Lịch Sử Của Việt Nam

Nguyễn Quý An, người bạn tù.

1, 2, 3, 4, 5

...

Tan lớp, về tổ đội từng người phải “động não” mà khai báo sao cho “tốt!”

Giữa năm 1972 (hay 1973?) tôi được Phi đoàn sắp xếp đi học một khóa “Mưu sinh và thoát hiểm” ở Trung tâm huấn luyện Không Quân Nha Trang, giảng viên thuyết trình về “kinh nghiệm khi rơi vào tay kẻ địch và cách khai báo” với Việt Cộng. Vị giảng viên nầy là một phi công trực thăng bị VC bắn hạ, bắt giam và được thả về trong đợt trao trả tù binh. Anh cho biết nếu chẳng may rơi vào tay chúng, ban đầu chúng sẽ ngọt ngào phủ dụ cho mình thành khẩn khai thật, khai hết, chúng sẽ bắt khai đi khai lại nhiều lần để so sánh, đối chiếu. Theo kinh nghiệm của anh thì chỉ nên khai những gì cần khai cho dễ nhớ, những gì giấu được thì bỏ qua, khai thêm, khai bớt hoặc khai trước sau bất nhất chúng sẽ truy vấn đến khổ sở, dù chúng dụ ngọt hay hăm dọa cũng đừng tin, đừng sợ mà phải tỉnh táo giữ vững lập trường. Với hai tiếng đồng hồ, anh trình bày rất nhiều kinh nghiệm trong thời gian anh bị bắt làm tù binh CS, không hiểu sao tôi lại chú ý và ghi nhớ kỷ chuyện “khai báo?”

Tôi cũng kín đáo truyền đạt lại kinh nghiệm nầy cho nhiều người, trừ một vài người tỏ ra “quá tiến bộ” trong “học tập” qua những lần “phát biểu” tự tố cáo mình và tố cáo đồng cảnh một cách hăng say, cuồng nhiệt! Chẳng phải ích kỷ mà chỉ ngại những người nầy đem ra phê bình trước tổ, ngay cả khi có mặt bọn cán bộ thì nguy hiểm!

Đến giờ khai báo, người nào người nấy ngồi im lặng, suy tư rồi cắm cúi viết. An lấy tấm ván nhỏ kê lên hai thùng đạn (loại hộp chứa đạn có nắp kín, dung tích chừng ba, bốn lít, người nào cũng nhặt một hai cái để đựng thức ăn, làm ghế ngồi, đem theo những lần chuyển trại cho đến khi bọn cai tù là công an thì chúng tịch thu hết!) anh kẹp cây bút giữa hai phần cánh tay còn lại để viết, tên cán bộ đi vào nhìn thấy cũng tỏ vẻ ngạc nhiên.

Gần hết giờ quy định cho việc khai bản nháp, tên cán bộ phụ trách đột ngột xuống kiểm tra và gom thu tất cả, kể cả những mảnh giấy ghi chép ngoài, hắn nhặt luôn tất cả những mẫu giấy lớn, nhỏ mà nhiều người vò vứt dưới nền nhà. Hắn bảo các anh được nghỉ ngơi đến sáng mai khai lại và viết sạch sẽ trên mẫu giấy do trại phân phát. Nhiều người không kịp cất giấu mẫu giấy ghi tóm lược những điểm chính để khai lại lần sau như tôi đã chỉ mánh. Trước khi viết bản để nộp may tôi đã đề phòng, cảnh giác nên viết hai mẫu dàn bài tóm tắt và cất đi một bản.

Lúc nầy tôi mới thấy sự ích lợi thiết thực của khóa học “Mưu sinh và thoát hiểm”. Tôi thầm cám ơn chiến hữu Trung úy phi công Trực thăng là vị giảng viên của khóa học, tôi hy vọng và thầm cầu mong anh được may mắn, không lâm nạn lần thứ hai, trong lúc nầy.

