Lịch Sử Của Việt Nam

Nguyễn Quý An, người bạn tù.

1, 2, 3, 4

...

Lạ tai về hai tiếng “cơ động” nhưng tất cả mọi người đều ngầm hiểu và nhất loạt nhỏm thu xếp chăn mùng, nhanh gọn cho vào túi xách. Không ai nói tiếng nào, chỉ có tiếng động sột soạt, càng làm tiếng xe bên ngoài rộn ràng thêm lên giữa đêm khuya. Thu xếp xong chỉ trong vòng mấy phút, tôi quay lại tính phụ giúp An thì anh đã ngồi trên ba lô gần lối cửa.

Lúc xếp hàng xuống sân để ra xe giữa hai hàng vệ binh súng ống lăm lăm cầm tay, tôi cố ý đi gần An để giúp anh khi cần, nhưng anh đã đứng cách sáu, bảy người phía trước. Ra tới đường, mọi người lần lượt lên xe, những chiếc Motolova phủ kín trần, ngồi bó gối chật ních giữa sàn xe, nhiều tiếng thở dài lo lắng, có tiếng xì xầm bàn tán, hoang mang chẳng hiểu chúng nó đem mình đi đâu giữa đêm khuya?

Tôi định nói vào tai mấy người ngồi cạnh phải cảnh giác trường hợp Tết Mâu Thân để đối phó nếu có chuyện bất trắc xẩy ra, nhưng hai tên vệ binh đã nhảy lên chống súng ngồi hai bên thành cửa xe phía sau và hai tên khác trên đầu xe, phía bên ngoài.

Đoàn xe lần lượt chuyển bánh qua những con đường phố khuya im lìm, ánh điện vàng vọt, ra xa lộ về hướng Long Khánh, rừng cao su hai bên tối om. Tôi cảm thấy bồn chồn lo lắng về hình ảnh Mậu Thân, miên man nghĩ cách đối phó nếu tình huống xấu xẩy ra. Rồi tôi lại tự trấn an là trường hợp sẽ xẩy ra như thế nếu Mỹ quay trở lại dưới bất cứ hình thức nào, ném bom hay đổ quân. Nhưng rồi tôi tin chắc là không đời nào! Những lực lượng nhỏ, lẻ tẻ còn kháng cự không đủ sức làm chúng sợ để phải tiêu diệt ngay những kẻ đang ở trong tay.

Đêm càng về khuya khí hậu rừng lạnh lẽo. Đoàn xe rẽ vào một doanh trại cũ thì trời vừa hừng sáng. Có người cho biết đây là căn cứ Long Giao của quân đội Mỹ đóng sau nầy đã bàn giao cho Trung đoàn X…Chúng tôi xuống xe, trời chưa sáng hẳn, sương xuống dày đặc, hơi lạnh buốt cóng chân tay. Chúng tôi được chỉ vào một căn nhà kho mái tôn, cao rộng, dấu vết hoang tàn, ẩm mốc…căn nhà chứa đủ bốn đội, non 120 người.

Trời sáng nhanh, chúng tôi dọn dẹp và phân chia chỗ nằm. Mỗi người đi lượm nhặt những tấm ván ép, giấy carton cũ, bao cát để kê lót chỗ nằm của mình. Căn nhà được gọi là “láng”, Bác sĩ Cẩm được cán bộ chỉ định làm “láng trưởng”, Bs Cẩm là Trung tá Quân y , Chỉ huy trưởng Quân y viện Quy Nhơn, dáng người ông cao lớn, chừng ngoài bốn mươi, tư cách chững chạc, trước mặt bọn cán bộ ông không tỏ vẻ khúm núm, sợ sệt như một vài người. Trước mặt anh em, những lần tập họp điểm danh, chia công tác, trong khi chờ tên cán bộ đến, ông luôn ôn tồn khuyên nhủ và an ủi mọi người cũng là cách tự trấn an mình. Lời lẽ của ông khá khôn khéo để anh em đồng cảnh không buồn lòng và bọn chúng có nghe được cũng khó bắt bẻ, gán tôi.

Chỉ mới có mấy ngày ở đây mà đã cảm thấy không khí tù túng, ngột ngạt, lâu dài. Lao động là làm những công việc tạp dịch lặt vặt, dọn dẹp cỏ rác trong doanh trại, sửa sang lại những hàng rào kẽm gai, những con đường đất đỏ bị xói mòn qua mùa mưa trước. Ai cũng trông đến ngày được “học tập” cho xong để được về nhà sớm!

