Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Sinh Hoạt Hậu Trường Tại Các Bộ Tư Lệnh Việt Mỹ
Trong Chiến Dịch Pleime

quân sự Việt Nam, Tướng Nguyễn Văn Hiếu

Thiên tài quân sự Việt Nam, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu

1, 2, 3, 4, 5, 6

...

- 10/11:

Tình hình có rất ít hay không có thay đổi trong khi các lữ đoàn tiếp tục hoán chuyển nhau. Thế điều quân chuyển hướng từ tây sang đông là để khơi ngòi cho một quyết định gần sắp tới từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II.

- 11/11:

Bộ Tư Lệnh Mặt Trận Dã Chiến, sau khi thẩm định tình hình, đã đi tới một quyết định. Với các đơn vị Mỹ coi bộ rút lui về phía đông Pleime, quyết định là cố gắng lấy lại thế thượng phong với một cuộc tấn công. Lần này cũng lại là trại DSCĐ Pleime. Bộ tư lệnh sư đoànVC ấn định ngày tấn công là ngày 16 tháng 11, và ra chỉ thị cho ba trung đoàn của sư đoàn.

Trung Đoàn 32, lẽ đương nhiên, vẫn còn là một lực lượng chiến đấu chặt chẽ, mặc dù hứng chịu tổn thất trong cuộc phục kích Lực Lượng Đặc Nhiệm Thiết Kỵ QLVNCH trên đường lộ tới Pleime.

Trung Đoàn 33, như đã thấy, bị tổn thất nặng nề trong cuộc tấn công và sau đó rút lui khỏi Pleime, nhưng vẫn bị sung vào trận một lần nữa. Trong viễn tượng can dự vào chiến trận tương lai, cấp chỉ huy Trung Đoàn 33 bắt đầu tái tổ chức các tiểu đoàn bị hao mòn thành một đơn vị chiến đấu hỗn tạp.

Tuy nhiên, ngọn giáo sắc bén cho cuộc tấn công lần này là Trung Đoàn 66 mới xâm nhập, sung sức từ Bắc Việt và háo hức xông vào chiến trận. Trung Đoàn sẽ là nỗ lực chính trong cuộc tấn công lần thứ hai vào trại Pleime của ba trung đoàn.
Ngày 11/11, vị trí ba tiểu đoàn 7, 8 và 9 của Trung Đoàn 66 trải dọc mạn bắc bờ sông Ia Drang (trung tâm khối tại 9104).

Trung Đoàn 33 vẫn ở các vị trí quanh Làng Anta (YA940010)

Trung Đoàn 32 vẫn ở phía bắc sông Ia Drang (YA820070)

Để tăng sức quả đấm cho cuộc tấn công, Mặt Trận Dã Chiến cũng quyết định sung vào một tiểu đoàn bích kích pháo 120 ly và một tiểu đoàn súng phòng không hai nòng 14.5 ly. Hai đơn vị này đang trên đường xâm nhập và dự tính tới kịp thời cho cuộc tấn công. Năm ngày kế tiếp sẽ là những ngày chuẩn bị và di chuyển quân cho cuộc tấn công.

Như vậy là lần đầu tiên, trọn vẹn một sư đoàn Bắc Quân sẽ sung vào trận tấn công một mục tiêu tại Nam Việt Nam.

- 12/11:

Các đơn vị thuộc Mặt Trận Dã Chiến tiếp tục chuẩn bị và tập dượt cho cuộc tấn công dự tính trại Pleime.

- 13/11:

Các lực lượng của Mặt Trận Dã Chiến bắt đầu tụ tập trong vùng Chu Prong- Ia Drang để chuẩn bị di chuyển tới Pleime và tấn công dự tính ngày 16/11. Một vài đơn vị trinh sát và vận chuyển đã lên đường.

Ngoài mặt tình báo, Đại Tá Hiếu còn chia xẻ với BTL/TP SĐ1KK vài khái niệm hành quân tuyệt kỷ.

Trước hết, khi biết được qua khảo cung tù binh là Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 dự tính tấn công lần thứ hai trại Pleime, và lần này sẽ đánh dứt điểm với cả ba Trung Đoàn 32, 33 và 66 cùng hai tiểu đoàn súng phòng không và bích kích pháo, ấn định vào ngày 16 tháng 11, Đại Tá Hiếu hoạch định khái niệm hành quân tấn công địch trước như sau:

- Ngày 8 tháng 11 năm 1965, Lữ Đoàn 3 Không Kỵ thay thế Lữ Đoàn 1 Không Kỵ (hành quân All The Way) với hành quân Silver Bayonet I, đồng thời trọng tâm hướng hành quân hoán chuyển từ Tây sang Đông trong thế nghi binh với dụng ý khiến địch lầm tưởng quân lính Mỹ đánh mất tăm hơi địch.

Thế nghi binh này được chuyển đạt tới BTL/TP S1KK qua Tướng Larsen (Pleiku, tình báo ngày 8/11, trang 67):

Vào khoảng lúc này, Field Force Vietnam yêu cầu sư đoàn di chuyển các cuộc hành quân của mình về phía đông Pleime nếu "không có thêm đụng độ mới nữa trong vùng phía tây".

