Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 10

HỒ CHÍ MINH, CHÍNH TRỊ GIA TỒI TỆ

...

Trong lịch sử loài người, duy nhất chỉ có nhà nước CHXHCN Việt Nam là sắp xếp việc xây dựng công viên cách trộm lén vào ban đêm mà thôi, một thành tích đáng hổ thẹn, gây tủi nhục cho cả Dân tộc 4000 năm văn hiến! Nhớ lại khi đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt phát biểu một câu nói để đời: “Chúng tôi rất nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam”, Ngài đã nói lên sự thật. Ngài không nói riêng cho Ngài, Ngài không nói riêng cho giáo dân Hà Nội, mà Ngài đã dũng cảm đứng lên nói thay cho “tám mươi lăm triệu người dân Việt”. (Chú thích : Các đoạn trên đây, chúng tôi xin phép sửa lại chút ít. NBT)

Nhân sự cố nầy, ta có thêm một bằng chứng “Đảng gian mà không ngoan!. Việc xây dựng thêm một công viên trên khu đất Tòa Khâm sứ là hoàn toàn vô l ý, vì ngay gần đó, chỉ cách vài trăm mét, hiện đang có một khu công viên rộng lớn đang bị bỏ hoang phế. Đó là Công viên Văn hóa Đống Đa, nằm ngay trên khu di tích lịch sử gò Đống Đa. Công viên được thành hình vào năm 1989, nhân dịp kỷ niệm 200 năm chiến thắng oanh liệt của vị anh hùng Nguyễn Huệ. Khu công viên Đống Đa có tổng diện tích trên 21 ngàn mét vuông, có tượng vua Quang Trung và có nhà trưng bày di vật lịch sử. Hiện toàn bộ công viên đang bị bỏ hoang, cỏ dại tràn ngập, những cây cổ thụ quý giá thì bị cán bộ đảng viên vào cưa trộm giống như lâm tặc. Than ôi! Cây phải trăm năm, nghìn năm mới nên cổ thụ, đốn cây lâm tặc chỉ cần một giờ! Đảng viên của Đảng phá hoại Đất nước ngay trong lòng Hà Nội nghìn năm văn vật, cái nôi của nền Văn hóa Việt! Thật vô cùng nhục nhã!

Để có đủ dữ kiện viết Chuyện phá Tòa Khâm sứ trên đây, người viết xin cảm tạ các tác giả và các báo mà người viết đã tham khảo: Trần Hùng, Trung Điền, Nguyễn Bình, Ngô Đức Diễm, Trần Khải Thanh Thủy (bài đăng trong Nam Úc Tuần báo, Adelaide) và Nguyễn Thái Hà, Đỗ Mạnh Tri, Hoàng Cúc, Hiếu Minh (bài đăng trong Bán nguyệt san Tự do Ngôn Luận, báo biếu tặng, phát hành ở Sydney).

Hai tháng sau khi phá Tòa Khâm sứ Hà Nội, Việt Cộng ra tay tàn phá chùa Phật Tích ở Bắc Ninh, ngôi chùa cổ đã có một ngàn năm lịch sử! Ngày tang tóc là 23-11-2008! Ngày tang tóc cũng là ngày ô nhục! Vô cùng ô nhục! Vì chính ngay ngày đó, khi Phái đoàn Khảo cổ Quốc tế gồm các nhà nghiên cứu Nhật, Đại Hàn, Đài Loan, Pháp, Bỉ từ Hà Nội đến Bắc Ninh để tham quan chùa, thì than ôi! ngôi chùa đã biến mất, chỉ còn trơ lại đống gạch vụn điêu tàn! Tượng Phật cùng cổ vật xưa ngàn năm trong chùa bị vất ngổn ngang!

Chùa Phật Tích được xây dựng vào năm 1057 với nhiều tòa ngang dãy dọc. Chùa tọa lạc dưới chân núi Phật Tích, còn gọi là núi Lạn Kha hay non Tiên, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1066, vua Lý Thánh Tông cho xây một cái tháp cao. Khi tháp đổ, bên trong lộ ra bức tượng A Di Đà bằng đá xanh dát vàng. Pho tượng xuất hiện quá kỳ diệu khiến làng đổi tên là Phật Tích và dời cả lên sườn núi. Chùa là một đại danh lam có quang cảnh tươi đẹp nên các vua Lý và vua Trần thường tới lui thăm viếng. Vua Trần Nhân Tông cho xây một thư viện lớn và cung Bảo Hoa. Đời vua Trần Nghệ Tông, khoa thi Thái Học sinh (Tiến sĩ) được tổ chức tại chùa. Đời vua Lê Hiển Tông, một đại yến hội được mở tại đây.