An đáng lẽ được miễn lao động, nhưng anh vẫn đi theo anh em, anh nói:

-Đi làm với anh em cho vui, ngồi nhà cũng buồn. Hơn nữa thấy anh em phơi nắng, dầm mưa mình cũng thấy áy náy.

Không cản được, mọi người cũng chiều theo ý của anh.. Chỉ khi nào công việc quá nặng nhọc, hoặc những buổi chiều nắng gay gắt, nhiều người mới khuyên anh ở nhà giúp dọn dẹp vặt vãnh, tới giờ đi nhận phần cơm trước cho tổ, đội.

Mới ba tuần lễ mà thời gian như cả mấy tháng, nhiều người nôn nóng, trông đợi ngày giờ được “học tập!”

Thế rồi ngày đó cũng đến! Căn “láng” chúng tôi đang ở phải giải tỏa để dùng làm hội trường. Các đội được phân tán vào những nhà khác. Đội của tôi có hai tổ dọn qua căn nhà tôn mới dựng bên kia nhà bếp và giếng nước, còn một tổ ở chung nhà với đội bên cạnh. An và tôi thuộc tổ I, bên trái. Anh muốn nằm đầu bìa cho tiện việc treo mùng và đứng lên ngồi xuống dễ dàng, anh tổ trưởng cho tôi nằm kế An để giúp anh khi cần. Mặc dù mọi người trong tổ, đội lúc nào cũng sẵn sàng muốn giúp anh bất cứ việc gì, nhưng tính anh rất tự trọng, đầy nghị lực và nhẫn nại, anh nói cứ để anh làm lấy cho quen, nhờ vả hoài sẽ trở nên ỷ lại và lười nhác.

Đối với tôi, An là khóa đàn anh xa nên tôi vẫn tôn trọng trong cư xử, trái lại anh nói: “Mình cũng sàng sàng, xấp xỉ nhau cả, cứ coi như bạn bè cùng lứa.”

Nằm kế tôi là ông Lô Hồng Chân, tổ trưởng tổ I, đến ông Sen Sao Khao, đội trưởng, cả hai là sĩ quan Thanh tra thuộc Bộ Tổng Tham Mưu gốc người Nùng, tính tình bộc trực, hiền lành chất phát. Tổ II nằm phía đối diện, anh Hảo là tổ trưởng, nằm cạnh Hảo là anh Lưu Tùng Cương, trước An mấy khóa, trông anh rất trẻ, hiền lành vui tính và ít nói.

Chuyện trông đợi rồi cũng đến, những buổi sáng tập trung một nửa trại lên hội trường để “học tập” gọi là “lên lớp”, nửa trại còn lại có “lớp” buổi chiều. Những cán bộ thuyết trình “giảng dạy” gọi là “giáo viên”, những người nầy nói năng trơn tru, lớp lang, mạch lạc , thuộc lòng, nhắm đúng tâm lý những người thua cuộc đang hoang mang lo lắng, nên ai cũng cảm thấy nhẹ nhõm, yên lòng.

Trong thời gian “học tập” được gia tăng phần ăn lên một chút, có nhiều bữa ăn mỗi người được chia một mẫu thịt bằng đầu ngón tay cái, làm cho ai nấy cũng thấy “phấn khởi”. Ai có đem theo tiền được cho “đăng ký” (lập danh sách) rồi đội trưởng đi theo cán bộ ra “căn tin” (câu lạc bộ, cửa hàng nhu yếu phẩm) của trại để mua đem về phân chia: đường sữa, thuốc lá…

Sau những buổi sáng “lên lớp” ở hội trường, những buổi chiều phải ngồi “thảo luận” từng tổ 15 người, anh em gọi là “ngồi đồng!” Thảo luận “bài học” buổi sáng, chung quanh những câu hỏi đã được hướng dẫn sau mỗi buổi học, một viên cán bộ “chính huấn” đến ngồi theo dõi suốt buổi. Một vài người khai mào “phát biểu”, rồi ai cũng phải “cố gắng” phát biểu, cho lấy có, tên cán bộ như soi rõ tâm lý đám “học viên”:

