Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 10

HỒ CHÍ MINH, CHÍNH TRỊ GIA TỒI TỆ

...

Nguồn lực sinh tồn của Dân tộc

Cuộc đảo lộn sơn hà thô bạo của Chính trị gia tồi tệ HCM đã phá nát Tổ chức xã thôn Việt Nam lưu truyền tự nghìn xưa. Đó thật là những khuôn vàng thước ngọc mà người viết xin được gọi là “Nguồn lực sinh tồn của Dân tộc”. Thành Thăng Long phải mất 10 thế kỷ mới làm nên lịch sử. Nhưng từ thật lâu gần năm ngàn năm trong thời tiền sử xa xưa, Tổ tiên của Việt tộc đã biết tổ chức xã thôn làng mạc (năm nay 2010 Tây lịch là 4889 năm trong Việt lịch). “Đất có lề, quê có thói”, và những thói tục được dân làng tuân theo để biến thành thuần phong mỹ tục của từng miền. Đến thời lập quốc, khi Đất nước có vua ở kinh đô thì xã thôn đã được tổ chức vững chắc cho nên những phong tục, tập quán, cơ cấu chính quyền xã, tín ngưỡng đã ăn sâu vào đầu óc người dân và đã trở thành như những nguyên tắc bất di bất dịch, vua cũng phải tôn trọng như câu “Phép vua thua lệ làng” dẫn giải.

Đó là sự tương nhượng rất dân chủ. Nhà vua với triều đình gồm Lục Bộ và Cơ Mật viện thì chăm lo việc quốc gia đại sự còn việc tổ chức cai trị ở xã thôn làng mạc thì do dân quê điều hành, không ai dẫm chân lên ai. Trong bài Tổ chức xã thôn Việt Nam (Nam Úc Tuần báo chuyển tải trong số 730 ngày 5-2-2010), tác giả Phạm Hy Sơn nghiên cứu cách phân quyền rất dân chủ đó và viết: “Đời Trần (Trần Thái Tông) đời Lê (Lê Thánh Tông), nhà vua muốn bổ viên chức Xã quan (hay L ‎‎ý trưởng) là người của chánh quyền về cai trị thay cho viên chức từ trước vẫn do dân chúng bầu ra đều thất bại phải bãi bỏ. Thời Pháp thuộc, chính quyền Thực dân biết làng xã là nguyên nhân chính gây trở ngại cho chính sách đồng hóa của họ nên ra Nghị định dưới danh nghĩa Cải lương Hương chính ở miền Bắc năm 1904 và ở miền Nam năm 1921 cũng đưa đến thất bại vì không được dân chúng tiếp nhận.

Sự phân quyền giữa vua ở triều đình và dân quê ở xã thôn làng mạc rất dân chủ và bền chắc như vậy nên không chính quyền nào có thể phá vỡ được. Còn trong phạm vi mỗi một làng xã là đơn vị nhỏ nhất của Đất nước cũng có sự phân quyền tương tự. Tác giả Phạm Hy Sơn viết tiếp: “Làng xã của ta từ xưa đã có cơ cấu tổ chức gần giống với cơ cấu tổ chức của các quốc gia dân chủ tân tiến ngày nay, đó là chia chính quyền thành cơ quan Lập pháp (tương đương Quốc hội) do Hội đồng Kỳ mục phụ trách (Ghi chú thêm: ở miền Nam là Ban Hội tề) và cơ quan Hành pháp (tương đương Tổng thống) do Xã trưởng đứng đầu. Thời ấy chỉ không có cơ quan Tư pháp tức Tòa án coi việc xét xử mà do vị Tiên chỉ đứng đầu Hội đồng Kỳ mục hay L ‎ý trưởng phụ trách.

Để tô điểm cho đủ hoa lá cành, cây Văn hóa do tổ tiên Việt tộc ta vun trồng trong tổ chức xã thôn lại trổ thêm quả đẹp là bản Hương ước do Hội đồng Kỳ mục thành lập (tương đương với Hiến pháp của quốc gia). Tuy bất thành văn, nhưng bản Hương ước là định chế được truyền khẩu muôn đời về quyền lợi và nghĩa vụ của người dân trong xã. Hội đồng Kỳ mục ở miền Bắc hay Ban Hội tề ở miền Nam gồm những người có tuổi, có tư cách được kính trọng, hoặc những người có học thức đã từng có địa vị trong xã hội (cựu quan lại) do dân chúng tín nhiệm bầu ra.

