Lịch Sử Của Việt Nam

Cụ Nguyễn Trường Tộ Hiến Kế Dụng Tây Chặn Tàu Để Bảo Vệ Biển Đông

1, 2

Nguyễn Thanh Giang

Tranh chấp biẻn Đông giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á và đặc biệt với Việt Nam ngày càng quyết liệt. Sự việc càng trở nên nghiêm trọng từ khi họ trình ra Liên Hợp Quốc vào tháng 5 năm 2009 tấm bản đồ hình lưỡi bò “ liếm “ hầu như toàn bộ Biển Đông. Họ ngang nhiên bắt bớ, giam giữ, tịch thu tầu thuyền ngư phủ Việt Nam ngay tại những vùng biển mà cha ông ta vẫn đánh bắt hải sản từ xưa. Báo chí Trung Quốc thẳng thừng tuyên bố: “ Phải gia tăng sức mạnh chấp pháp hải dương tại vùng Biển Đông, xua đuổi và bắt giữ kịp thời những thuyền cá tác nghiệp phi pháp tại vùng biển của ta, đồng thời căn cứ vào luật pháp có liên quan của Trung Quốc tiến hành xử lý, và cũng phải tiến hành hành động chống bắt giữ, chống xua đuổi, nhằm bảo đảm an ninh cho ngư thuyền tác nghiệp nước ta ”.

Họ không chỉ ngăn trở các tập đoàn đa quốc gia BP, Exxon … hợp tác với Việt Nam mà còn xách nhiễu tàu của hải quân Hoa Kỳ qua lại trên vùng biển này. Cho nên trong một hội nghị quốc tế tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia ở Hà Nội, bà Hillary Clinton, ngoại trưởng Hoa Kỳ đã phải tỏ thái độ cứng rắn: “ Hoa Kỳ, cũng như mọi quốc gia khác, có lợi ích quốc gia trong việc tự do đi lại, tự do đi vào vùng biển chung của châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế ở Biển Đông ”.

Về phía các nước Đông Nam Á, tháng 4 năm ngoái, tàu Ngư Chính của Trung Quốc đã bị tàu Malaysia bám theo sát suốt 17 tiếng đồng hồ, cùng lúc, phi cơ chiến đấu của Malaysia đã xuất hiện và bay lượn liên tục khoảng 15 phút bên trên hai chiếc tàu này. Kết quả: tàu Ngư Chính của Trung Quốc phải bỏ chạy.

Đầu tháng 3 năm nay, tàu chiến Trung Quốc đến gây sự với tàu địa vật lý đang thăm dò địa chấn tại khu vực Reed Bank – Trường Sa liền bị không quân Philippines săn đuổi bạt vía.

Trong khi đó, biết là Trung Quốc tổ chức tập trận trái phép trên lãnh hải Trường Sa của mình nhưng một tuần sau đó, ngày 2 tháng 3 vừa rồi Việt Nam mới lên tiếng phản đối; biết là tàu kẻ cướp Trung Quốc đâm chìm tàu của ngư dân ta nhưng báo chí của Đảng chỉ dám nói chại:“ tàu lạ ”! Duy chỉ có lần trong một bài bình luận trên đài phát thanh Thành phố Hồ Chí Minh, người ta nghe thấy tiếng nói của nhân dân địa phương này dám ví hải quân Trung Quốc như hải tặc Somali: “Năm 2009 đã có 33 tàu và 433 ngư dân, từ đầu năm 2010 đến nay 3 tàu và hơn 40 ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc bắt giữ và đòi tiền chuộc, thậm chí tịch thu tàu, ngư cụ, sản phẩm đánh bắt được trên tàu. Việc làm của một bộ phận quan chức Trung Quốc khi bắt giữ tàu và đòi tiền chuộc làm nhiều người liên tưởng đến bọn hải tặc Somali ”.

Các nước trong khu vực: Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei và Thái Lan đã cùng với Mỹ thành lập nhóm “Karat” như một liên minh quân sự bảo vệ cho nhau trước hiểm họa bá quyền Trung Quốc.

Tại Thái Bình Dương, Hoa Kỳ đã có hai quân cảng ở Guam và Changi (Singapore). Dư luận cho biết Hoa Kỳ rất muốn thuê cảng Cam Ranh như Liên Xô trước đây bởi nếu có thêm Cam Ranh thì sẽ hoàn tất được cụm tam giác bao vây Trung Quốc. So với mọi căn cứ hải quân của Trung Quốc việc điều quân từ Vịnh Cam Ranh ra bất kỳ đảo nào ở Biển Đông đều thuận lợi hơn.

Trước thực trạng đó, một số trí thức ưu thời mẫn thế, các nhà cách mạng lão thành, các chính khách và cơ quan thông tấn nước ngoài hỏi tôi: nên làm gì?

Tôi vừa ngợp trước vấn đề khó và lớn quá, vừa không tiện nói thẳng, nói thật, chỉ xin được viện dẫn ý kiến của nhà chí sỹ đại tài Nguyễn Trường Tộ.

