Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 10

HỒ CHÍ MINH, CHÍNH TRỊ GIA TỒI TỆ

...

Trong suốt cuộc chiến tranh dài, Đất nước và Dân tộc bị thiệt hại và mất mát quá nhiều! Về lãnh thổ, Đất nước đã mất quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, mất một vùng lãnh hải giàu ngư sản và dầu hỏa, mất những dải đất chiến lược ở biên giới mà Tiền nhân đã bảo toàn từ ngàn đời. Về xây dựng và phát triển kinh tế VN năm 2009, Ngân hàng Thế giới đã công bố kết quả thật đáng buồn. VN thật vô cùng tụt hậu so với các nước bạn chung quanh. Muốn theo kịp Singapore, ta phải mất 158 năm, muốn theo kịp Nam Dương, ta phải mất 51 năm, và phải 95 năm mới bắt kịp Thái Lan! Về mặt luân thường đạo đức, HCM và Đảng đã tàn phá hết cả Quốc hồn Quốc tuý mà Tổ Tiên đã bồi đắp trong 4000 năm dài! Cả những Di tích lịch sử cũng không chừa! Ví thử Dân tộc lấy lại Đất nước khỏi tay Đảng (như cuộc thống nhất tuyệt đẹp của nước Đức)! Ví thử chúng ta có một Nhà nước thật sự “của dân, vì dân, và do dân”! Ví thử chúng ta có những chính trị gia thiết tha yêu nước để hết tâm trí để “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” theo gương Cụ Phan Bội Châu, Cụ Phan Châu Trinh, Cụ Trần Trọng Kim, vân vân… (chớ không phải những Quan chức đỏ bận tâm mua quan bán nước để thành tỷ phú Mỹ kim như hiện nay). Có biết bao nhiêu điều ví thử như thế, không kể xiết! Người viết tin tưởng mãnh liệt vào Hồn thiêng Sông núi sẽ là hào quang dẫn dắt Dân tộc xây dựng lại cơ đồ Việt Nam xán lạn để tám mươi lăm triệu người con dân Việt tìm lại nhau trong nỗi vui mừng lớn của Đất nước: CUỘC ĐẠI ĐOÀN VIÊN CỦA DÂN TỘC.

Cuộc Đại đoàn viên của Dân tộc

Đối với Việt tộc, cuộc Đại đoàn viên của toàn khối Dân tộc khắp Bắc Nam Trung cùng Kinh Thượng một nhà sẽ là giấc mơ lớn nhất và đẹp nhất, như truyện 50 con xưa theo CHA ra biển nay lại tìm về đoàn tụ với 50 người anh em ở lại vùng rừng núi với MẸ. Và trăm đứa con cùng MẸ cùng CHA đó, trong cảnh Đại đoàn viên thật cảm động, sẽ góp bàn tay và trí tuệ xây dựng lại Ngôi nhà Việt Nam. Họ sẽ hàn huyên tâm sự kể cho nhau nghe và dạy cho con em mình những chuyện thật đẹp như chuyện Bà Trưng Bà Triệu, chuyện Đinh Lê L ý Trần, chuyện Hội nghị Diên Hồng, chuyện Bình Ngô Đại Cáo, chuyện Đại phá Quân Thanh, v.v…, chứ họ không hề nhắc đến cơn ác mộng Mác Lê Xít Mao Hồ! Họ trở về với Dân tộc, họ ru em, họ ngâm thơ, họ hát quan họ, hát bài chòi, hát bội, hát cải lương, họ hò mái đẩy, họ ca trù, ca vọng cổ, họ múa võ Bình Định (tức Võ nhạc Tây Sơn), họ tập Vovinam, họ kiến tạo Văn Miếu, họ trùng tu Võ Miếu theo lời dạy của chúa Trịnh ngày xưa (chúa Trịnh Doanh), v.v… Trong cảnh Đại đoàn viên vô cùng ấm cúng, họ sẽ ngâm cho nhau nghe những vần thơ Say Tình Dân tộc: “Say trà, say thuốc, say thơ. Say Tình Dân tộc lòng mơ về nguồn. À… ơi… một Mẹ trăm Con. Bốn ngàn năm đẹp vuông tròn Nghĩa Nhân

Và những vần thơ đầy Tình người: “Dòng thơ theo sữa Mẹ vào Con. Theo điệu ru hiền dỗ giấc ngon. Thơ mang Đạo Nghĩa vào tâm trẻ. Tô đẹp Tình Người cho Nước Non

