Lịch Sử Của Việt Nam

Quanh Chuyện Cành Đào Hồ Chí Minh Gởi Vào Nam

1, 2, 3, 4

Nguyễn Quang Duy

...

Ngay sau cuộc họp Maneli đã báo cáo về Ba Lan với một kết luận như sau “Những tuyên bố thiếu vững chắc của ông Nhu chính là kết quả của sự bất ổn và kỳ vọng cây cầu với người Mỹ vẫn chưa bị đốt cháy”. (Magaret K. G. tài liệu số 21, trang 67)

Phần vì tò mò phần vì muốn thâu nhặt tin tức, Maneli đã đặt câu hỏi về mối liên lạc hay đàm phán trực tiếp giữa hai miền Nam-Bắc với ba ông Nhu, Thủy và Đồng. Xuân Thủy vừa giỡn vừa trả lời : "Có phải ông thực sự tưởng tượng rằng chúng tôi thương lượng hay đồng ý với ông Nhu?" (M.K. Gnoinska, trang 147) Ông Nhu và ông Đồng thì cho biết đây chỉ là những lời đồn đãi: "Ông Nhu hỏi lại, có phải ông đã chịu thua dư luận? đó chỉ là chuyên đùa" (Maneli, trang 147) và ông Đồng có cùng chung phản ứng đã hỏi lại "Có phải đồng chí đã tin vào những câu chuyện như vậy hay không ?" (Maneli, trang 147) Sau 1/11/1963, Phạm văn Đồng đã giải thích cho Maneli các nguồn tin từ tướng đảo chánh về các cuộc đàm phán Bắc Nam như sau : ”Đó chỉ là giả dối, phe đảo chánh thông báo tin này chỉ để giải thích lý do phản lại Diệm”. (G. K. Magaret tài liệu số 21, trang 67)

Ngay chiều hôm đó, ông Nhu đã tiếp Đại sứ Hoa kỳ Lodge, Đại sứ Ý d’Orlandi và Khâm sứ tòa thánh Vatican d’Asta. Ông Nhu cho biết về cuộc gặp gỡ với Maneli vào ban sáng. Ông Nhu nói Maneli đã yêu cầu ông chú ý đến tuyên bố của De Gaulle và Hồ Chí Minh về giải pháp trung lập Việt Nam và tiến hành tổng tuyển cử, rồi hỏi ông Nhu muốn chuyển lời gì cho Phạm Văn Đồng. Ông Nhu trả lời “Chẳng có gì cả.”

Không một dấu hiệu nào cho thấy ông Nhu muốn tiếp tục quan hệ với Maneli trong vai trò “đi đêm” với Hà Nội. Cuộc gặp gỡ tại Dinh Độc Lập cho thấy ông Nhu chỉ muốn chứng minh với Hoa Kỳ rằng nếu bị Hoa Kỳ bỏ rơi ông ta có khả năng thương lượng trực tiếp với Bắc Việt. Không như ông tính đây lại chính là bằng chứng duy nhất để phía Hoa Kỳ lập luận ông Nhu muốn thay đổi chiến lược chống cộng của Hoa Kỳ.

Ngược lại phía Bắc Việt lại rất mong Maneli đứng ra làm trung gian. Trước khi xem xét về phía Bắc Việt thật giả ra sao người viết sẽ phân tích một vài tin đồn khác có liên quan.

Chuyện đồn Ngô Đình Nhu gặp Phạm Hùng

Ông Cao Văn Vỹ cho biết trong một chuyến đi săn với ông Nhu và trung tá Bường (tỉnh trưởng tỉnh Bình Thuận) tại khu rừng Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận, ông Nhu đã bí mật tiếp xúc với hai người. Ông Vỹ và trung tá Bường cả hai đều không được tham dự buổi họp. Họ chỉ quan sát từ phiá ngoài, ông Vỹ chỉ biết ông Nhu ngồi trong lều săn nói chuyện với hai người, nhưng không biết là ai, vì lúc đó là ban đêm. Theo ông, có lẽ trung tá Bường biết vì chịu trách nhiệm an ninh và tổ chức cuộc gặp gỡ. (Vĩnh Phúc, trang 336)

Ông Quách Tòng Đức cho biết: “Chính ông Nhu có nhắc đến chuyện này trong vài phiên nhóm với tướng lãnh tại Bộ Quốc phòng và ngày 23.7.1963 tại suối Lồ Ồ khi nóí chuyện với các cán bộ xây dựng Ấp Chiến lược khóa 13.” (Lâm lễ Trinh trang 98) Ông Trần văn Đôn tìm hiểu và biết rõ nhân vật ông Nhu gặp trong rừng Tánh Linh chính là Phạm Hùng (Trần văn Đôn trang 183)

