Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Sinh Hoạt Hậu Trường Tại Các Bộ Tư Lệnh Việt Mỹ
Trong Chiến Dịch Pleime

quân sự Việt Nam, Tướng Nguyễn Văn Hiếu

Thiên tài quân sự Việt Nam, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu

1, 2, 3, 4, 5, 6

...

Lấn Át Quyền Chỉ Huy

Có hai trường hợp cho thấy giới chỉ huy quân sự Mỹ có chiều hướng muốn áp đặt ý kiến riêng và lấn át quyền chỉ huy khi họ được yêu cầu tăng phái yểm trợ cho các đơn vị QLVNCH.

Trường hợp thứ nhất liên quan đến Đại Tá Bennett, chỉ huy trưởng 5th Special Force Group, là người cung cấp Toán Delta Mỹ cùng với Toán LLĐB Việt được Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II phái tới trại Pleime. Đại Tá Hiếu cho thả toán hỗn hợp LLĐB Việt Mỹ cách 5 cây số Đông-Bắc phía ngoài trại với hai sứ mạng: thứ nhất là trinh sát dò la xem địch sắp xếp đội hình quân lính vây hãm trại ra sao để xác định ý đồ chính của địch là đánh dứt điểm thanh toán trại hay chỉ vây đồn để cốt đả viện; thứ đến mới là tăng cường cho lực lượng trú phòng trại (Pleime, chương IV):

Trên lộ trình tiến tới Trại sau khi đổ bộ, Tiểu Đoàn 91 giao tranh với địch lúc 1030 giờ, giết và gây thương tích cho một số không rõ Việt Cộng và tịch thu một bích kích pháo 82 ly, hai đại liên M.G. 50 ly, nhiều súng liên thanh cộng đồng và súng trường Nga sô. Cuộc đụng độ này chứng tỏ là quanh Trại, địch đã phân tán quân để tránh trở thành mục tiêu cho các cuộc oanh tạc của ta và đồng thời để phục kích các lực lượng tiếp cứu khi dùng đường không tại khu vực quanh Trại.

Trong khi phía ta thu thập thêm tin tình báo về ý đồ và thế điều quân của địch thì phía Việt Cộng cũng từ từ đoán biết được mưu kế của phía ta.

Nhưng Đại Tá Bennett lại muốn toán Delta Mỹ nhảy vào trại ngay để giúp giới chỉ huy Mỹ trong trại chế ngự lính Thượng nổi loạn (sổ nhật ký của Ban 3/FFV, ngày 20/10/65 lúc 18:25 giờ):

- 18:25G: Quân Đoàn II Capt Ushijima - Có thể đặt để một Đại Đội Biệt Cách Dù gần Pleime tối nay. Col Bennett được Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn II cho biết là chỉ có thể xảy ra sau 1900g và không thực hiện được chuyến trực thăng vận đêm nay. Col Bennett sau đó yêu cầu đưa 10 lính Mỹ vào trong Trại để trợ giúp kiểm soát các DSCĐ. Col Mataxis (Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn II) trả lời là do tình hình chiến thuật điều đó không thực hiện được. .

Đại Tá Hiếu đã phải quyết liệt từ chối lời yêu cầu đó (sổ nhật ký của Ban 3/FFV, ngày 20/10/65 lúc 20:00 giờ):

- 20:00G: Từ Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn II gửi Lt Col Patch. Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn II vừa trở về sau chuyến bay trên không phận trại Pleime. Pleime vẫn đứng vững. Các phi cơ thả trái sáng và chiến đấu cơ vẫn yểm trợ. Phi Đội A/1 Không Lực đã trở về Pleiku, do thời tiết xấu. Yêu cầu của Lt Col Bennett, Nhóm 5 LLĐB, đưa 10 lính Mỹ vào trại bị từ chối.

Trường hợp điển hình thứ hai liên quan đến chiều hướng lấn át quyền hành của giới chỉ huy quân sự Mỹ là trường hợp của Tướng Harry Kinnard, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ.