Ngàn năm dài trôi qua, chùa bị hư hại đổ nát nhưng luôn luôn được trùng tu. Dưới triều Lê, chùa được tu bổ và xây dựng lại với quy mô rộng lớn và đổi tên là Vạn Phúc Tự. Cho tới nay, chùa gồm 7 gian tiền đường để đón tiếp khách, 5 gian bảo điện thờ Phật Thích Ca, A Di Đà, cùng các vị Tam Thế, 8 gian nhà Tổ, và 7 gian thờ Thánh Mẫu. Năm 1962, chùa Phật Tích được công nhận là “Di tích Lịch sử Văn hóa”. Phái đoàn Khảo cổ Quốc tế nói trên đến Việt Nam để nghiên cứu về Hoàng thành Thăng Long. Theo Vietnamnet thì ngày 23-11-2008, Viện Khoa học Xã hội VN tổ chức mời và đưa phái đoàn đến tham quan và nghiên cứu chùa. Nào ngờ, khi phái đoàn đến nơi thì chùa Phật Tích không còn nữa, chùa đã bị phá tan thành bình địa! Phá sập chùa Phật Tích thật là hành vi xúc phạm thô bạo Luật Di sản Văn hóa.

Lại thêm một tin buồn muốn khóc! Dân tộc còn đang đau khổ với vết thương “Phá Chùa Phật Tích”, ngôi cổ tự một ngàn năm lịch sử, thì Đảng của HCM lại chém Dân tộc thêm một nhát đau thương nữa. Năm tháng sau đó, khoảng tháng 4-2009, đến phiên Đền Rồng thờ L ‎ý Chiêu Hoàng (vị Nữ hoàng duy nhất trong lịch sử VN) ở làng Đình Bảng, tỉnh Bắc Ninh bị đập phá tan tành, chỉ còn lại cái cổng chào! Đền Rồng được xây cất vào cuối thế kỷ 13, đời vua Trần Nhân Tông (1281) và cũng được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa! Nhớ lại năm xưa, khi cơ quan UNESCO của Liên Hiệp Quốc quyết định KHÔNG đề cử HCM vào Danh sách Danh nhân Văn hóa Thế giới, thật là một quyết định sáng suốt. Giả sử “Bác Hồ nhà ta” được bình bầu là Danh nhân Văn hóa Quốc tế và được Quốc tế trọng vọng, thật không biết Dân tộc Việt Nam làm sao gánh nổi cái khối Ô nhục vĩ đại này!

Đức Phật có nói: “Nhân nào quả nấy”. Suy ra người hiền gieo nhân lành thì được quả đẹp! Nhưng con người ác tâm như HCM thì khác. Hơn 50 năm trước, HCM đã gieo hạt giống “trộm cướp” vào ngành công an với kẻ “đầu trộm đuôi cướp” Trần Quốc Hoàn trong chức vụ Bộ trưởng trong 27 năm dài! Ý niệm “Thượng tôn pháp luật” là hạt giống lành vô cùng cần thiết và qu ý trọng để xây dựng Đất nước thì Chủ tịch HCM lại chẳng màng. Hãy xem Tiến sĩ Luật Khoa Nguyễn Mạnh Tường, ở ngay Thủ đô Hà Nội, mà bị trù dập phải sống trong cảnh bần hàn cùng cực. HCM đã xây dựng Chế độ Công an trị và ông đã thành công, thành công, đại thành công. Đi vào lịch sử, HCM thật xứng danh là TÊN GIẶC CƯỚP NƯỚC và BÁN NƯỚC, còn bàn chi đến chuyện “Chính trị gia tồi tệ hay không tồi tệ”!