Thực ra vào năm 1963, Phạm Hùng là ủy viên Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam, phó thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Do đó ông hoạt động tại miền Bắc. Trong khi ấy, người lãnh đạo Trung ương cục miền Nam là ông Nguyễn Văn Linh. Năm 1964 tướng Cộng sản Nguyễn Chí Thanh lên thay. Tháng 7 năm 1967, tướng Thanh trên đường về Bắc nhận chỉ thị tổng tấn công Mậu Thân bị bom chết dọc đường. Phía cộng sản đưa tin ông Thanh đột ngột qua đời ở Hà Nội do bị đau tim. Tháng 10 năm 1967, Phạm Hùng mới vào Nam thay thế tướng Thanh. Phạm Hùng thuộc phe cánh của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, chủ chiến không chấp nhận thương thuyết với miền Nam. Tin đồn Ngô đình Nhu gặp Phạm Hùng đã được cựu đại sứ William Colby ghi trong hồi ký của ông. Colby còn cẩn thận ghi thêm “Giai thoại này có thể là chuyện bịa ” (xem Nguyễn Ngọc Giao)

Chiếu theo bản tóm lược về Mục tiêu của Hoa kỳ trong cuộc chiến tranh Việt Nam của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, tháng 9 năm 1963, nhiệm vụ cuả các nhân viên Hoa Kỳ là phải :”… Ngụy tạo những tài liệu liên kết Nhu với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Hà Nội) làm cho Nhu mất tín nhiệm với các tướng lãnh…” (Phạm Văn Lưu, trang 246) Ở thời điểm này, ông William Colby đang làm vụ trưởng Vụ Viễn Đông của Cơ Quan Tình Báo Hoa Kỳ (CIA). Câu chuyện biết đâu lại do chính Colby bịa rồi cho CIA tung ra trước ngày đảo chánh.

Sau hơn 35 năm, Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại vẫn không chấp nhận mọi liên lạc với nhà cầm quyền cộng sản. Người miền Nam lúc ấy so ra chỉ chưa đầy 9 năm thoát khỏi Việt Minh. Cá nhân ông Nhu lại xác nhận có liên lạc với cộng sản. Hiểu được như vậy mới thấy Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ quá sức thâm độc khi đề ra nhiệm vụ nói trên. Đây chính là ngòi nổ cho cuộc đảo chính 1/11/1963 và dẫn đến sự hy sinh của anh em ông Diệm.

Trở lại câu chuyện ở rừng Tánh Linh, không thấy ông Vỹ nhắc đến việc bảo vệ ở phía bên kia, như vậy chỉ có 3 người họp và 2 người bảo vệ vòng ngoài. Một cuộc họp như vậy chỉ có thể xảy ra khi hai bên cùng một phía và phải hết sức tin tưởng nhau. Như vậy có thể hai người được ông Nhu gặp là gián điệp Quốc gia về trực tiếp báo cáo tình hình với ông Nhu.

Chuyện đồn từ những người đi từ miền Bắc

Ông Trần Hùng Văn một nhà báo đi từ miền Bắc cho biết ông Nguyễn Tài, nguyên Thứ trưởng Bộ Công An Bắc Việt, được lệnh vào Nam để thu xếp cuộc gặp giữa hai ông Ngô đình Nhu và Phạm Hùng. (Vĩnh Phúc, trang 339-340) Nguyễn Tài sau khi vào Nam bị quân đội Quốc Gia bắt. Sau năm 1975 ông lại bị Lê Đức Thọ giam lỏng để điều tra.

Ông Tài có viết hồi ký cho biết Lê Đức Thọ đã từng nói thẳng với ông bị bắt sao không chịu chết đi. Xuyên suốt hồi ký hình như Nguyễn Tài vẫn thắc mắc không biết tại sao Lê Đức Thọ lại đối xử quá nghiệt với mình (một đồng chí trung kiên) như vậy. Câu trả lời có thể là chính Lê Đức Thọ tung tin Nguyễn Tài làm trung gian giữa hai ông Nhu và Phạm Hùng. Lê Đức Thọ không ngờ rằng ông Tài còn sống để cho chúng ta biết rằng ông đã được điều động vào Nam năm 1964. Khi ấy ông Nhu đã về đất Chúa.

Liên lạc để kêu gọi chiêu hồi

Tháng 4-1963, Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) ban hành chính sách Chiêu Hồi. Ông Nhu cũng nhiều lần xác nhận có liên lạc với Việt Cộng để thuyết phục họ mang quân về hàng. (Chính Đạo, trang 309)

Ông Nguyễn văn Chức, một nhân sỹ tại Canberra, đã kể cho người viết và rất nhiều đồng hương câu chuyện Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) đã có ý định xin hàng. Ông Chức trước đây ngoài làm cho Đài Gươm Thiêng Ái Quốc, ông còn dịch và thẩm định những tài liệu của cộng sản. Ông Chức cho biết sau Biến Cố Mậu Thân, trong một trận phục kích quân đội VNCH đã bắn chết 1 cán bộ, 2 giao liên và thâu được một tài liệu quan trọng. Theo tài liệu này một số cán bộ cao cấp của MTGPMN đã họp bàn với ý định mang toàn thể MTGPMN ra hàng. Nhiệm vụ của người cán bộ bị phục kích là mang tài liệu nói trên đến một số cán bộ cao cấp khác cũng có ý định ra hàng. Cơ quan tình báo Hoa Kỳ cho dịch tài liệu này ra Anh ngữ. Ông Chức được giao trách nhiệm thẩm định tài liệu. Ông chức đã kết luận đây là một tài liệu thực, nhưng không biết Hoa kỳ có sử dụng tài liệu này hay không ?

