Lịch Sử Của Việt Nam

Khai Thác Boxit Ở Tây Nguyên

( Hay Bức Màn Bauxite Và Âm Mưu Tây Nguyên)

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88

Tập 1

...

Kiến nghị 4 điểm

Thứ nhất, cần sớm đình chỉ các dự án khai thác và chế biến bô-xít qui mô lớn ở trên Tây Nguyên. Cần rà soát lại việc tuân thủ pháp luật của các dự án này. Ngoài việc phải tuân theo luật Đầu tư, các dự án bô-xít cần tuân theo luật Khoáng sản, các dự án alumina cần tuân theo các văn bản pháp qui về hoá chất độc hại. Về nhiều khía cạnh, các dự án bô-xít và alumina trên Tây Nguyên chưa tuân thủ đúng theo luật và các qui định hiện hành.

Thứ hai, chỉ nên triển khai 1 dự án thử nghiệm và trình diễn cụ thể trên thực tế (thay cho các lời hứa hay cam kết trên giấy của các chủ đầu tư) để tìm ra các câu trả lời cho 10 nhóm vấn đề còn bỏ ngỏ nêu trên, để kịp thời rút kinh nghiệm tránh các nguy cơ có thể xẩy ra, và để không lặp lại các sự việc nghiêm trọng như Vedan.

Thứ ba, cần quan tâm và ưu tiên nước ngọt và có các chính sách thoả đáng khác cho việc phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè, điều…) đúng với tiềm năng của Tây Nguyên, để gia tăng kim ngạch xuất khẩu, bù đắp cho danh mục dầu thô sắp cạn của VN.

Thứ tư, cần thành lập “Uỷ ban quốc gia về phát triển kinh tế Tây Nguyên” trực thuộc Chính phủ hoặc Quốc hội để chỉ đạo toàn diện việc phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên.

Thay cho lời kết, chúng tôi muốn nhắc lại câu nói của một triết gia: “Phát triển chẳng giống ai là cách tự huỷ hoại mình nhanh nhất”.

TS. Nguyễn Thành Sơn

Khai thác bauxite ở Tây Nguyên: “Bom bùn” 20 triệu tấn bị đặt ngoài vòng kiểm soát !

Thanh tra Dương Thanh Tùng 28-10-2008

(Thanh tra)- Công nghiệp chế biến thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ/1tấn Alumin (tinh chế từ bauxite). “Bom bùn” treo lơ lửng trên đầu các tỉnh cực Nam Trung bộ, đe dọa vùi lấp lưu vực sông Đồng Nai và các dòng chảy đổ vào sông Mê Kông, nhưng đến thời điểm này, khi những gàu xúc đầu tiên đã bổ xuống, mở đầu hàng loạt dự án (D.A.) khai thác quy mô ở Tây Nguyên thì vẫn chưa có giải pháp chế ngự nào được đưa ra.

“Quả bom bùn” nặng 20 triệu tấn

Toàn tỉnh Đăk Nông có 13 mỏ bauxite, trải đều trên địa bàn các huyện nằm ở thượng nguồn 2 hệ thống sông lớn là Srepok (gồm các nhánh Krông Bông, Krông Păk, Krông Ana, Krông Nô - đổ vào dòng chính sông Mê Kông) và Đồng Nai (gồm các nhánh chính là Đăk Huýt, Đăk Glun, Đăk Rtit, Đăk Nông - đổ vào sông Đồng Nai). Phần diện tích sông Srepok trên địa bàn Đăk Nông là 3.583 km2 (chiếm 50% diện tích toàn tỉnh), sông Đồng Nai là 2.934,4 km2 (chiếm 45% diện tích tỉnh). Thượng nguồn của cả 2 hệ thống sông này đều có địa hình thuận lợi, tạo thành các hồ chứa bùn.