- Ngày 14 tháng 11, một tiểu đoàn lính Không Kỵ Mỹ nhảy vào chân rặng núi Chu Prong khi địch quân không ngờ và đang ở tư thế phòng thủ và phản công yếu kém nhất vì lẽ hai tiểu đoàn súng phòng không và bích kích pháo chưa có mắt tại chiến trường (Pleime, chương V):

Tỉ lệ 1/10 chứng tỏ tiểu đoàn 1/7 rất là may mắn vì thật bất ngờ là từ trên các đồi bao quát ngó xuống bãi đáp, địch đã không đặt các vũ khí cộng đồng để yểm trợ các cuộc tấn công. Tình trạng này chỉ có thể giải thích bởi các lý do sau đây:

- Địch đã mất gần hết các vũ khí cộng đồng trong đợt đầu.

- Họ bị tiểu đoàn 1/7 tấn công bất ngờ và các cán bộ chỉ huy đã không khéo xử dụng địa thế.

- Các chiến thuật của họ hầu như dựa vào "biển người" và họ quá tự tin là cuộc tấn công của họ sẽ làm cho tiểu đoàn 1/7 rã ngũ rất mau chóng.

Tướng Kinnard cảm nhận được mưu trí của Đại Tá Hiếu (Pleiku, trang 88):

Hiển nhiên là nỗ lực của Bắc Quân không được hỗ trợ bởi các tiểu đoàn bích kích pháo và súng phòng không không tới kịp vào vùng chiến trận và còn rong ruổi trên đường mòn xâm nhập.

Thứ đến, Đại Tá Hiếu chia xẻ với BTL/TP SĐ1KK khái niệm hành quân tiêu diệt ba trung đoàn Việt Cộng tại chân rặng núi Chu Prong trong bốn ngày từ ngày 14 đến 17 tháng 11 như sau (Pleime, chương V):

- Ngày 14 tháng 11, Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ thiết lập nút chận phía đông bắc rặng núi Chu Prong tại (Trung Tá Hla Moore, Tiểu Đoàn Trưởng 1/7KK chọn LZ X-Ray).

- Từ ngày 15 đến 16 tháng 11, pháo đài B-52 trải thảm trút lên đầu địch phía bắc LZ X-Ray mỗi ngày 5 đợt.

- Ngày 17 tháng 11, rút quân ra cách xa 3 cây số và pháo đài B-52 đánh rập địch luôn ngay tại LZ X-Ray.

Cần lưu ý là từ chiều ngày 15 tháng 11, các phóng pháo cơ B52 đã tham gia vào trận đánh với năm phi vụ oanh tạc hằng ngày tại rặng núi Chu Prông. Ngày 17 tháng 11, các mục tiêu oanh tạc cũng bao gồm bãi đáp X-ray và hai tiểu đoàn của ta được lệnh di chuyển ra cách bãi đáp 3 cây số, về hướng bắc và hướng tây bắc tới một bãi đáp khác gọi là bãi đáp Albany.

Tướng Kinnard và Tướng Knowles

Us Army, gen Kinnard

Tướng Richard Knowles, Tư Lệnh Phó được Tướng Kinnard ủy thác toàn quyền chỉ huy các đơn vị thuộc Sư Đoàn 1 Không Kỵ sung vào cuộc hành quân Long Reach này. Do vậy, trong giai đoạn II và III của chiến dịch Pleime, Đại Tá Hiếu làm việc phối hợp trực tiếp với Tướng Knowles chứ không phải với Tướng Kinnard.

Lối làm việc của Tướng Kinnard là ủy quyền tuyệt đối một khi giao một nhiệm vụ cho thuộc viên, chứ không tỉ mỉ theo dõi diễn tiến công tác (Cochran):

Tôi di chuyển một Bộ Tư Lệnh Tiền Phương tới Pleiku với một trong số phụ tá tư lệnh sư đoàn của tôi, Tướng Dick Knowles. Đây là lề lối làm việc của tôi mỗi khi tình hình trở nên sôi động. Phong thái lãnh đạo của riêng tôi là luôn để cho mọi người từ cấp chỉ huy đến chí quân sĩ quyền hành xử trí tuyệt đối và tối đa cách thoải mái. Tôi không muốn nắm sát trong tay công cuộc điều hành từ An Khê.

(I moved a forward CP [Command Post] to Pleiku with one of my assistant division commanders, Gen. Dick Knowles. This was my "modus operandi" whenever the action got hot. My own leadership style had always been to give absolute and maximum latitude to people all the way down the line. I did not want to handmanage this thing from back in An Khe)

Điều ngày giải thích sự kiện Tướng Kinnard không am tường mặt tình báo lẫn khái niệm hành quân xâm nhập vào Chu Prong. Cũng trong cuộc phỏng vấn này, ông nói:

Lực chọn tiến sâu vào Chu Prong, từng là một mật khu của địch gần biên giới Căm Bốt mà QLVNCH chưa khi nào bén mảng tới, không là của tôi. Có thể là ý kiến của Tướng Knowles hay lữ đoàn trưởng. Chúng tôi không ngó ngàng tới vùng này. Không phải là tin tình báo dẫn đưa chúng tôi vào đó. Ngược lại chính là vì không có tin tình báo, và đây coi bộ là địa điểm hợp lý.

1, 2, 3, 4, 5, 6

Quân Sử Việt Nam (TOP)