bóng dáng địch. Nhưng Tướng Swede Larsen ra lệnh cho tôi ở lại địa điểm này, và tôi ở lại đó thêm 24 tiếng đồng hồ.

(At the time of the Xray fight, Swede Larsen was under pressure from the news media on why we left the battlefield. They didn't understand how our unit fought. With an air assault unit, we don't give much of a damn about terrain. You can go anywhere. The focus is on the enemy. You go where he is. At Xray, the enemy broke off, we didn't quit. We were no longer interested in Xray. That piece of ground meant nothing to me. I wanted to go on to where the enemy was. But Swede ordered me to stay in that spot, and I stayed there an extra 24 hours.)

Tự Mình Đánh Lấy, Không Nhờ Vả

Sau khi thắng trận tại LZ X-Ray, Tướng Kinnard muốn đuổi theo diệt địch với Lữ Đoàn 2 Không Kỵ (Cochran):

Tôi khuyến cáo Tướng Swede Larsen và các thượng cấp cho phép tôi truy đuổi địch vào tận Căm Bốt. Điều này không mấy ai biết, nhưng lời yêu cầu của tôi đã được chấp thuận qua mọi thang cấp kể cả Đại Sứ Henry Cabot Lodge nhưng lại không được chấp thuận tại Washington ... Tôi muốn tiêu diệt địch. Đáng lẽ ra đó là bước sau của tôi, đó là điều tôi muốn Lữ Đoàn 2 thực hiện...

(I recommended to Swede and up through the chain that I be allowed to pursue them into Cambodia. This is nor well known, but my request was approved up through channels to include Ambassador Henry Cabot Lodge but disapproved in Washington ... I wanted to destroy the enemy. This would have been my next step, this is what I wanted the 2nd Brigade to do...)

Nhưng đó không phải điều Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II muốn. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II muốn tự tay mình làm lấy công việc này và chỉ nhờ Sư Đoàn 1 Không Kỵ thiết lập một căn cứ hỏa lực mới gần biên giới Căm Bốt tại LZ Crooks để yểm trợ pháo binh cho Lữ Đoàn Dù VN thực hiện cuộc hành quân Thần Phong 7 nhằm triệt tiêu hai Tiểu Đoàn 635 và 334 còn sống sót của địch; Lữ Đoàn 2 Không Kỵ đóng trong vai trò trừ bị (hành quân Silver Bayonet I), với sứ mạng chính là bảo vệ căn cứ hỏa lực LZ Crooks (Pleime, chương VI):

Ước tính tình báo về khả năng địch, thực hiện vào ngày 17 tháng 11 chỉ cho thấy là gần 2/3 lực lượng của họ bị tiêu hao trong những trận giao tranh ở Đợt I và Đợt II.

Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II nghĩ là đến lúc tung lực lượng trừ bị vào để chấm dứt trận chiến đã kéo dài khoảng một tháng. Ngoài bị tổn thất nặng nề, địch buộc phải xa vào bẫy các lực lượng của ta giăng ra và xô đẩy vào các lộ trình rút lui mà chúng ta dự kiến.

Lần này nỗ lực chính được thực hiện bởi Lữ Đoàn Dù QLVNCH với sứ mạng triệt hủy các đơn vị Việt Cộng đào tẩu và tất cả các cơ sở xung quanh thung lũng Ia Drang. Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ trước nay gánh chịu tấn công sẽ tiếp tục tạo áp lực từ Đông sang Tây và cung ứng pháo yểm cho Lữ Đoàn Dù.

Cuộc hành quân mang tên "Thần Phong 7" khởi động chiều ngày 18 tháng 11 khi lữ đoàn đươc trực thăng vận tới vùng hành quân, ngay sau khi tới Pleiku.

Trung Tá Robert Tully, Tiểu Đoàn Trưởng 2/5 Không Kỵ, thuộc Lữ Đoàn 3 Không Kỵ, trong bản báo cáo sau cuộc hành quân Silver Bayonet II, than phiền là bị buộc làm công tác bảo vệ căn cứ hỏa lực LZ Crooks, thay vì được phép đi lùng diệt địch:

Khuyến cáo: (1) dành thêm thời gian cho hành quân lùng và diệt địch.

(Recommendations: (1) more time be allocated to search and destroy operations.)

Trong cuộc phỏng vấn với Cochran, Tướng Kinnard vẫn ra giọng kẻ cả như thể là ông tự nguyên trao lại cuộc truy kích địch cho phía Việt Nam:

Người ta quân là trong giai đoạn này chúng tôi hành quân phối hợp với QLVNCH. Một điều mà chúng tôi muốn là để cho QLVNCH tự đánh lấy cuộc chiến của họ. Chúng tôi chuyển giao cuộc hành quân lại cho QLVNCH và giúp họ với pháo yểm, cũng như khi cuộc hành quân bắt đầu tại Plei Me.

(People forget that in this phase we operated in conjunction with the ARVN. One name of the game was to get the ARVN to fight their own war. We turned the operation back to the ARVN and help them with fire support, just as the operation had started at Plei Me.)

Tướng Kinnard còn cho biết cảm nghĩ ông về QLVNCH khi ông Cochran hỏi "Thế còn QLVNCH thì sao?":

Từ đầu, tôi vẫn nghĩ điều hệ trọng là QLVNCH học biết tự đánh lấy cuộc chiến của mình. Nhưng họ phải tập bò trước khi biết đi, tập đi trước khi biết chạy.

(From the beginning, I felt it was critical that the ARVN learn to fight their own war. But they had to learn to crawl before they walked, to walk before they ran.)

Khi lính Không Kỵ Mỹ nhảy vào Chu Prong, lính Việt Cộng không sợ giáp mặt giao tranh lại còn phục kích nữa. Đến khi lính Dù Việt Nam nhảy vào Ia Drang thì lính Việt Cộng sợ né tránh giao tranh, nhưng rồi cũng bị lính Dù phục kích hai lần.

Coi bộ Tướng Kinnard tự mâu thuẫn: một đàng ông phát biểu là ông muốn dạy cho QLVNCH tự đánh lấy địch; đàng khác, ông vận động muốn lấn át Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II đi tiếp cứu trại Pleime ở giai đoạn I và truy đuổi địch qua tận Căm Bốt ở giai đoạn III của chiến dịch Pleime - mà ông cải danh thành chiến dịch Pleiku.

Nguyễn Văn Tín
Ngày 23 Tháng 04 Năm 2011

1, 2, 3, 4, 5, 6

Quân Sử Việt Nam (TOP)