Lịch Sử Của Việt Nam

Nguyễn Quý An, người bạn tù.

1, 2, 3, 4

Mang cái túi xách tay, chỉ chứa đủ một bộ quần áo cũ, chiếc mùng nhà binh, khăn mặt, bàn chải răng và mấy gói mì con cua, tôi lội bộ từ nơi tạm trú, cư xá Trung Dũng, trại gia binh của ban Quân Nhạc và đơn vị phòng vệ Đô thành, gần cuối đường Hồng Thập Tự phía cầu Thị Nghè, đến trường Nguyễn Bá Tòng. Cánh cổng trường chỉ hé mở, một tên bộ đội đứng gác. Vào bên trong cũng hai hàng vệ binh, súng cầm tay, mũi súng gắn lưỡi lê chỉa xuống đất. Tôi hơi giật mình, bước đến trước mấy chiếc bàn xếp dọc dài giữa sân, bốn người mặc quân phục xanh lá cây, chừng là sĩ quan, trên cổ áo mang những ngôi sao vàng nền đỏ thẩm, những chiếc nón cối cũng màu xanh, đội sụp xuống che khuất cả chân mày, chỉ thấy những con mắt sòng sọc nhìn lên, ngó xuống. Họ ngồi thu giấy tờ. Người ngồi cuối ghi chép xong, y hất đầu như ra lệnh cho tôi đi vào theo lối có toán vệ binh đứng gác cách nhau một tầm tay giữa hai người. Tôi bước lên lầu hai theo chỉ dẫn. Tên bộ đội đứng đầu hành lang chỉ tôi vào một phòng học, bàn ghế đã được xếp chồng về một góc.

Hôm nay thứ Sáu, 13 tháng 6- 1975, còn những ba ngày nữa mới hết hạn “đi trình diện”, nhưng Phường Khóm đã đến tận nhà để nhắc nhở, thúc giục từ chiều hôm qua. Họ nói các anh không nên chậm trễ, không ai “đảm bảo” an ninh cho các anh, vì “nhân dân” đang căm thù các anh lắm, đi trình diện sớm để được “nhà nước cách mạng” bảo vệ!

Không biết họ “sắp đặt” nhân sự từ lúc nào mà chỉ mới hơn một tháng đã có ngay những kẻ thừa hành khá “chuẩn mực” cả trong ngôn ngữ mới, lạ?

Thôi thì đi “học tập” một tháng cho xong, để được cấp giấy tờ trở về quê, không còn con đường nào khác. Nhưng khi bước đi giữa hai hàng vệ binh lầm lì, đằng đằng sát khí, tôi cảm thấy có điều gì bất ổn. Tôi hối tiếc đã không nán trễ thêm môt ngày để dò xét tình thế. Tôi tiếc đã không nghe lời người bạn rủ trốn về miền Tây; vào đến đây thì mọi việc đã an bài! Tôi lại nhẩm tính cái vận hạn mười năm “Liêm, Tham, Kình Đà, Không, Khiếp…” của mình mà buông xuôi, thúc thủ mặc cho định mệnh!

Đã có mấy người vào trước đang ngồi tựa vách tường, im lặng, quay nhìn chào tôi, người mới tới, bằng ánh mắt. Cứ ít phút lại có thêm một người bước vào, nét mặt người nào trông cũng hốc hác, thất thần, thiếu ngủ. Khi sĩ số trong phòng đã hơn một tiểu đội, bắt đầu có nhiều tiếng thì thầm, hỏi nhau tin tức từ những nơi khác. Tin đồn về những đơn vị còn chiến đấu, không chịu buông súng. Mấy vị tướng, nhiều chiến sĩ, những quan chức đã tự sát, tậpthể, cá nhân hay cả gia đình. Có người kể lại vụ một sĩ quan Thiết giáp đã bắn vào đầu vợ và mấy đứa con rồi quay súng vào đầu mình tự sát ở cư xá Chí Hòa. Về sau nầy có người cho biết đó là anh Lê Văn Hồng, người bạn của tôi, cùng khóa 66A SVSQKH. Hồng không may bị loại phần khảo hạch quân sự nên đã vuột mất hoài bão “lướt gió tung mây”, từ ngày anh chuyển qua Bộ binh, tôi chưa một lần gặp lại anh, một người đẹp trai, hiền lành vui tính, anh có một giọng ca khá truyền cảm. Không ngờ một người như anh lại có hành động can trường như thế.

