Lịch Sử Của Việt Nam

Những Người Muôn Năm Cũ

Hồn Ở Đâu Bây Giờ ?

1, 2, 3

Giao Chỉ, San José

“Giữa các chức vụ kể trên, anh Liễu tham gia rất nhiều cuộc đảo chánh nên gần như không được giao chỉ huy đơn vị. Phần lớn là công tác tham mưu, huấn luyện hay ngồi chơi xơi nước. Tính tình cương trực, nóng nảy nhưng rất nhiều sáng tạo và nhiệt thành. Phạm văn Liễu có khả năng thuyết phục và có dòng máu cách mạng luôn luôn chảy trong huyết quản ngay từ lúc còn là cán bộ quân chánh của Quốc dân đảng tại Vĩnh yên từ 1945.”

Trong khi đó tại bộ TTM, bác Dương cũng đã từng biết Phó đề đốc Hoàng Cơ Minh, một tướng lãnh trẻ tuổi của hải quân đã có những thành tích xuất sắc trên các chiến trường miền Nam với hoạt động của các hải đoàn xung phong. Ðã có một thời gian ngắn, tướng Minh là tư lệnh của mặt trận thủy bộ duyên hải trong giờ phút tuyệt vọng tại quân khu II trên biển Ðông.

Trăng tròn rồi trăng khuyết, mây hợp rồi mây tan. Người gần để ly biệt.

Bác Dương này, bây giờ để tôi nói cho bác rõ Liễu với Minh gặp nhau ra sao và tan hàng như thế nào. Ông Liễu ở tuổi bác, anh Minh thì ở tuổi tôi, nhưng đó là những người ngoại hạng. Lúc nãy tôi có nói năm 1980 ông Liễu với anh Minh về San Jose thuyết phục chúng tôi gia nhập kháng chiến. Cũng năm đó Hoàng Cơ Minh “take over” Lực lượng quân dân của trung tá Lục Phương Ninh rồi đem nhập vào Phục Hưng và Người Việt Tự Do từ Nhật để thành lập Mặt Trận. Sau này Phục Hưng rút ra, sự kết họp tổ chức chỉ là hình thức. Sự giao duyên của Liễu và Minh là yếu tố chính. Anh Minh sẽ là đầu tầu trở về và ông Liễu xây dựng hải ngoại.. Cụ Phạm Ngọc Lũy, thuyền trưởng tàu Trường Xuân là thành phần yểm trợ. Ngày 8/3/1982 tin tức mặt trận đưa lên TV thời sự Hoa Kỳ chỉ có hơn 4 phút làm rung động thế giới Người Việt hải ngoại.Với kịch bản đóng trong rừng núi Thái Lan kháng chiến trở thành thực thể và khởi đi như sóng trào dâng trong lòng người, tràn ra khắp mọi nhà. Lúc đó, tôi hết sức hân hoan, viết một bài báo đầu tiên ca ngợi kháng chiến, đó là bài “Ðường mòn Hoàng Cơ Minh.”

San José, 1984

Cao điểm của phong trào là năm 1983 kháng chiến tổ chức đại hội chánh nghĩa tại Hoa Thịnh Ðốn. Những ngày tháng vinh quang rực rỡ và hết sức êm đẹp của huyền thoại kháng chiến. Người đi về từ khu chiến là tướng Hoàng Cơ Minh và người xây đắp nền móng của hậu phương hải ngoại là ông Phạm văn Liễu. Một sự kết hợp bất khả phân ly.

Anh đi đường anh tôi đường tôi. Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.

Ngày 17/3/1984 trên 10 ngàn người tham dự cuộc đón tiếp Hoàng Cơ Minh tại San Jose. Không thể tả được niềm hân hoan dâng cao đến mức nào trong lòng dân hải ngoại. Nhưng đến tháng 12-1984 thì tình hình đã khác biệt. Bên chiến khu tại Thái Lan ngày 25 tháng 12-84 cộng sản tấn công và thanh toán tiền đồn Hải Vân của kháng chiến. Ngày 29/12/84 anh Minh từ Thái Lan về quyết định giải nhiệm ông Liễu. Cùng một lúc đại hội kháng chiến tại Nam Cali ủng hộ ông Liễu và đặt vấn đề với tướng Minh.