Đại Tá Hiếu chỉ xin Bộ Tư Lệnh 1 Dã Chiến Mỹ cung cấp một tiểu đoàn bộ binh Mỹ và một tiểu đoàn pháo binh Mỹ tăng phái cho cuộc hành quân Dân Thắng 21 nhằm giải tỏa trại Pleime: tiểu đoàn bộ binh để giữ an ninh cho thành phố và phi trường Pleiku thay cho Tiểu Đoàn 22 Biệt Động Quân được sung vào Chiến Đoàn Thiết Kỵ Tiếp Cứu; và tiểu đoàn pháo binh yểm trợ chống phục kích cho Chiến Đoàn Thiết Kỵ Tiếp Cứu. Việc điều quân này được thực hiện xong vào lúc 1 giờ trưa ngày 23 tháng 10 (Pleime, chương IV):

Để đối ứng với các trường hợp khẩn cấp, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II yêu cầu Lực Lượng Đặc Nhiệm Alpha Mỹ (Thiếu Tướng Stanley R. Larsen, Bộ Tư Lệnh Nha Trang) tạm thay chu toàn phận vụ an ninh của Phi Trường Pleiku và thành phố Pleiku và vào lúc 1300 giờ, Chiến Đoàn Ingram gồm một tiểu đoàn bộ binh và một đơn vị pháo binh thuộc Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ tới theo ấn định.

Tuy vậy, sau khi điều Task Force Ingram lên đến Pleiku, Tướng Kinnard không chỉ chịu đóng vai trò yểm trợ cho các đơn vị tiếp cứu Việt Nam, mà còn ham muốn trực tiếp can thiệp vào việc tiếp cứu xông thẳng tới trại Pleime bằng cách vận động sau hậu trường với Tướng Larsen cho tăng quân số tiểu đoàn lên thành lữ đoàn không kỵ (sổ nhật ký của Ban 3/FFV, ngày 23/10/65 lúc 23:50 giờ):

- 23:50G: Ban 3, Col Barrow - vào khoảng 2300g, Tư Lệnh nhận cú điện thoại của Đại Tá Mataxis và Gen Knowles có mặt cạnh ông ta. Dựa trên thông tin họ chuyển đạt cho ông, Tư Lệnh chấp thuận sung toàn bộ hay một phần của Lữ Đoàn 1 (Pleiku) tùy ý Gen Knowles. Gen Kinnard có mặt với Gen Larsen. Thông tin này được chuyển tới Gen Knowles và Đại Tá Mataxis lúc 2315g.

(ghi chú: Tư Lệnh đây là Tướng Larsen, Đại Tá Mataxis là Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn II, Tướng Knowles là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 1 Không Kỵ. Trong cú điện đàm này, Tướng Larsen và Tướng Kinnard đang ở Nha Trang tại Bộ Tư Lệnh Dã Chiến 1 Mỹ và Tướng Knowles và Đại Tá Mataxis thì ở trên Pleiku tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II).

Tướng Kinnard đã phát biểu rõ ràng tham vọng nắm quyền chỉ huy cuộc hành quân giải tỏa trại như sau trong bản báo cáo Chiến Dịch Pleiku, trang 16:

Khái niệm tiên khởi cho cuộc hành quân này là dàn quân bằng không vận tới gần trại Holloway một tiểu đoàn bộ binh đặc nhiệm để bảo an cho các đơn vị Hoa Kỳ và các cơ sở trong vùng Pleiku và cung cấp một lực lượng trừ bị/phản ứng cho vùng Pleiku.

Trong vòng một vài tiếng đồng hồ ước lượng về tình hình tại Pleime được duyệt lại và việc can dự của sư đoàn được nới rộng lên thành một lực lượng đặc nhiệm cỡ lữ đoàn. Tiếp sau đó khái niệm phát triển để cung cấp các cuộc hành quân tấn công giới hạn, xử dụng các kỹ thuật xung phong không vận để cung cấp hỏa lực pháo binh yểm trợ cho Lực Lượng Đặc Nhiệm Thiết Kỵ QLVNCH tiểp cứu trại Pleime đồng thời yểm trợ chính doanh trại; và để cung cấp bảo an bộ binh cho các vị trí pháo binh, trong khi duy trì một lực lượng phản ứng trừ bị không nhỏ hơn một tiểu đoàn để phòng thủ Pleiku.

