Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Sinh Hoạt Hậu Trường Tại Các Bộ Tư Lệnh Việt Mỹ
Trong Chiến Dịch Pleime

quân sự Việt Nam, Tướng Nguyễn Văn Hiếu

Thiên tài quân sự Việt Nam, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu

1, 2, 3, 4, 5, 6

Hầu hết các bài viết về trận đánh Pleime-Iadrang đều mô tả những gì xảy ra ngoài chiến trường. Không thấy có bài viết nào tường thuật những gì xảy ra tại hậu trường các Bộ Tư Lệnh Việt Mỹ (Quân Đoàn II, First Field Force VN, 1st Air Cavalry Division, MACV, Bộ Tổng Tham Mưu) trong khi chiến dịch Pleime tiến triển. Bài này có mục đích khỏa lập thiếu sót này bằng cách đối chiếu ba tài liệu đầu tay liên quan đến chiến dịch này:

1. Chiến Dịch Pleime

2. Chiến Dịch Pleiku

3. Sổ Nhật Ký Ban 3/I Field Force VN

Chiến Dịch Pleime là bản tường trình của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II xuất bản vào tháng 9 năm 1966. Chiến Dịch Pleiku là bản tường trình của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ, soạn thảo xong ngày 4 tháng 3 năm 1966. Sổ Nhật Ký Ban 3/I Field Force VN ghi chép từng giờ phút các sự việc liên quan đến trận Pleime từ ngày 20 đến ngày 30 tháng 10 năm 1965.

Ngoài ra, một tài liệu tham chiếu khác là một bài phỏng vấn Tướng Kinnard do ông Alexander Cochran thực hiện năm 1984 đăng trên Military History (Cochran, Alexander S., "First Strike at River Drang", Military History, Oct 1984, pp 44-52, Per. Interview with H.W.O Kinnard, 1st Cavalry Division Commanding General).

Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II nằm tại Pleiku, dưới quyền chỉ huy của Tướng Vĩnh Lộc. Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ nằm tại An Khê, dưới quyền chỉ huy của Tướng Kinnard. Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Dã Chiến I Mỹ nằm tại Nha Trang, dưới quyền chỉ huy của Tướng Larsen.

Ba vị tư lệnh này đều chân ướt chân ráo tại vùng Cao Nguyên: Tướng Larsen nhậm chức Tư Lệnh IFFV tháng 9 năm 1965; Tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh Quân Đoàn II ngày 20 tháng 6 năm 1965; và Tướng Kinnard vừa cùng lính Sư Đoàn 1 Không Kỵ đổ bộ lên bãi biển Qui Nhơn tháng10 năm 1965 đang khi các xe ủi đất còn đang khai phá khu rừng để thiết lập Bộ Tư Lệnh sư đoàn tại An Khê. Vì vậy người nắm vững nhất tình hình quân sự tại vùng Cao Nguyên lúc bấy giờ là Đại Tá Hiếu, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, nắm chức vụ này từ ngày 12 tháng 12 năm 1963 dưới quyền Tướng Đỗ Cao Trí rồi Tướng Nguyễn Hữu Có rồi mới Tướng Vĩnh Lộc. Tất cả ba vị tướng tư lệnh này đều nể trọng tài quân sự của Đại Tá Hiếu không những trong phạm vị tham mưu mà cả trong lãnh vực điều hành các đơn vị tác chiến.

Trong ba vị tư lệnh, Tướng Larsen có tiếng nói mạnh nhất: đối với Tướng Kinnard vì Sư Đoàn 1 Không Kỵ được đặt dưới quyền xử dụng trực tiếp của Lực Lượng Dã Chiến 1 Mỹ; đối với Tướng Vĩnh Lộc, vì Quân Đoàn II hoàn toàn lệ thuộc vào Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Dã Chiến 1Mỹ về mặt tiếp liệu.