Theo các nhà khoa học Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, các D.A khai thác đều cần đến những diện tích đất rất lớn làm bãi thải bùn. Kết quả tính toán cho thấy, để chế biến được 1 tấn Alumin từ bauxite, các nhà máy phải thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ. Cứ mỗi năm trong giai đoạn 2007 - 2015 (thực hiện theo quy hoạch), các D.A ở Tây Nguyên sẽ sản xuất 6,6 triệu tấn Alumin và lượng bùn đỏ (gấp 3 lần sản lượng chế biến) là 20 triệu tấn. Các hồ chứa quá mong manh trước biến cố thiên tai như lụt, lũ quét… là nguyên nhân dẫn đến thảm họa môi trường trong tương lai! “Quả bom bùn” nặng 20 triệu tấn lúc nào cũng sẵn sàng “nổ tung”, san phẳng một vùng đồng bằng rộng lớn. Thảm họa sẽ khủng khiếp hơn khi hạ lưu sông Đồng Nai và các dòng chảy đổ vào sông Mê Kông bị bùn đỏ vùi lấp.

“Bom bùn” bị đặt ngoài quy hoạch đã được phê duyệt

Một trong những D.A khai thác bauxite đầu tiên được triển khai ở tỉnh Đăk Nông là Nhà máy Alumin Nhân Cơ. Tại công trường thi công, chúng tôi được ông Nguyễn Phú Dương, Phó Tổng Giám đốc Cty Cổ phần Alumin Nhân Cơ thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết, diện tích hồ chứa bùn đỏ là 200 ha, gấp 3 lần diện tích mặt bằng nhà máy. Hồ chứa bùn chỉ có “1 cửa” để tránh bị vỡ do biến cố thiên tai. Với tư cách nhà đầu tư, ông Dương nêu ra các yếu tố an toàn khác như toàn bộ diện tích 200 ha đáy hồ được nện đất sét và lót bạt chống thấm…

Có điều, những giải pháp này của ông Dương và của cả lãnh đạo TKV không những không thuyết phục được giới khoa học mà trái lại, còn bị phản bác quyết liệt. Ý kiến phản bác gay gắt nhất về khai thác bauxite ở Tây Nguyên thật trớ trêu lại đến từ TS Nguyễn Thành Sơn của chính TKV. Theo ông Sơn: “Chỉ riêng D.A của Cty Cổ phần Nhân Cơ, phần đuôi quặng nước thải và bùn đỏ có khối lượng hơn 11 triệu tấn/năm. Dung tích hồ thải bùn đỏ 15 năm là 8.754.780m3. Tổng lượng bùn thải vào hồ là 1.733 tấn/ngày. Lượng nước thải phải bơm đi từ hồ là 5.959.212m3/năm. Với quy mô như vậy, thiệt hại do vỡ đập là không thể kiểm soát được và nguy cơ vỡ đập không thể lường trước. Một D.A khác ở Tân Rai (Lâm Đồng) có khối lượng bùn đỏ thải ra môi trường là 826.944m3/năm. Khối lượng quặng bauxite khai thác của D.A này lên đến 2,23 triệu m3/năm dẫn đến nguy cơ tổng lượng bùn đỏ phải tích tụ thường xuyên trên cao nguyên Lâm Đồng là 80-90 triệu m3 (trong khi tổng dung tích hồ chứa của D.A chỉ có 20 - 25 triệu m3)…”.

Đưa ra các số liệu như thế nhưng TS Nguyễn Thành Sơn và phần lớn các nhà khoa học tên tuổi đều thật sự lúng túng trong việc đưa ra giải pháp hữu hiệu chế ngự “bom bùn”… Ông Sơn thậm chí còn dẫn chứng một số quốc gia như như Pháp, Áo phải xử lý vấn đề bùn đỏ bằng cách rẻ tiền là đổ ra khu vực gần biển! Sự lúng túng của các nhà khoa học Việt Nam hoàn toàn có cơ sở khi chính họ đang rất hoài nghi về thiện chí cùng khả năng tài chính của TKV. Chi phí cho việc “chôn cất” vĩnh viễn bùn đỏ bằng công nghệ tiên tiến lên đến hàng trăm triệu USD (cho một D.A khai thác diện tích vài chục ha) trong khi đó thì báo cáo và cam kết của chủ đầu tư TKV lại không dành trọng tâm cho vấn đề quan trọng bậc nhất này.

