Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 10

HỒ CHÍ MINH, CHÍNH TRỊ GIA TỒI TỆ

...

Chuyện giặc Tàu, giặc Pháp, giặc Hồ

Trong Lịch sử Việt Nam, ngoài những đám giặc cỏ như giặc Châu Chấu, giặc Cờ Đen, giặc Cờ Vàng, v.v… có ba loại giặc lớn là Giặc Tàu, Giặc Pháp, và Giặc Hồ. Những bài văn sau đây nói về ba loại giặc đó, xin mời quý bạn đọc. Bài văn thứ nhất:

Vì họ Hồ (tức Hồ Quý Ly) chính sự phiền hà, để trong nước nhân dân oán bạn. Quân cuồng Minh đã thừa cơ tứ ngược, bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Chước đối đủ muôn nghìn khoé, ác chứa ngót hai mươi năm. Bại nhân nghĩa, nát cả càn khôn, nặng khoa liễm vét không sơn trạch. Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống bể mò châu, nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim sả. Tàn hại cả côn trùng thảo mộc; nheo nhóc thay quan quả điên liên.

Kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán. Nay xây nhà, mai đắp đất, tay chân nào phục dịch cho vừa. Nặng nề về những nỗi phu phen, bắt bớ mất cả nghề canh cửi. Độc ác thay! trúc rừng không ghi hết tội; dơ bẩn thay! nước bể không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất tha cho, ai bảo thần nhân nhịn được.

Đó là bài văn thứ nhất, và sau đây là bài văn thứ hai, mời quý bạn đọc tiếp: “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân... Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân một cách vô cùng tàn nhẫn...

Kính thưa quý độc giả, hai bài văn đó được viết cách nhau một khoảng thời gian dài trên 500 năm. Đoạn văn đầu được trích từ áng văn đẹp tuyệt vời trong lịch sử Việt Nam, bài Bình Ngô Đại Cáo, do Nguyễn Trãi soạn thảo năm 1427 sau khi Bình Định Vương Lê Lợi quét sạch tan giặc nhà Minh sang xâm chiếm nước ta. Bản văn diễn tả cảnh lầm than khốn khổ của dân ta trong 20 năm bị nhà Minh bên Tàu cai trị (từ năm 1407 đến 1427). Đoạn văn thứ hai trích từ bản Tuyên ngôn Độc lập của HCM đọc ngày 2-9-1945 diễn tả cảnh tàn ác, tham lam, giết hại dân lành của Thực dân Pháp trong 80 năm Pháp thuộc!

Bây giờ, mời quý bạn đọc bản văn thứ ba, được trích dẫn từ bài “VN 32 năm dưới chế độ Cộng sản”. Tác giả là một Kỹ sư Công chánh, nhân chuyến về thăm Việt Nam, đã ghi lại những điều vụn vặt mắt thấy tai nghe dưới bút hiệu Phó Thường Dân và gởi bài đăng trong Nguyệt san Hồn Việt (Số 296, tháng 5-2008).

Tôi thấy ở Sài Gòn với hiện tượng tiếm công vi tư lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê… Chưa thoả mãn, ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng. Ông chủ bự này chắc chắn không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy… Còn nhiều… rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhản ở khắp Sài Gòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể: Một công thự ở vườn Tao Đàn, nhà cấp cho viên giám đốc, mặt tiền ngó vào trong, mặt hậu nhìn ra phía đường, bèn có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi… Ngang ngược và lộng hành nhất là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương Minh Ký, đường Trần Hưng Đạo, chễm chệ xây lên ngay góc phải sân trường, ăn cướp một phần sân chơi của học sinh… Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công an. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà, không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn. Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai? Tất nhiên là phải thưa với công an. Không lẽ công an xử công an?

Tác giả Phó Thường Dân viết “Không lẽ công an xử công an” và nhắc lại lời cố Trung tướng Trần Độ viết trong Nhật ký Rồng rắn, cũng tương tự như vậy: “Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Đảng. Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Đảng chống tham nhũng thì Đảng chống Đảng sao?.

Lịch sử là chuyện lặp đi lặp lại những sự việc trong quá khứ. Thời buổi nào cũng có chuyện cá lớn nuốt cá bé, chuyện mạnh ăn hiếp yếu, chuyện cường hào ác bá hiếp đáp dân lành! Bài văn thứ nhất tả cảnh giặc nhà Minh bên Tàu sang hiếp đáp dân ta. Bài văn thứ hai, HCM nói về sự ác độc của Thực dân Pháp. Bài văn thứ ba nói về sự lộng hành chiếm đoạt đất công của công an và quan chức đỏ ngay tại Sài Gòn. Cần nhắc lại là sau khi cưỡng chiếm miền Nam, những chính sách “Học tập Cải tạo”, “Xây dựng vùng Kinh tế mới” v.v… chỉ là những thủ đoạn ăn cướp nhà cửa của cải của người dân. Sau đợt chiếm đoạt tài sản của tư nhân xong, công an và quan chức đỏ, tức là Đảng, quay sang chiếm đoạt đất công cộng, lề đường, công viên, đến sân chơi của học sinh cũng không chừa! Tựu trung, ba bài văn nói đến ba loại giặc, Giặc Tàu, Giặc Pháp, Giặc Hồ, tất cả chỉ là chuyện kẻ có quyền thế cướp đoạt của người dân thấp cổ bé miệng, nhưng xét cho thấu đáo, hiển nhiên trong trận Giặc Hồ, đảng viên Đảng CS do HCM thành lập, toàn là người Việt, mà sao lại tham tàn hơn quân của Tô Định, ác độc hơn quân nhà Minh, và phá hoại hơn Thực dân Pháp ngày xưa!