Cách đây 143 năm, trong bản văn “ Tiễu trừ giặc biển ” đề ngày 15 tháng 10 năm 1868 Nguyễn Trường Tộ đã cho biết “ đường biển có ba cái hại lớn: Một là gió bão, hai là giặc biển, ba là người Tây.” Trong ba cái hại ấy thì: “ Gió bão thì phạm vào thiên thời, …. làm hại rất ghê gớm, mãi mãi không thôi, rất khó xử trí ”, ” Còn người Tây thì giỏi về thủy lộ, nước ta khó chống đỡ được. Chỉ có cách bình tĩnh mà đối phó, giữ hòa để bao vây, khéo bề xử sự thì họ cũng chưa vội nhiễu hại ta, mà trái lại còn giúp ta nữa ”. Duy bọn “ Người Thanh ( Trung Quốc ) ở trên các đảo này tụ nhau làm giặc. Đây là số giặc biển nhiều nhất trên địa cầu. (Trên địa cầu có hai chỗ có giặc biển, một ở Địa Trung Hải nay đã dẹp yên, duy chỉ có hình thế Nam Dương - tức Thái Bình Dương thì khác. Người Thanh quá đông không có cách gì để trừ hết được) ”.

Với trí xét đoán mang giác quan thần linh, Cụ nhận định: “ Giặc biển là mối hại chung cho cả nước ta, nạn giặc này đã lâu lắm rồi chẳng phải một sớm một chiều nữa mà tương lai cũng không biết đến lúc nào thì hết, nghiễm nhiên là một giặc dai dẳng. Những thứ giặc khác cũng có lúc bại vong, chứ bọn giặc biển này thì cha truyền con nối. Nước ta bị chúng nhiễu hại, nếu chỉ một vài năm còn có thể dần dà mong khỏi, nếu chỉ có một vài lần còn có thể tìm cách bắt. Nhưng đến nay chúng tới lui chẳng phải chỉ một hai năm, cướp bóc giết hại chẳng phải chỉ một hai lần nữa. Sự tổn thất của công và của tư mỗi năm kể có số vạn, đường thương mại không thông, hàng hóa ứ đọng, thật là một cái hại lớn cho sinh dân. Năm này qua năm khác chẳng đã thiệt hại hằng ức triệu đó sao? Dân ven biển, những nhà buôn bán giàu sang là cửa họng của cư dân thượng bạn hạ bạn, thế mà mấy năm nay bị chúng cướp phá giết chóc không biết bao nhiêu nay đã trở thành nghèo cùng ”
Trên cơ sở so sánh tương quan: “ Giặc biển so với binh thuyền người Tây thì cũng như chuột so với hổ mà thôi ”, Nguyễn Trường Tộ đã khuyên triều đình nên “ Nhờ vào thế lực của Tây ”:” Nếu ta biết cư xử thỏa đáng với người Tây thì sẽ cùng nhau sống yên ổn vô sự, mà lại có thể tăng cường tiễu trừ giặc biển khiến chúng không dám lui tới ”.

Cụ đưa ra phân tích chi tiết về mối lợi đôi bên để lôi kéo đồng minh: “ Nay nếu ta thành thật đi lại với họ, coi như anh em, đem việc đó nói rằng: Bọn giặc biển lấy biển làm vườn, lấy nước làm nhà, ẩn hiện bất thường, nước tôi có lắm việc không thể phòng tiễu được hết, nay Tây Nam đã hòa hiếu mà đường đi lại Nam Bắc không thông như thế cũng chẳng lợi ích gì cho quý quốc, quý soái trước đã có lời như vậy nay nếu thỉnh thoảng tuần hành trên mặt biển bắt hết thuyền phỉ giao cho nước chúng tôi xử trị thì chẳng những thông được đường buôn bán mà còn làm tăng thêm tình giao hảo giữa hai nước ”.

Dưới đây là trích đoạn nguyên văn di thảo “ Tiễu trừ giặc biển ” của Nguyễn Trường Tộ:

“ Giặc biển là mối hại chung cho cả nước ta, nạn giặc này đã lâu lắm rồi chẳng phải một sớm một chiều nữa mà tương lai cũng không biết đến lúc nào thì hết, nghiễm nhiên là một giặc dai dẳng. Những thứ giặc khác cũng có lúc bại vong, chứ bọn giặc biển này thì cha truyền con nối. Nước ta bị chúng nhiễu hại, nếu chỉ một vài năm còn có thể dần dà mong khỏi, nếu chỉ có một vài lần còn có thể tìm cách bắt. Nhưng đến nay chúng tới lui chẳng phải chỉ một hai năm, cướp bóc giết hại chẳng phải chỉ một hai lần nữa. Sự tổn thất của công và của tư mỗi năm kể có số vạn, đường thương mại không thông, hàng hóa ứ đọng, thật là một cái hại lớn cho sinh dân. Năm này qua năm khác chẳng đã thiệt hại hằng ức triệu đó sao? Dân ven biển, những nhà buôn bán giàu sang là cửa họng của cư dân thượng bạn hạ bạn, thế mà mấy năm nay bị chúng cướp phá giết chóc không biết bao nhiêu nay đã trở thành nghèo cùng. Thử xem nội tình hình Ba Trang hiện nay đã không nói hết được, thì suy ra cả nước cũng có thể biết như thế nào. Có hằng sản mới có hằng tâm, dân nếu đói khổ thì tuy có bụng thích việc nghĩa việc công cũng chẳng làm được gì. Sở dĩ nước Anh cường thịnh cũng chỉ do trước hết thi hành cái kế sách làm cho của cải dồi dào, và sửa sang binh bị cũng lấy việc nuôi dân làm trước hết. Như thế có thể nói họ biết được cái căn bản. Nước ta một mặt là bờ biển, đất hẹp mà dài, đường bộ khó đi lại, không như hình thế nước khác hoặc tròn hoặc vuông đi lại không xa. Cho nên cái mà ta nhờ vào đó để lấy xa làm gần thì duy chỉ có đường biển mà thôi.

1, 2

Quân Sử Việt Nam (Top)