Lắm Đầu Thúi Ma

Tin tức từ Bộ Tư Lệnh Dã Chiến I Mỹ cho biết là ngày 19 tháng 10 năm 1965, vào lúc 7 giờ tối, một toán khoảng 2 Đại Đội Việt Cộng khai hỏa tấn công trại Pleime (G3/IFFV 10200500G). Khoảng 10 giờ sáng ngày 20 tháng 10, trưởng trại Pleime ước chừng lực lượng địch tấn công là một tiểu đoàn (G3/IFFV 10201030G). Lúc 3 giờ 45 chiều thì Ban 2 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ ước lượng 2 tiểu đoàn Việt Công có mặt quanh trại Pleime và đoán là thuộc Trung Đoàng 32 BV hay Trung Đoàn 95 VC (G3/IFFV 10201545G).

Như vậy là Bộ Tư Lệnh B3 BV phát động đồng loạt hai mặt trận lớn trong Vùng 2 Chiến Thuật: một tại Quận Hoài Ân, Bồng Sơn, và hai tại Pleime, Pleiku. Điều hệ trọng đối với giới lãnh đạo quân sự cao cấp hữu trách là xác định cho đúng đâu là nỗ lực chính và đâu là nỗ lực phụ để đối ứng cho thích hợp.

Khi có dấu chỉ Việt Cộng rục rịch tấn công lớn tại Bồng Sơn, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II đã đưa hai lực lượng trừ bị của quân đoàn, Chiến Đoàn A Dù cùng Chiến Đoàn Alpha TQLC xuống đó. Đồng thời, Tướng Vĩnh Lộc đã có mắt tại Bồng Sơn để trực tiếp chỉ huy cuộc phản công mang tên hành quân Thần Phong 6.

Trong bản tường trình chiến dịch Pleiku, Tướng Kinnard cho biết là các Tướng Lãnh Mỹ tin là nỗ lực chính của địch là Bồng Sơn. Ông viết (Pleiku, trang 10):

Trước ngày 19 tháng 10, thông tin tình báo cho thấy địch tập trung quân tại phía đông và đông bắc của vùng căn cứ sư đoàn. Vì mối đe dọa tới mùa gặt lúa gạo tại các vùng ven biển từ Tuy Hòa đến Bồng Sơn, kế hoạch cho các hành quân chiến thuật qui nhắm trực tiếp tới vùng chung này.

Mặc dù có nhiều báo cáo kế tiếp trong Vùng Chiến Thuật Quân Đoàn II là trại DSCĐ Pleime có thể bị tấn công (hầu hết là không xảy ra) cuộc tấn công của địch vào lúc 191900 tháng 10 gây một ít ngạc nhiên. Nhưng, ngay cả khi thấy địch sung vào trận nhiều quân lính, ý kiến chung đồng thuận là vùng ven biển vẫn là mục tiêu thật sự của các nỗ lực Việt Cộng trong vùng của quân đoàn.

Tướng Vĩnh Lộc cũng ngả theo ý kiến chung này và cho Pleime là nỗ lực phụ của địch (G3/IFFV 10201650G):

- 16:50G: Tư Lệnh Quân Đoàn II dự tính Thần Phong 6 tiếp diễn như đã dự định, tiếp cứu Pleime là yêu tiên 2.
Trong khi đó, tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II tại Pleiku, chỉ duy Đại Tá Hiếu, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, lại nghĩ khác mọi người. Dựa vào sự phân tích riêng về tình hình chiến sự và vào các cuộc hành quân của Việt Cộng trên vùng Cao Nguyên dạo sau này, Đại Tá Hiếu đi đến kết luận là Bộ Tư Lệnh B3 BV đang áp dụng thế chiến thuật "nhất điểm, lưỡng diện" (Pleime, cuối chương II), với điểm là Pleiku, và hai diện là Hoài Ân - phụ - và Pleime - chính. Đại Tá Hiếu chẩn đoán Việt Cộng nhắm khiến Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II sẽ buộc phải sung quân trú phòng Pleiku vào việc tiếp cứu trại Pleime và thành phố Pleiku sẽ bị bỏ ngỏ để chúng dễ bề thôn tính. Đo đó, Đại Tá Hiếu, sau khi xin hai đại đội Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ Việt lên trợ lực ngay trại Pleime, ngỏ ý xin cho tăng phái Task Force Ingram gồm một tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn pháo binh Không Kỵ Mỹ lên bảo vệ thành và phi trường Pleiku và đồng thời yểm trợ cho cuộc hành quân tiếp cứu trại Pleime.