Lời thơ theo gió bay bốn phương, họ ngâm chứ không phải hát, mà cũng du dương nào kém nhạc, nhưng chỉ là thơ thôi. Bốn phương quay lại nhìn, lắng nghe thơ Việt ngâm réo rắt, lối ngâm nga có một không hai trong Trời đất. Thiên hạ khắp bốn phương đều làm thơ, nhưng Việt tộc đã đưa Thơ vào Nhạc, Hồn thơ Việt được hòa nhập vào Nhạc, khiến cho mỗi một Bài thơ khi ngâm lên hóa thành một Bản nhạc “vô k ý âm” như Lời kinh “vô ngôn” của Đức Phật! Nâng niu Thơ như bức họa trong nét Thư pháp bay bướm trên mảnh giấy lụa Hoa tiên, người Nghệ sĩ Diễn ngâm chờ cho Sáo trúc, Đàn tranh, và Độc huyền cầm trổi lên mới cất giọng ngâm, hòa lời Thơ du dương của mình vào Nhạc. Vâng, Việt tộc ngâm thơ theo phong cách ấy và đã xây đắp một nền Thi ca Ngâm vịnh tuyệt vời! Thiên nhiên đã ưu đãi mảnh đất của Con Rồng Cháu Tiên. Chính tại dải giang sơn gấm vóc này, Thi ca Ngâm vịnh được nâng lên đỉnh cao nghệ thuật của loài người!

Nhưng Thiên nhiên lại chơi luật bù trừ, Thiên nhiên cho tay nầy lấy tay kia. Về Thi ca Ngâm vịnh, Thiên nhiên đã cho Việt tộc chúng ta phần thật đẹp của Túi thơ trong Trời đất. Nhưng ngược lại trên địa bàn chính trị, than ôi, chúng ta bị lãnh phần tệ hại nhất, chúng ta bị mắc Đại họa HCM! Chính trong Đại họa HCM, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường phải sống “nghèo, nghèo, nghèo” vì bị Đảng trù dập. Trong cô đơn và lén lút, ông hoàn tất cuốn hồi ký bằng tiếng Pháp tựa đề Un Excommunié - Hanoi 1954-1991: Procès d’un intellectuel (Kẻ bị khai trừ - Hà Nội 1954-1991: Bản án một người trí thức). Cuối cuốn hồi k ý, trong chương “Hành trình qua sa mạc, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã chất vấn đảng Cộng sản những lời đanh thép, người viết xin lặp lại, chỉ xin thay từ “nhân dân” trong nguyên tác để thế bằng từ “Dân tộc:

Dân tộc có thể đặt một số câu hỏi với Đảng: Trong khi phong trào dân chủ và tự do dâng lên như sóng cồn, tại sao các ông ngoan cố không chịu nhìn nhận sự thực, và bám víu một cách tuyệt vọng vào một tín điều đã lỗi thời không thể sửa chữa được? Giữa chủ nghĩa của các ông và quyền lợi của Dân tộc, các ông thiên về bên nào? Những bông hoa các ông nhập cảng và cắm vào trong bình, đã héo tàn. Các ông ngoan cố sùng bái cái xác ướp không thể sống lại ấy cho đến bao giờ? Và nhất là các ông hãy cho Dân tộc biết những l ‎ý do thật sự các ông thù ghét chế độ đa đảng?... Dư luận nhận xét rằng các ông đã đi bước đầu trên con đường đổi mới. Như vậy các ông bắt đầu thú nhận các sai lầm. Nhưng các ông, và cả Dân tộc nữa, có thể nào bằng lòng với những biện pháp nửa chừng không, khi mà các biện pháp ấy chỉ có thể chữa trị một vài lãnh vực đã được nêu rõ, nhưng bệnh tật đã lan ra khắp toàn thân thể của quốc gia và các cấu trúc của quốc gia? Các ông thích tự hào về những hy sinh to lớn, kể cả mạng sống, để cống hiến cho Đảng. Các ông không đủ anh hùng tính để hy sinh Đảng của các ông cho Tổ quốcDân tộc hay sao? Nước Việt Nam và lịch sử Việt Nam đang chờ đợi câu trả lời của các ông.

Trong Đại họa HCM, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đặt câu hỏi: “Các ông không đủ anh hùng tính để hy sinh Đảng của các ông cho Tổ quốc và Dân tộc hay sao?”Câu hỏi đặt ra vào năm 1991, đến nay là năm 2009, những 18 năm dài đã trôi qua. “Các ông” trong câu hỏi trên, tức là 15 Đảng viên quyền lực nhất, tức 15 Ủy viên Bộ Chính trị, thực sự đã không đủ hào hùng để hy sinh Đảng, cho nên vẫn im lặng. Họ không trả lời, nhưng mặc nhiên đã trả lời rồi. Họ vẫn đi theo con đường Mác Lê Xít Mao Hồ. Như thế cũng tốt bởi vì họ có TỰ DO. Nhưng họ phải buông thả TỰ DO cho Dân tộc đi con đường Dân tộc, đi theo tiếng gọi của Hồn thiêng Sông núi!