Trong bài biên khảo Một nền văn minh Ông Đồ”(Giai phẩm Xuân Chiêu Dương năm Bính T ý 1996), k ý giả Huy Quân Phan Lạc Phúc đã viết về một nét văn hóa đẹp ở xã thôn do sự góp mặt của ông đồ. Đó là một kẻ sĩ bình dân, một người lãnh đạo bình dân gần gũi của nông dân Việt Nam: “Ông đồ là người đại diện của nho lâm, là một tấm gương làm sáng cái Đức của Thánh hiền. Tại minh minh đức. Tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện. Ông cố gắng trở thành một người quân tử ở quê nhà, ông còn là một kho trí thức nhỏ ở thôn quê vì ông đồ thường kiêm luôn nghề thầy thuốc, nghề phong thủy. Có khi dân làng có gì tranh chấp, trước khi lên chốn công đường, họ đến nhờ ông đồ phân xử đã.

Đến khi Dân tộc tiếp nhận làn sóng Tân học từ phương Tây thì “ông Đồ muôn năm cũ” đó được thay thế bằng ông thầy giáo trường làng. Ký giả Huy Quân viết tiếp: “Đây là một ông đồ hiện đại, được trang bị những kiến thức mới. Đây chưa phải là những nhà thông thái, nhưng đó là hàng loạt những nhà trí thức vườn có mặt ở thôn quê làng xã giống như ông đồ ngày xưa bên cạnh nông dân. Những ông đồ kiểu mới phổ biến khắp nơi một quan niệm mới, một đời sống mới. Ông đồ này đâu phải ai xa lạ chính là các ông thầy giáo trường làng. Làng nào muốn khá mà không có trường học. Tất cả các ông thầy giáo đều đứng trong một hàng ngũ, một đảng phái (nếu có thể gọi như vậy), chung lưng đấu cật trong nhiệm vụ vừa giảng dạy vừa nêu gương. Nước mình xưa nay vẫn có khuynh hướng trọng văn, yêu người có học, kính kẻ sĩ.

Ký giả Huy Quân nhắc lại câu thành ngữ nói lên tấm lòng của bậc làm cha mẹ : “Muốn sang thì bắt cầu kiều. Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Và đặt câu hỏi: “Có người cán bộ nào được nhân dân yêu mến sẵn trong lòng như thế hay không? Điểm đáng nói trong tổ chức mới này là người thầy giáo ngoài chuyện dạy học còn phải đứng trong hội đồng làng xã. Bất cứ quyết định nào của làng xã đều phải có ‎ý kiến của Ủy viên giáo dục này.

Tiêu thổ Kháng chiến

HCM, kẻ chủ mưu đánh Dân tộc, đã phối hợp “Tiêu thổ Kháng chiến” cùng với “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” thành sách lược Đào trốc Dân tộcTàn phá Đất nước thật tỉ mỉ ngay từ lúc ban đầu và phá hư cuộc Cách mạng Mùa thu của Dân tộc! Giống như chuyện “Chém tướng phá thành” trong chiến tranh cổ điển, HCM thành lập Ủy ban Nhân dân xã để triệt hạ Hội đồng Kỳ mục và “kho trí thức nhỏ” tức ông giáo trường làng. Thượng tầng tổ chức nhân sự của làng đã triệt hạ, kể như xong việc “Chém tướng”, ông quay sang việc “Phá thành”. Bằng chiêu bài “Tiêu thổ Kháng chiến”, ông cho đập phá hạ tầng kiến trúc tức Đình, Chùa, Nhà thờ, Miếu mạo, Chợ và Trường làng, cả đến những ngôi nhà tường tô mái ngói của dân cũng không chừa.

Về quốc nạn “Tiêu thổ Kháng chiến”, làng An Phú Xã tỉnh Thủ Biên của cựu Thẩm phán Phạm Đình Hưng tác giả quyển Cuộc chiến cô đơn là một trường hợp điển hình về việc “Chém tướng phá thành”. Theo lời thuật của tác giả thì 2 vị trong Ban Hội tề trong làng là Hương Cả Phạm Văn Tuân và em ông là Hương Hào Phạm Văn Trạc đã bị chặt đầu một cách dã man và sau đó Tỉnh ủy Kiều Đắc Thắng đã ra lịnh thiêu hủy tất cả đình, chùa, trường học, chợ búa, cơ sở công cộng, và nhà tô của những người giàu có trong làng.