Thoạt tiên, từ Nha Trang, Tướng Larsen ngờ vực quyền hạn của Đại Tá Hiếu trong phạm vị điều quân, và cho lệnh gạn hỏi ai có quyền quyết định thay tư lệnh đang vắng mại tại bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II (sổ nhật ký của Ban 3/FFV, ngày 21 tháng 10 vào lúc 08:20 giờ) như sau:

- 08:20G: Quân Đoàn II Capt Ushijima - Có ai tại Pleiku có thể lấy quyết định thay Tư Lệnh trong khi Tướng Vĩnh Lộc vắng mặt không? Yêu cầu nắm vững tình hình hành quân của Thần Phong 6, Pleime và Quốc Lộ 21 và bảo quản thông tin chính xác và tức thời chuyển về Bản Doanh này. Trả lời: Tham Mưu Trưởng có mặt tại đây và giữ liên lạc với Tư Lệnh tại vùng ven biển. Hỏi: Tham Mưu Trưởng có lấy một quyết định được không. Trả lời: TMT sẽ phối kiểm với Tư Lệnh trước khi lấy một quyết định.

Đồng thời Tướng Larsen bắn tiếng là ông không muốn rút Task Force Ingram ra khỏi hành quân Thần Phong 6 để đưa lên Pleiku vì nghĩ là điểm nóng là quận Hoài Ân, chứ không phải Pleime (sổ nhật ký của Ban 3/FFV, ngày 20/10/65 lúc 12:35 giờ):

-12:35G: Quân Đoàn II có thể yêu cầu sự trợ giúp từ phía Sư Đoàn 1 Không Kỵ. Murray góp ý với Broughton là Tư Lệnh không mấy muốn sung Kỵ Binh vào trong vùng vào thời điểm này. Broughton nói chỉ là một tiếng gióng chuẩn bị cho một yêu cầu khả dĩ và hỏi điều gì sẽ ảnh hưởng đến cho hành quân Thần Phong 6. Murray lập lại xác định trước về sự e ngại của Tư Lệnh.

Đại Tá Hiếu nhất quyết bảo vệ ý kiến của mình, nhưng Tướng Larsen vẫn duy trì lập trường của mình giữ Task Force Ingram tại Bồng Sơn (sổ nhật ký của Ban 3/FFV, ngày 20/10/65 lúc 22:45 giờ):

- 22:45G: Từ Col Barrow (Thông tin từ Gen Larsen qua Gen Smith): TF Ingram không được ra khỏi địa điểm hiện tại để đi tới đích theo kế hoạch (liên quan tới Thần Phong 6). TF Ingram phải duy trì tại chỗ để chuẩn bị trợ giúp Condor. (Nhóm Cố Vấn Quân Đoàn II). Lệnh này bao gồm cuộc không hành liên hệ (phi cơ cánh quạt và Chinook). Chuyển đạt cho SĐ 1 KK.

Chỉ mãi đến đúng 11 giờ đêm ngày 20/10/65 - Tướng Larsen mới chịu chấp thuận lời yêu cầu của Đại Tá Hiếu (sổ nhật ký của Ban 3/FFV, ngày 20/10/65 lúc 24:00 giờ):

- 24:00G: Gen Larsen hủy bỏ sự tham dự của TF Ingram trong Thần Phong 6 kể từ 202300g, bao gồm yểm trợ vận chuyển hàng không sẽ được chuẩn bị để trợ giúp tiếp cứu Trại Pleime ngày 21 tháng 10.

1, 2, 3, 4, 5, 6

Quân Sử Việt Nam (TOP)