Hướng về cảnh Đại đoàn viên của Dân tộc và khi còn mắc Đại họa HCM, xin lắng nghe lời nhắn nhủ của một lão tướng trong phong trào Nhân văn Giai phẩm ngày xưa. Đó là thi sĩ Hoàng Cầm, tác giả bài thơ “Lá Diêu bông”, hiện ở phố L ý Quốc Sư, Hà Nội. Ông bị gãy hai chân và bị bể xương chậu, không tiền chữa trị nên phải nằm một chỗ, nhưng rất lạc quan yêu đời. Khi MC Trịnh Hội hỏi ông với 86 năm tuổi đời chồng chất, ông có lời gì chia sẻ với thế hệ tương lai, thì ông trả lời (Xem DVD Asia 51 Tình khúc sau cuộc chiến): “Bất kể dù cái gì chăng nữa, các cháu thấy cái gì là tốt cho Dân tộc thì các cháu cứ làm, cứ mạnh dạn mà làm. Dù có thể người ta không công nhận, hoặc là chưa có dịp gì đó, nhưng mà các cháu thấy cái gì có lợi cho Dân tộc, thì các cháu cứ làm.

Vào năm 1959, khi Dân tộc còn mắc vướng nặng nề trong mê lộ của ý thức hệ, đi theo con đường Mác Lê Xít Mao Hồ, Dân tộc không tìm được hạnh phúc. Ý thức như vậy, nên thi sĩ Hoàng Cầm làm bài thơ Lá Diêu bông để nói lên sự tìm kiếm vô vọng. Đến năm 2007, trong lời nhắn nhủ ngắn gởi cho thế hệ tương lai, thi sĩ Hoàng Cầm đã hai lần dùng chữ “Dân tộc”. Người viết xin lặp lại ý chính trong lời khuyên của Lão Thi sĩ Hoàng Cầm, “Con ngựa chiến” của phong trào Nhân văn - Giai phẩm: “Các cháu thấy cái gì có lợi cho Dân tộc, thì các cháu cứ làm.

Lễ Chúc thọ Tứ tượng ở Paris

Sau đó không lâu, trên đất Pháp, ở vùng Ile-de-France bên dòng sông Seine, vào Tất niên 2007, có Lễ mừng Bát tuần thật cảm động tổ chức cho bốn vị Trưởng lão Việt Nam. Trong mục Paris có gì lạ không em (Bán Tuần báo Việt Luận, ngày 25-1-2008), tác giả Đinh Tiểu Nguyên, trong bài “Lễ Chúc thọ Tứ tượng hay Bốn vị Trưởng lão, kể rằng họ có đến viếng một Cụ Đồ uyên bác ở Paris để vấn ý về các loại tuổi thọ. Theo Cụ Đồ này thì người 60 tuổi là “Kỳ lão”, được dân chúng gọi bằng “Cụ”. Lễ Lục tuần, hay Đáo tuế, còn gọi là Hoa giáp Chi niên.

Người được 70 tuổi gọi là “Cổ Hi thọ”. Do đó có câu “Nhân sinh thất thập cổ lai hi, người sống 70 tuổi thì hiếm. Tuy nhiên thọ 70 chỉ thuộc loại thọ thấp, tức là “Tiểu thọ”.     Người sống đến 80 hay “Bát thập Kế chi”, lại chỉ được xếp vào hạng “Trung thọ”. Người tuổi 80 gọi là “Tản thọ”, còn gọi là “Trượng triều”. Cụ Đồ Paris kể rằng ngày xưa vua ban cho người 80 tuổi được quyền cầm trượng (cây gậy) vào triều đình để dâng thẳng lên vua những điều trần về việc nước mà không bị ngăn cản, bởi lẽ ở tuổi đó mà còn sáng suốt, còn quan tâm đến việc nước không vì tư lợi, thì Nhà vua và Triều đình phải lắng nghe. Đây là một truyền thống thật đẹp thời quân chủ. Đến 90 tuổi trở lên gọi là “Thượng thọ”. Trăm tuổi gọi là “Cao thọ”. Trăm lẻ tám tuổi gọi là “Trà thọ”. Cụ Đồ Paris chỉ biết chữ “Trà thọ” nhưng không hiểu tại sao lại gọi như thế.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)