Hôm sau, trại phát mẫu giấy “Bản tự khai” để mọi người viết lại, rồi những ngày kết tiếp là những buổi “ngồi đồng” căng thẳng để “kiểm điểm: phê và tự phê” bản tự khai của từng người. Mỗi người lần lượt đọc bản tự khai của mình, những người khác trong “tổ học tập” nêu câu hỏi thắc mắc xem đương sự đã khai đúng, khai đủ, khai thành thật chưa? Có những điểm nào không rõ ràng, chưa thành khẩn thì mọi người phải “góp ý phê bình giúp đỡ” để đương sự phải “nhận sai sót khuyết điểm” mà khai lại cho đúng.

Tên cán bộ ngồi theo dõi thấy chúng tôi có vẻ miễn cưỡng đặt câu hỏi chung chung, vô tội vạ, không cố ý “đấu tố” nhau, hắn gay gắt: “Các anh còn tiêu cực, bao che tội lỗi cho nhau, chưa mạnh dạn nhìn nhận tội lỗi của mình, cũng như chưa thẳng thắn phê bình, giúp đỡ cho người khác thấy! Như thế thì các anh làm sao mà mong tiến bộ được”

Được kích động, vài người bắt đầu đào sâu, tìm cách để “tố” đồng cảnh, hoặc tự phê rằng mình còn khai thiếu sót,  tự che giấu. Tên tên cán bộ tỏ vẻ hài lòng:

-Đấy! Các anh phải mạnh mẽ phê và tự phê như vậy. Nhưng đó cũng mới chỉ là bước đầu có tiến bộ, các anh phải mạnh dạn hơn nữa! Các anh còn tự giấu diếm và bao che cho nhau nhiều lắm.

Nghe kể ở những tổ khác có người còn tự bịa ra rằng trong những cuộc hành quân đã đốt bao nhiêu nhà, bắn chết bao nhiêu “cách mạng”, được cán bộ khen là rất thành khẩn! Có một người còn đấu tố rất hăng vị chỉ huy trực tiếp của mình cũng đang ở trong trại nầy!

Những người thân thiết, tín cẩn trong tổ “học tập” của tôi vẫn ngầm bảo nhau nhất định ù lì không mắc mưu và đừng quá sợ hãi vì những lời dụ dỗ, răn đe của bọn chúng, giữ một lập trường “phát biểu chung chung!” Rồi cũng qua, “kiểm điểm bản tự khai” của người cuối cùng trong tổ xong, tên cán bộ phụ trách thu hết bản tự khai và phát bản mới bắt viết lại với lời dặn “Lần nầy là lần chót, các anh phải khai cho đúng, khai thật, khai hết!”

Tôi nhủ thầm “Ừ! Thì khai hết! Trước sau như một!”

Càng ở lâu trong nhà tù CS mới thấy sự thâm hiểm của chúng về Mười bài học nhồi sọ, bước đầu khủng bố tinh thần trước khi chúng khéo léo vừa khuyến dụ vừa đe dọa người tù phải “thành khẩn khai báo: khai thật, khai hết!” Để rồi “Bản tự khai” là bản cáo trạng mà từng người tù phải tự kết tội cho chính mình, thậm chí là một bản án tử hình, một khi bọn cai tù cần đến mà tòa án “nhân dân” của chúng khỏi mất công soạn thảo!

 Như sau nầy, chỉ một thời gian ngắn sau khi học tập khai báo xong, chuyển trại lên Suối Máu-Tân Hiệp, ngày xử án hai người vượt ngục là anh Tư và anh Bé, công tố chỉ cần đem “bản tự khai” của hai anh ra đọc rồi đúc kết:

 “Đấy! Tội ác của các anh đối với cách mạng, đối với tổ quốc và nhân dân do chính các anh khai báo, nay các anh không chịu yên tâm học tập để nhận được sự khoan hồng của đảng và nhân dân, các anh còn âm mưu trốn ra ngoài để tiếp tục chống phá cách mạng, nhưng cách mạng vẫn luôn đối xử nhân đạo với các anh, giúp các anh không tiếp tục gây thêm tội ác đối với nhân dân nữa bằng cách tuyên án “Tử hình!”

Ngay lập tức, toán thi hành án xông lên, nhét trái chanh vào mồm hai tử tội và lôi nạn nhân ra pháp trường, không chậm trễ.