Xem chủ trương của Hồ chí Minh về MTGPMN: “Mình phải đưa Mặt trận Dân tộc Giải Phóng ra. Phải chú ý đến bọn leo nheo, theo đóm ăn tàn…”(HCM, BNTS, tập 8, trang 368) Rồi mới thấy ông Nhu đã nhìn ra tổ chức này để đề ra chính sách Hồi Chánh. Đến năm 1974, sau 10 năm chính sách Hồi Chánh được ban hành, đã có trên 200.000 hồi chánh viên. Nhiều đơn vị cộng sản cấp đại đội, tiểu đoàn đã ra hồi chánh tập thể. Hồi Chánh là một chính sách nhân đạo và thành công nhất của chính quyền Quốc Gia, nhưng lại ít hay không được giới sử gia để ý tới.

Sau 1968, Bắc Việt đã công khai điều động chiến tranh xâm lược miền Nam. Năm 1975, họ cho quân chính quy trực tiếp vượt vĩ tuyến 17, đánh chiếm miền Nam, rồi vội vàng giải thể MTGPMN. Nhiều cán bộ MT cao cấp đã bị bắt, bị quản thúc hay phải trốn tránh ra hải ngoại. Hà Nội phải mang cả một guồng máy cầm quyền từ miền Bắc vào áp đặt lên miền Nam. Hy vọng tài liệu về MTGPMN xin hàng sẽ được tìm thấy trong núi hồ sơ cuả CIA để chúng ta hiểu rõ hơn về tổ chức này.

Hoa kỳ quyết định đảo chánh ngày 24-8-1963

Song song với việc bổ nhiệm Đại Sứ Henry Cabot Lodge, phe chủ chiến Hoa kỳ M - W. Averell Harriman, Roger Hilsman, Ball, Getsinger  và V. Forrestal, đã đồng ký một công điện mang số 243 chỉ thị cho ông Lodge thực hiện cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm. Đây là loại công điện tối mật cần hành động lập tức (top secret and operation immediate). Đô Đốc Harry Felt, Tư Lệnh Mỹ tại Thái Bình Dương, cũng đã góp ý kiến vào việc soạn công điệp này. Công điện đã được đánh đi khẩn cấp vào tối thứ bảy 24-8-1993. Công điện ghi rõ: “Chính phủ Hoa Kỳ không thể để cho Nhu nắm quyền hành trong tay. Chúng ta sẽ cho Diệm cơ hội để tách rời ra khỏi Nhu và bè đảng của Nhu và thay vào đó bằng những nhân vật có khả năng trong giới quân nhân và chính trị có thể tìm được. Tuy nhiên, sau khi dùng mọi nỗ lực mà Diệm vẫn khước từ và đối kháng, chúng ta sẽ phải đối diện với một khả thể: chính ông Diệm cũng không thể nào được để tồn tại.” (Nguyễn kỳ Phong, hình công điện bìa sau sách)

Như vậy việc lật đổ Chính phủ Ngô đình Diệm đã được quyết định trước ngày Maneli gặp ông Nhu. Tất cả những tin đồn, tin chính thức, báo cáo chỉ được dựng lên hay thêm bớt nhằm thực hiện chỉ thị trên.

Tranh chấp giữa hai phe lãnh đạo Cộng sản Bắc Việt

Từ những năm đầu 1950, Trung Cộng đã trực tiếp chỉ đạo chiến tranh, chỉ đạo cuộc chỉnh huấn (một hình thức thanh trừng nội bộ) và cuộc cải cách ruộng đất. Mao Trạch Đông không hề che giấu ý đồ dùng Đông Dương làm bàn đạp và đảng Cộng sản Việt Nam làm công cụ để bành trướng phong trào Cộng sản xuống các nước Đông Nam Á. Do đó không lạ gì khi thành phần công khai thân Trung Cộng như Lê Duẩn (bí thư), Lê Đức Thọ (Tổ Chức Đảng), Trần Quốc Hoàn (Công An), Nguyễn chí Thanh (Quân Đội), … nắm đa số lãnh đạo miền Bắc.  Phe thân Nga chỉ là thiểu số, họ lại còn bị mang tiếng là thiếu tích cực thống nhất đất nước, không cổ vũ việc “giải phóng” miền Nam .

1, 2, 3, 4

Quân Sử Việt Nam (Top)