Cũng ở một tỉnh miền Đông, vào thời Đệ nhất Cộng hòa, tức khoảng hơn 10 năm sau, người viết về làng cũ và gặp lại Chú Hai Tài. Đó là vị cao niên còn sót lại và trở thành niên trưởng trong làng vì vào lúc đó những vị già hơn ở bậc “Bác” như Bác Ba Quởn, Bác Mười Cao và các bác khác đã qua đời. Trong câu chuyện, người viết thắc mắc muốn biết vì sao các “Ông Làng” (tức là Ban Hội tề) hồi đó lại đốt phá đình chùa miếu chợ trường trong làng của mình như vậy, thì Chú Hai Tài “cắt nghĩa”: “Không phải đâu cháu, không ai muốn đốt phá hết! Chỉ có 4 thằng mang 4 khẩu súng ở trên quận xuống. Bốn thằng đó kêu mấy thanh niên 15, 16 tuổi trong làng đi theo tụi nó đốt phá mà thôi. Chú và mấy bác ở đây khi thấy khói bay lên, ai cũng ứa nước mắt. Còn ngôi đình, đốt không được, chúng mới lấy hai cây tầm vông nối buộc lại cho dài, rồi đứng dưới thọt lên cho ngói rớt xuống!.

Một bạn thân là anh L.T.Q., năm nay cũng gần bát tuần, thuật chuyện “Tiêu thổ Kháng chiến” ở tỉnh Gò Công ngày xưa của anh như sau: “Anh biết không, hồi đó khi nghe lịnh Tiêu thổ Kháng chiến, không ai dám cãi, nhưng không ai muốn đốt phá làng mình. Tụi nó mới sai thanh niên làng khác đến đập phá làng tôi. Thanh niên làng tôi tức giận, mới rủ nhau đi đập phá các làng khác lại. Một bạn ở tỉnh Long An thuật chuyện phá ngôi trường của làng anh như sau: “Trường làng tôi là một dãy nhà dài gồm 5 lớp. Tụi nó lấy nhiều dây dừa cột vào một bức tường rồi mấy chục đứa xúm vào kéo sập từng bức tường một. Thế là xong. Một bạn khác ở Quảng Nam bảo rằng làng anh rất nghèo: “Trường làng chỉ là ngôi nhà ọp ẹp không đáng phá, xét rằng dù quân Pháp có đến, chúng cũng không đóng bót ở đó được. Trong làng cũng không có ngôi nhà nào đáng giá. Ngôi kiến trúc đồ sộ nhất trong làng chỉ là đình làng. Rất đồ sộ! Phải là công trình đóng góp của tất cả dân làng trong nhiều đời mới thành! Chúng phá tan hoang, xong tụi con nít lượm mấy mảnh đồ sứ trang hoàng ở mái đình rớt xuống đem về nhà chơi!

Với “Tiêu thổ Kháng chiến” hay nôm na là chiến thuật “Vườn không Nhà trống”, các cán bộ Việt Minh bảo rằng “đó là chiến pháp tuyệt vời Liên Xô đã áp dụng để chống ngoại xâm. Bây giờ, ta kháng chiến chống Pháp, ta cũng phải áp dụng chiến pháp đó. Thật đúng vậy, hai lần trong lịch sử nước Nga, chiến thuật “Tiêu thổ Kháng chiến” đã giúp quân Nga chiến thắng. Lần đầu là đoàn quân nước Pháp hùng mạnh nhất Âu Châu của Hoàng đế Napoléon bị đại bại vào mùa đông 1812. Đại quân của Napoléon chiếm thành Mạc Tư Khoa dễ dàng vì thành bị bỏ ngõ và bị đốt thành bình địa do chiến thuật Tiêu thổ của quân Nga (có giả thuyết cho rằng quân Pháp đốt phá). Không có chiến y đủ ấm, lại bị quân Nga phản công mạnh, quân Pháp rút lui thảm bại và bị đánh tập hậu, gần nửa triệu hùng binh không còn đến một trăm ngàn! Lần thứ hai trong lịch sử là Đệ nhị Thế chiến, khi đoàn quân Đức Quốc Xã kéo vào Mạc Tư Khoa, thì không tìm được nơi trú ngụ, quân phục không đủ ấm, xe chuyển quân và chiến xa chế tạo không thích hợp cho mùa đông quá lạnh, cho nên đến lúc quân Nga phản công cũng đã bị thảm bại như quân Pháp ngày xưa!”

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)