-Các anh phát biểu thì phải cho “sâu, sát”, nghĩa là các anh phải thấy rõ “bản chất của Đế quốc Mỹ là xâm lược”, “ngụy quyền Sài Gòn là tay sai”, mà các anh là thành phần cao cấp trong chế độ, được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi. Các anh đừng có phát biểu chung chung mà phải “động não”, phải “xoáy sâu vấn đề”: đảng CSVN đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là đỉnh cao trí tuệ của loài người, Bác đã lãnh đạo đảng và nhân dân đi từ thắng lợi nầy đến thắng lợi khác, đã chiến thắng ba Đế quốc to là Pháp, Nhật, sừng sỏ nhất là Đế quốc Mỹ. Vì vậy, các anh phải thấy được thời đại Hồ Chí Minh là thời đại vẻ vang nhất trong lịch sử Việt Nam.

Mới “học tập” được vài bài mà tinh thần ai nấy quá căng thẳng, lúc nầy mới thấy đi lao động “khỏe hơn”, nắng mưa nhọc nhằn một chút nhưng không cảm thấy nhức đầu buốt óc, nghe những lời rêu rao nhân nghĩa giả dối đầu môi, ép buộc người thất thế phải tự kết tội, phải tự xỉ vả mình, đồng cảnh phải tố cáo lẫn nhau!

Thế rồi mười bài học cũng trôi qua. Có người  còn lạc quan rằng “học” xong sẽ “mãn khóa”. Lại có kẻ loan tin đã dựng xong lễ đài mãn khóa ở trại Sóng Thần. Nhiều đêm nghe tiếng đoàn xe di chuyển đâu phía ngoài đường lộ, có người nhỏm dậy kêu lên “Xe tới rồi anh em ơi!” Làm nhiều người choàng tỉnh dậy theo, có lần tôi buôt miệng:

-Ngủ đi mấy cha nội ơi! Phải “học” thêm năm, mười năm nữa, không phải một hai tháng đâu mà bật rật!

 Nằm trong mùng anh Viễn lên tiếng mắng vốn:

-Cha nào miệng ăn mắm, ăn muối nói bậy bạ, xui quẩy!

Lại có người phụ họa, như trút tức bực:

-Đúng là thối mồm!

Tôi im luôn, chính tôi cũng giật mình khi nói ra ý nghĩ thầm kín mà sau nhiều ngày nghiền ngẫm lá số Tử vi của một số người mới quen biết khi vào đây trong. Suy đoán từ cộng nghiệp của một nhóm nhỏ nằm trong tập thể lớn. Tôi cũng mong rằng điều tôi nghĩ là không đúng, lời tôi nói là sai bậy! Nhưng sau mấy lần chuyển trại, nhiều người vẫn còn đi chung với nhau, khi lên Bù Gia Mập, ra Xuân Phước… như anh Phạm Đức Vui, anh Hồ Viết Viễn, đôi khi còn nhắc chuyện cũ để nửa đùa, nửa thật: “Cũng tại chú mầy nói nói bậy mà mình ở tù lâu!”

Sau những buổi “lên lớp” rồi về tổ, đội “đào sâu thảo luận” từng “bài học”, ít hay nhiều ai cũng phải “thấm nhuần đường lối chính sách của Cách mạng”:

-Bây giờ các anh đã thấy rõ tội lỗi của các anh đối với nhân dân và “cách mạng!”  Nay các anh đã được đảng và nhân dân khoan hồng mà tha cho tội chết; vì vậy mà các anh phải biết ăn năn hối cải, phấn đấu học tập rèn luyện để sớm trở thành người công dân tốt trong xã hội mới, để sớm được trở về sum họp với gia đình! Bước đầu sự tiến bộ của các anh sẽ được đánh giá trong “Bản tự khai”.  Các anh phải khai báo cho thành thật với “cách mạng”, như vậy các anh mới mong sớm “giác ngộ” mà về đoàn tụ với vợ con được!

Đó là lời tên chính huấn nói sau khi hết bài học cuối cùng! Tôi mơ hồ chiếc bánh vẽ đang treo lên tường! Buổi “lên lớp” tổng kết để chấm dứt mười “bài học”, để giáo viên hướng dẫn cách “tự khai” từng đề mục, từng chi tiết và giải đáp mọi thắc mắc của “học viên!”

1, 2, 3, 4

Quân Sử Việt Nam (Top)