Cứ năm, mười phút lại có thêm người mới vào phòng. Phòng chỉ chứa trên hai chục mạng. Người cuối cùng vừa bước vào mặc bộ bà ba đen, mang hai cánh tay giả, mà bàn tay là là cái móc sắt trắng. Có người lên tiếng tuy nhỏ, nhưng ai cũng nghe, vẻ ái ngại:

-Thương phế binh đã đến lượt đâu mà anh vào đây sớm làm gì?
Anh cười, hồn nhiên:
-Phường khóm họ bảo đi thì mình cứ đi, chứ có biết gì đâu? Mấy ông “cách mạng” thì chưa nghe thấy nói gì, mà mấy ông “Ba mươi” ghê quá!
Anh nói tiếng Bắc, trông anh có vẻ điềm tĩnh. Mọi người đều cố nói chuyện với nhau thật khẽ. Những câu chuyện trao đổi rì rầm giữa các nhóm hai, ba người đứng hoặc ngồi trong căn phòng chật hẹp. Trong ánh mắt, nụ cười, mỗi người đều có những mối lo âu riêng về những ngày sắp tới. Chẳng ai buồn hỏi tên tuổi mà chỉ hỏi thăm nhau về binh chủng, đơn vị và ở đâu, làm gì trong những ngày cuối cùng. Trong phòng nầy có tới năm mạng Không quân: Một phi công F5 đã giải ngũ, về sau nầy mới biết tên anh là Lưu Tùng Cương, người mất hai cánh tay là Nguyễn Quý An, Phi đoàn 219 Lôi Hổ, Bùi Văn Thời, Phi đoàn quan sát. Anh Hảo sĩ quan không phi hành và tôi.

Trời mới hơi xế chiều, Những người mới vào ngang qua hành lang để đến những phòng kế thưa dần. Một tên bộ đội vào phòng đọc lại danh sách, chỉ định tổ trưởng, đội trưởng. Rồi hắn đọc mấy điều “nội quy” và dặn tới giờ ăn thì đội trưởng, tổ trưởng cử người xuống sân lấy phần cơm lên chia nhau.

Trong thông báo nói cơm nước đặt nhà hàng của khách sạn cung cấp, nay chỉ thấy phát một chậu cơm chưa chín đều và thau cá ngừ kho với nước muối còn mùi tanh tưởi. Mọi người cố nuốt cho qua bữa với nỗi chán chường, ngán ngẫm.Tôi để ý thấy An tháo hai cánh tay giả dựa vào tường, đặt tô cơm trên túi xách cá nhân, anh dùng hai phần cánh tay còn lại kẹp chặt chiếc thìa xúc cơm ăn, không mấy khó khăn.. Ăn xong anh lần bao thuốc lá Quân Tiếp Vụ trong túi áo ra, ngắm hình người lính ôm súng lao tới trên nền cờ vàng sọc đỏ, một thoáng tư lự, anh lắc nhẹ bao thuốc rồi đưa một điếu lên môi. Anh lại lần hộp quẹt zippo trong túi áo ra, anh giữ chặt giữa hai cùi tay lắc mạch cho bật nắp rồi kẹp giữa hai đầu gối, dùng đầu cánh tay bật bánh xe và giữ chặt vị trí giữ ngọn lửa để mồi thuốc. Xong anh buông bánh xe, ngọn lửa tắt, anh lắc ngược trở lại đậy nắp cho vào túi. Những động tác chậm rãi, nhưng đều đặn, nhịp nhàng, quen thuộc.

Tối đến, mọi người đi ngủ sớm.Tôi thấy An kéo mùng ra, đứng tìm vị trí để treo. Tôi giúp anh mắc một đầu, rồi căng mùng nằm cạnh đó. Nằm trằn trọc mãi, một lúc đã có nhiều tiếng ngáy lớn, nhỏ. Cũng có người còn thao thức, thở dài.

Những ngày thứ hai, thứ ba, sự lo lắng sợ sệt của ngày đầu nơi mọi người đã vơi bớt, nhưng thời gian trôi đi quá chậm. Những đợt người tiếp tục đi vào dưới sân trường. Nội quy không ai được đi ra khỏi phòng, ngoại trừ đi vào nhà vệ sinh gần đó. Vài người ngồi gần cửa hay đứng lấp ló để ngóng tìm người quen mới vào, đi ngang qua ngoài hành lang.