Lẽ đương nhiên là Đại Tá Hiếu chưa thấy cần đến một Lữ Đoàn Không Kỵ trực tiếp tấn kích giảo tòa trại Pleime, một phần vì việc giải tỏa trại có thể thực hiện được với Chiến Đoàn Thiết Kỵ Tiếp Cứu với sự yểm trợ pháo binh của Task Force Ingram, phần khác vì biết địch sẽ dễ dàng bắn hạ các trực thăng Mỹ đổ quân vì chúng đã chu đáo cài đặt kỹ lưỡng các ổ súng chống phòng không quanh trại và đồng thời phục kích các toạn quân đổ bộ bằng trực thăng quanh trại Pleime (Pleime, chương IV):

Trên lộ trình tiến tới Trại sau khi đổ bộ, Tiểu Đoàn 91 giao tranh với địch lúc 1030 giờ, giết và gây thương tích cho một số không rõ Việt Cộng và tịch thu một bích kích pháo 82 ly, hai đại liên M.G. 50 ly, nhiều súng liên thanh cộng đồng và súng trường Nga sô. Cuộc đụng độ này chứng tỏ là quanh Trại, địch đã phân tán quân để tránh trở thành mục tiêu cho các cuộc oanh tạc của ta và đồng thời để phục kích các lực lượng tiếp cứu khi dùng đường không tại khu vực quanh Trại.

Khi Tướng Kinnard thấy Chiến Đoàn Thiết Kỵ Tiếp Cứu dậm chân tại Phù Mỹ đã ba ngày, từ ngày 20 đến 23 tháng 10, ông cho là Trung Tá Luật, Chiến Đoàn Trưởng, e ngại không dám tiến quân. Ông liền thôi thúc cho xe tăng lăn bánh và hứa cho pháo binh yểm trợ (Pleiku, trang 21):

Để thúc đẩy đoàn quân tiếp cứu di chuyển ngày 24/10, Lữ Đoàn 1 đặt để một toán liên lạc viên pháo binh với đoàn quân thiết kỵ, như vậy bảo đảm pháo yểm Mỹ cho LLĐNTK. Tuy nhiên, chỉ huy trưởng LLĐNTK chọn lựa tiếp tục dừng chân tại vị trí này qua đêm trong khi đó ông phái người trở lui về Pleiku để xin thêm tiếp tế. Toán liên lạc viên pháo binh nhập vào LLĐNTK từ một trong những trực thăng di tản thương binh chiều tối ngày 24/10.

Tướng Kinnard không hay biết là Trung Tá Luật đã theo lệnh của Đại Tá Hiếu đang áp dụng thế phản chiến thuật phục kích vận động chiến của Việt Cộng, lừa cho địch ló diện tại địa điểm phục kích trước, thì mới có cơ hội đánh rập quân phục kích bằng pháo binh (Pleime, chương IV):

Sáng ngày 21 tháng 10, Chiến Đoàn Luật tiếp tục di chuyển, dọc theo trục Phú Mỹ-Pleime, nhưng chỉ thực hiện những cuộc tuần tiễu bạo dạn nội trong một đường kính 10 cây số! Lệnh ban bố rõ ràng của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II cho Chiến Đoàn Trưởng, Trung Tá Luật, là giả bộ cho đoàn quân sắp tiến tới Trại Pleime, nhưng trong thực tế, ông phải đợi thêm cho đủ lực lượng tăng phái sẽ được di chuyển tới bằng đường không từ Kontum và Bình Định tới Pleiku, ngay khi các điều kiện thời tiết cho phép các di chuyển bằng đường không.
(...)

Điểm đáng lưu ý là các cuộc phục kích qui mô của Việt Cộng xảy trong thời gian mới đây đều được thực hiện trong khuôn khổ của chiến thuật chiến trận di động. Chúng không còn hiện hữu như những bẫy gài tĩnh động.

1, 2, 3, 4, 5, 6

Quân Sử Việt Nam (TOP)