Bản tự khai cũng chính là trọng lượng nặng nhẹ của từng người để xếp loại và chuyển trại thích hợp cho việc cai quản, hoặc để tiện việc “xét tha” sau nầy.

“Học tập và khai báo” xong, tinh thần bớt căng thẳng. Tiếp tục những công việc dọn dẹp quanh trại. Những buổi rảnh rỗi, An nhặt miếng sắt mỏng đem mài thành lưỡi dao để sử dụng lặt vặt, nhiều anh em bắt chước làm theo. Một tên cán bộ tình cờ trông thấy, hắn ra lệnh đem nộp và cấm tiếp tục. Nhiều người chế dụng cụ đào hà thủ ô, nấu nước uống, có người lấy được nhiều phơi khô dể dành, tính nay mai đem về làm quà!

Một ngày Chủ nhật nghỉ, anh Lưu Tùng Cương và tôi tìm thấy dây khoai mài gần gò mối ngoài bãi đất trống, anh và tôi thay nhau đào xuống sâu bốn mét, hơn ba ký củ, cả hai tổ góp đường nấu chè.

Vào một buổi sáng “lao động xã hội chủ nghĩa” ngày Chủ nhật, thấy có một phái đoàn “cấp cao” ở đâu tới “kiểm tra”, họ dừng lại gần tổ chúng tôi, thấy An đang phụ với anh tổ trưởng kéo chùm kẽm gai, một người chỉ trỏ và nói gì đó với mấy người kia, một người lấy giấy bút ra ghi chép. Thế là anh em lại bàn tán, có người nói “Chắc là An được cho về, trước khi bọn mình mãn khóa!”

Quả nhiên, ít hôm sau, An được gọi lên ban chỉ huy trại để “làm việc”. Anh được thông báo sẽ được cho về. Ai cũng mừng, phần thì mừng cho anh, phần thì hy vọng cũng sẽ đến lượt mình.

Trong mấy ngày An làm thủ tục chờ đợi, nhiều người đọc địa chỉ của mình nhờ anh về Sài Gòn nhắn tin, không ai dám ghi lên giấy. Tôi cũng nhờ anh về nhắn với người em chú bác ở cư xá Vĩnh Hội. Lúc anh đi, tôi chào và nhắc “nhớ giúp nghe”, thế là anh đọc đúng tên người và địa chỉ mà tôi đã nói với anh mấy hôm trước. Tuy nhiên tôi vẫn nghĩ bụng, về Sài Gòn, có lẽ bận rộn công việc, anh không thể nhớ hết từng ấy địa chỉ của nhiều người, hơn nữa thời buổi nầy đi lại cũng khó khăn, nên tôi cũng không hy vọng và thấy cũng chẳng có gì quan trọng, chỉ muốn nhắn cho người nhà biết tin để yên tâm, thế thôi!

Vậy mà, gần bảy năm sau, khi tôi về thì người em nhắc lại  “Hồi anh đi được hơn ba tháng, có một ông đi xe đạp với hai cánh tay giả tới đây nhắn tin, anh ấy nói là ở cùng chỗ với anh mới được cho về trước.” Tôi càng thêm thán phục trí nhớ và thiện chí của An.

 Trước khi về, An để lại cho tôi tấm nylon mà trại phát làm chiếu nằm, thứ nylon dệt sợi để may bao cát, tôi đem theo lúc chuyển lên trại Suối Máu, tháo rời cả hai tấm rồi xe sợi, đan đủ một chiếc võng, tôi đã mang theo nhiều trại qua những năm tháng sau nầy. Mắc võng nằm những buổi chiều ở rừng Bù Gia Mập, những buổi trưa nắng ở Bù Đăng…lại chợt nhớ tới An, chẳng biết tình cảnh của anh ra sao bên ngoài cái xã hội khốn khó nầy?

Hết hạn, rồi tôi cũng được thả về! Từ Xuân Phước ghé Nha Trang hai ngày tôi về tạm trú ở Vĩnh Hội mấy hôm nữa và xuống Giá Rai, Bạc Liêu, gia đình nhà vợ đang tạm cư ở đó.

*

1, 2, 3, 4, 5

Quân Sử Việt Nam (Top)