Đảng đã phá hoại Đất nước triền miên. Xin được thêm vào thành tích phá hoại mới nhất của Đảng, việc phá Tòa Khâm sứ Hà Nội. Sau Mùa Bịt miệng 2007 ô nhục, tiếng xấu vang xa khắp thế giới, thì đến năm 2008, là Mùa phá Tòa Khâm sứ Hà Nội, ô nhục chất chồng ô nhục! Vụ Tòa Khâm sứ Hà Nội (số 40-42 đường Nhà Chung) và Giáo xứ Thái Hà (số 178 đường Nguyễn Lương Bằng) ẩn tàng nhiều uẩn khúc. Đem tất cả ra ánh sáng chân l ý, đầu dây mối nhợ dẫn đến thủ phạm của sự việc, hóa ra chỉ là lòng tham của các Quan chức đỏ, những người mà nữ sĩ Dương Thu Hương gọi là những “Bự giòi”. Tòa Khâm sứ Hà Nội là một tòa nhà trên mảnh đất 2 mẫu rưỡi ở đường Nhà Chung đó. Trên con đường mang tên Nhà Chung (danh từ riêng, viết hoa) có ngôi nhà trước đây được dùng làm dinh thự của Đức Khâm sứ, vị Đại diện Tòa thánh Vatican. Ngôi nhà này được thiết lập trên 100 năm, thật lâu trước khi đảng Cộng sản Đông Dương ra đời. Đến năm 1954, đảng CS chiếm đoạt khu đất nầy. Từ năm 1994, Tòa Khâm sứ bị biến thành ổ giải trí Karaoke của một số lãnh đạo quận Hoàn Kiếm.

Tổng Giám mục và Giáo dân Hà Nội đã lên án sự chiếm hữu đất tôn giáo làm của riêng và yêu cầu Đảng trả lại đất. Giáo dân ngày đêm đến cầu nguyện trước Thánh giá và tượng Đức Mẹ dưới gốc cây cổ thụ trong khuôn viên Tòa Khâm sứ. Thành ủy Hà Nội ra lịnh cơ quan công quyền giải tán đám giáo dân cầu nguyện đòi đất, đòi Tòa Tổng Giám mục dời Thánh giá và tượng Đức Mẹ. Giáo dân cũng không vừa, càng tới cầu nguyện đông hơn và nhất định không di dời tượng. Không chịu thua, Đảng thẳng tay đàn áp, dùng dùi cui, hơi cay, dùng cả roi điện đánh đập giáo dân một cách dã man, có lúc Đảng lại còn cho du đãng giả dạng thường dân và xử dụng “chó nghiệp vụ” lâm trận. Xem đấy, “Cuộc Chiến tranh của HCM đánh Dân tộc” nào có ngưng vào ngày 30-4-1975 đâu! Vẫn còn đánh mãi!

Để rút ngắn câu chuyện, bên giáo dân thấp cổ bé miệng của Giáo phận Hà Nội có đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt trợ lực, cùng sự ủng hộ của đồng bào thân thương khắp nơi trên thế giới, và nhất là có Chính nghĩa quyết tâm đòi lại ngôi nhà cũ ôm ấp đầy kỷ niệm cả trăm năm dài. Trái lại, bên UBND quận Hoàn Kiếm, có quyền có thế, có lòng tham thúc đẩy, và có giá đất mắc hơn vàng làm chất xúc tác, nhưng lại đuối l ý. Không phân lô bán đất được, Đảng bèn chơi trò “không ăn thì phá cho hôi. Chiều ngày 18-9-2008, Đảng công bố dự án xây dựng công viên trên miếng đất đó. Ngay trong đêm, ví như đám cưới chạy tang, Đảng mang hàng rào ngựa sắt và kẽm gai cô lập khu vực Tòa Khâm sứ và cho xe cơ giới tới ủi sạch các công trình phụ (xây về sau) và biến Tòa Khâm sứ thành công viên. Vài tuần sau, ngày 25-9-2008, Linh địa Giáo xứ Thái Hà cũng bị nhà cầm quyền thành phố Hà Nội đưa phương tiện cơ giới đến san bằng và biến thành công viên thứ hai.

 

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)