Đội trưởng và mấy tổ trưởng được chỉ thị lập danh sách “trích ngang”, thu tiền ăn của tổ viên đóng góp như đã quy định trên thông cáo, tiền ăn một tháng! Ai nấy chẳng có việc gì ngồi tụm năm tụm ba hút thuốc, kể đủ thứ chuyện cho qua ngày giờ.

Một người hỏi An về trường hợp của anh. Trước đây giữa cuộc chiến dầu sôi lửa bỏng, nhiều câu chuyện bi hùng của nhiều đơn vị, cá nhân… không phải ai ai cũng biết hết, có khi chỉ nghe biết loáng thoáng rồi lắng chìm, lãng quên theo tình hình sôi bỏng từng ngày. Nay có thì giờ vô tích sự, ngồi nghe một nhân chứng cũng chính là người trong cuộc kể lại nhiều chi tiết sống động gian nguy và quả cảm trong những phi vụ rải và đón biệt kích.

Người phi công khu trục được tiếng oai hùng, dù ai chẳng may lãnh đạn phòng không của địch, thì trước khi “đi không ai tìm xác rơi”, ít nhất anh cũng đã dội lên đầu thù những trái bom nặng ký.

Người phi công Lôi Hổ chiến đấu âm thầm, nhận nhiều hơn cho. Vài cây đại liên trang bị trên phi cơ không đủ làm cho địch quân tán loạn, mà chỉ để được đáp trả bằng những loạt đạn đủ loại bắn lên từ những hang núi hóc rừng, khi chiếc H34 cồng kềnh phải đáp xuống trong những điều kiện vô cùng khó khăn, nguy hiểm. Những chiến sĩ biệt kích gan lì, chiến đấu rất cô đơn, mỗi toán hai, ba người giữa núi rừng trùng điệp, quân thù vây bọc tứ bề, không những phải gan dạ mà còn phải mưu trí và biết ứng biến trong từng giây phút. An kể chuyện tự nhiên và sống động, đôi khi anh ngưng lại với vẻ cảm xúc mỗi lần nhắc tới một đồng đội, một phi hành đoàn phải hy sinh hay bị địch bắt giữ mà không có cách nào cứu được, những chiến hữu biệt kích có đi mà không trở về.

Anh kể lại phi vụ cuối cùng, chiếc H34 anh lái bị bắn cháy ở cao độ, con tàu như bó đuốc lao xuống từ trên cao, anh ráng bình tĩnh đáp khẩn cấp xuống chỗ trống, mỗi một tích tắc là một nỗi chết đau đớn kinh hoàng, anh cố cứu lấy phi hành đoàn; nhưng khi đáp xuống an toàn, anh xô cửa nhảy ra khỏi phi cơ thì không nhìn thấy người phi công phụ, anh lăn nhiều vòng cho dập tắt ngọn lửa  phủ quanh người, rồi anh cũng bất tỉnh.

Tôi hỏi anh người phi công phụ là ai? Anh nói Nguyễn Hải Lộc, người Huế, có quen không? Tôi nói Lộc khóa 65 E , hồi đó ở Tân Sơn Nhất tôi có biết tin anh ấy bị bắn rơi máy bay và tử thương nay nghe anh kể lại mới rõ chuyện. Anh nói có lẽ Lộc nhảy ra trước khi phi cơ chạm mặt đất và chạy trốn vào bụi rậm, rồi đuối sức và bất tỉnh, nên khi toán cấp cứu đến thì không tìm thấy.

Tôi hỏi về trường hợp anh đã cứu một phi hành đoàn Mỹ ngộ nạn mà báo chí từng đề cập. Anh kể lại từng chi tiết, nghe xong mới thấy anh là tay gan lì, quyết đoán và đầy tình người. Tôi nói:

-Nghe kể cũng đủ lạnh cẳng, anh liều lĩnh thật!

Anh cười:

-Chỉ là phản ứng tự nhiên, khi cất cánh lên an toàn rồi, nghĩ lại cũng giật mình chứ!

*

Đêm thứ ba, khi tôi vừa chợp mắt thì nghe có tiếng xe ầm ỳ trên đường phía trước cổng trường, tiếng chân người đi lại ngoài hành lang, vài người ngồi dậy trong mùng nghe ngóng. Có người bước vào phòng bật đèn lên và ra lệnh:

-Tất cả dậy thu xếp tư trang, chuẩn bị sẵn sàng “cơ động!”

1, 2, 3, 4Quân Sử Việt Nam (Top)