Tại đại hội đồng kháng chiến từ bốn phương về họp, với tư cách tổng vụ trưởng hải ngoại, ông Liễu nói đi nói lại một lời. Lỗi tại tôi. Vì đại cuộc, vì hiềm khích cá nhân, vì khác biệt đường lối, vì tài chánh,vì nhân sự hay vì bất cứ lý do gì thì Phạm văn Liễu cũng danh xác nhận: Lỗi tại tôi. Thực vậy trước một đại hội thành phần tham dự phần lớn do chính ông thuyết phục và tổ chức. Ông đồng thời cũng là người xây dựng vai trò thần tượng Hoàng Cơ Minh. Khi chính vị tướng chỉ huy thần tượng giải nhiệm tổng vụ trưởng thì việc ông Liễu nhận lỗi trước anh em cũng là phải phép.

Thời kỳ cuối năm 84 đó, tại chỗ cơ quan của tôi có bác sĩ Ðỗ văn Hội làm việc. Anh Hội nhiệt thành với kháng chiến. Anh ngồi khóc với nước mắt ràn rụa trong phòng của tôi. Anh ước mong có thể làm sao cho hai người mà anh gọi là các anh lớn gặp nhau. Bác sĩ Hội mong có phép lạ, có ai đủ sức nói cho Hoàng Cơ Minh và Phạm Văn Liễu ngồi lại, cùng nhường nhịn, cùng hy sinh xây dựng lại đại nghĩa. Sau đó nhiều năm tháng, bác sĩ Ðỗ văn Hội vẫn còn giữ mãi giấc mơ tuyệt vọng.

Tướng Hoàng Cơ Minh Thailand, Thái Lan

Tướng Hoàng Cơ Minh, năm 1987 -(trái)- Photo South of Laos 2007 -(phải)- (Tướng Minh hy sinh 23 năm trước trong khu vực này.)

Nếu đã không mong sum họp lại, sao đành lỗi hẹn lúc chia phôi.

Sau khi chia tay, ông Liễu có sinh hoạt với tổ chức mới một thời gian nhưng không thành công. Phía ông Minh kiên trì hơn, có nhân lực, có tài chánh và có lãnh đạo, con đường kháng chiến tiếp tục. Nhưng trong suốt 3 năm từ 85, 86 cho đến 87, tướng Hoàng Cơ Minh chỉ còn một con đường đi theo khẩu hiệu của chính ông “Kháng chiến hay là chết”.

Những chiến dịch Ðông Tiến hết sức hào hùng, lãng mạn và đầy ảo tưởng đều lần lượt đưa anh em vào chỗ chết.

Tháng 5-1985 đại tá Dương Văn Tư chỉ huy Ðông Tiến I lên đường. Tất cả đều hy sinh.

Tháng 9-1986 tướng Minh đích thân chỉ huy Ðông Tiến II, phá hậu cứ, tuyệt đường về. Quyết tâm một đi không trở lại.

Nhưng vượt sông không thành thất bại phải quay về.

Tháng 7-1987 tướng Minh chỉ huy Ðông Tiến II lần thứ hai. 120 quân nhân bị các đơn vị cộng sản luân phiên đánh suốt 40 ngày. Cuối cùng tướng Minh và một số cán bộ bị bao vây. Hoàng cơ Minh bị thương đã dùng súng lục tự sát ngày 18-8-1987, 14 năm sau vào tháng 7-2002 mặt trận mới chính thức công bố tướng Minh đã hy sinh.

Sau Ðông Tiến II, sĩ quan nhảy dù Ðào bá Kế tiếp tục tổ chức Ðông Tiến III với tất cả thành phần còn lại của kháng chiến. Một lần nữa và cũng là lần sau cùng Ðông Tiến III bị đánh tan tại Nam Lào, tất cả đã bị hy sinh và bị bắt. Ðào bá Kế, người chỉ huy vẫn còn bị cộng sản giam giữ cho đến nay.

Như vậy năm 1987 anh Minh chết mới có 52 tuổi. Trong khi đó ông Liễu mất ngày 20 tháng 10 năm 2010 hưởng thọ 83 tuổi.

1, 2, 3

Quân Sử Việt Nam (Top)