Trong Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg (phê duyệt quy hoạch phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025) Thủ tướng đã yêu cầu: “Xây dựng, phát triển công nghiệp khai thác, chế biến quặng bauxite bằng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, phải bảo đảm phát triển hài hòa kinh tế - xã hội khu vực Tây Nguyên và các địa phương liên quan”. Rõ ràng, sự đầu tư “nóng” của TKV trong khai thác quặng bauxite đang đặt “quả bom bùn” nặng 20 triệu tấn ra ngoài ý kiến chỉ đạo phê duyệt quy hoạch!

Dương Thanh Tùng, cơ quan Thanh tra Chính phủ

Mất và được trong việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên

Nguyễn Trung, 11-11-2008

I. Thị trường thế giới về nhôm (aluminum)

Nhôm (aluminum) là kim loại nhẹ, ngày càng chiếm vị trí quan trọng kinh tế thế giới. Năm 1991 kinh tế thế giới tiêu thụ khoảng 24 triệu tấn nhôm, mười lăm năm sau (2005) là 63 triệu tấn, hiện nay là xấp xỷ 90 triệu tấn (số tròn); xu thế này sẽ tiếp tục duy trì, do có nhiều nền kinh tế mới nổi lên – đặc biệt là Trung Quốc – và do nhôm ngày càng thay thế nhiều loại vật liệu và kim lọai khác nhờ tiến bộ khoa học công nghệ và kỹ thuật. Tuy nhiên thị trường nhôm dồi dào, vì nguồn cung rất phong phú.

Trữ lượng quặng bauxite trên thế giới rất lớn (có thể là hàng trăm tỷ tấn) so với nhu cầu khai thác và khả năng khai thác, lại nằm rải rác nhiều nơi trên thế giới, do đó dù được coi là quý, nhưng nhôm không phải là kim loại hiếm. Tương tự như mặt hàng dầu lửa, giá nhôm cũng dao động theo cung cầu và theo biến động của tình hình kinh tế thế giới; tháng 3-2008 giá nhôm trên thị trường thế giới là 3380 USD/tấn, đến tháng 10-2008 chỉ còn 2850 USD/tấn.

Mặc dù trong một hai thập kỷ gần đây sản xuất nhôm trên thế giới tăng đều trong biên độ từ 5–10%/năm, song bản đồ sản xuất nhôm (hiểu theo nghĩa nơi có lò luyện nhôm - smelters) trên thế giới trong vòng hai, ba thập kỷ nay có nhiều thay đổi lớn: sản xuất giảm dần ở Tây Âu, một số nơi ở Bắc Mỹ và Bắc Thái Bình Dương, để chuyển mạnh vào các vùng kém phát triển hơn như Úc, Nam Thái Bình Dương, Trung Quốc, Ấn Độ... Nguyên nhân cơ bản của sự chuyển dịch này là giá thành và vấn đề bảo vệ môi trường.

Từ sự thay đổi nói trên của bản đồ sản xuất nhôm trên thế giới trong nửa thế kỷ trước, người làm chính sách của các tập đoàn, nhà nước... và các nhà nghiên cứu đã tổng kết:

Để đi tới quyết định có sản xuất nhôm hay không, cần đáp ứng thỏa đáng những điều kiện sau đây – xếp theo thứ tự quan trọng của các yếu tố:

1. có nguồn điện dồi dào,

2. có nguồn nước dồi dào,

3. nơi khai thác có vị trí và địa thế hoang vắng thuận lợi cho việc giải quyết thỏa đáng vấn đề bảo vệ môi trường (nước thải và bùn đỏ),

4. có khả năng giảm xuống mức thấp nhất chi phí vận tải,

5. có trữ lượng bauxite dồi dào với hàm lượng cho phép đạt 4/2/1 (4 tấn quặng làm ra 2 tấn alumina rồi từ đó ra 1 tấn nhôm, nếu không giá thành sẽ quá đắt),

6. có nguồn lao động rẻ.
(Tham khảo thêm : [1] đến [6] trong danh sách Tài liệu tham khảo cuối bài)

major bauxite areas

Bản đồ các vùng giàu quặng bauxite trên thế giới
Nguồn: UC RUSAL - 2006

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88

Quân Sử Việt Nam (Top)