Ở Úc Châu vào năm 2007, Luật sư Đào Tăng Dực, thuộc hai thế hệ sau Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, trong bài viết “Đánh giá di sản ông HCM qua hiện tình Đất nước”(Bán tuần báo Việt Luận, số 2158, ngày 20-4-2007) đã có nhận xét đáng buồn cho Đất nước và Dân tộc như sau: “Chỉ riêng tại Việt Nam, quân đội và công an mang tiếng là của nhân dân, nhưng kỳ thực chỉ là những tên đầy tớ trung thành của một đảng cướp có võ trang mà thôi. Một trong những tội lớn nhất của hậu duệ của ông HCM là biến bản chất anh hùng và bất khuất của quân đội thành những tên nô bộc của một chế độ độc đảng.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường chất vấn Đảng năm 1991, tức là 22 năm sau khi HCM qua đời. Đến năm 2007, khi Luật sư Đào Tăng Dực viết bài về Di sản HCM thì ông Hồ đã mất 38 năm trước. Định hướng sai lầm về chính trị của HCM được Luật sư Đào Tăng Dực viết trong đoạn kết như sau: “Hiện tình đất nước như thế phát xuất từ quyết định của ông HCM, vào năm 1925, gia nhập phong trào quốc tế, thay vì noi gương các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và các lãnh tụ quốc gia kháng Pháp. Không có ông Hồ thì đất nước chúng ta ngày hôm nay đã qua mặt Thái Lan, Mã Lai và ít nhất cũng đã sánh vai cùng Nam Hàn, Đài Loan, Hồng Kông, và Nhật Bản. Bước đi sai lầm của ông Hồ đã di họa cho nhiều thế hệ Dân tộc Việt Nam là như thế.

Chỉ vì một ngàn quan!

Ôi! Chỉ vì một ngàn quan!”, tiếng than thống thiết của Dân tộc tám mươi triệu người! (trừ số đảng viên Cộng sản, dĩ nhiên). “Một ngàn quan”, đó là số tiền Đảng Cộng sản Pháp cấp cho đảng viên Nguyễn Ái Quốc làm lộ phí để đi Liên Xô dự Đại hội V của Komintern. Vào thập niên 1920, một ngàn quan là số tiền khá lớn. Bằng ấy tiền, một du học sinh ở Pháp có thể sống trong 5 tháng. Hãy xem thân phận của HCM lúc còn mang tên Nguyễn Tất Thành. Vào lúc đó, ở Paris có một nhóm người viết bài và truyền đơn tranh đấu bằng tiếng Pháp và ký tên chung “Pour le groupe des Patriotes Annamites: Nguyen le Patriote”(tạm dịch“Thay mặt Nhóm Người An Nam yêu Nước: Nguyễn Ái Quốc”). Nhóm viết bài đó thường được gọi là Ngũ Long gồm có Phó bảng Phan Châu Trinh, Luật sư Phan Văn Trường, Kỹ sư Nguyễn Thế Truyền, Cử nhân Luật Nguyễn An Ninh, và người thứ năm là HCM lúc đó còn mang tên Nguyễn Tất Thành, mới học xong bậc Tiểu học, đang học Đệ nhất niên Trung học thì bỏ học. Xin viết thêm, Phan Văn Trường là người Việt Nam đầu tiên đậu Tiến sĩ Luật ở Pháp năm 1918, còn Nguyễn An Ninh đã học luật ở Đại học Hà Nội, vừa sang Pháp được 4 tháng, gặp đúng kỳ thi Cử nhân Luật, ông nạp đơn thi và được chấm đậu. HCM, với học lực bậc Tiểu học thấp kém như vậy, cho nên từ lúc đặt chân lên đất Pháp năm 1911, lưu lạc ở Anh và Hoa Kỳ, rồi sau trở về Pháp, ông không làm được công việc gì vẻ vang. Dù ở nơi nào, ông cũng chỉ làm lao động tay chân như bồi tàu, giúp việc nhà (tức là làm “osin”), phụ bếp, rửa chén bát kiêm đổ rác, thợ làm bánh, cào tuyết mùa đông (chỉ làm được 1 ngày rồi bỏ việc), thợ đốt lò, rửa hình và tô ảnh phóng đại, ông lại thú nhận có nghề làm đồ cổ giả để gạ bán cho các bà đầm Pháp, một thời gian dài được ở nhờ nhà Luật sư Phan Văn Trường, số 6 Villa des Gobelins, khỏi trả tiền thuê. Với lối sinh nhai bấp bênh như vậy, số tiền “một ngàn quan” hẳn là một món quà tặng quá lớn làm chuyển hướng đời ông.

Vào thuở đó, trong số mấy ngàn Việt kiều sinh sống ở Paris, Bác Hồ chỉ là “chú Nguyễn Tất Thành” lục lục thường tài, vô danh tiểu tốt. “Chú” không làm Chủ tịch đảng chính trị nào, “Chú” cũng không làm Hội trưởng hội Ái hữu nào để được nổi bật hơn ai, như trên đã diễn tả. Nhưng trong quyển Vừa đi đường vừa kể chuyện viết dưới ẩn danh T. Lan, “Bác HCM” đã nâng cấp cho “chú Nguyễn Tất Thành” lên thành một chính khách lỗi lạc, đáng mặt thượng khách của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp. Xin trích dẫn T. Lan và mời quý bạn đọc:

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)