Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 10

HỒ CHÍ MINH, CHÍNH TRỊ GIA TỒI TỆ

...

“Ông trung thành như thế, và lại tài giỏi hơn người, cho nên đời sau ai cũng kính phục và thường ví ông với ông Gia Cát Lượng bên Tàu”.

Chuyện Trần Quốc Hoàn và Nguyễn Mạnh Tường

Câu chuyện xưa trên đây xảy ra dưới triều vua Lý Cao Tông (1176–1210), mãi cho đến năm 1945 khi HCM và phe đảng của ông cướp chính quyền ở Hà Nội, thì trên 700 năm dài đã trôi qua. Đọc chuyện xưa để biết phép dùng người thật vô cùng quan trọng, nhất là khi liên quan đến quốc sự và việc trị nước. Nếu ông Tô Hiến Thành được người đời truyền tụng và ví ông như vị quân sư tài ba đời Tam Quốc là Khổng Minh Gia Cát Lượng, thì đời nay, qua cách dùng người của HCM, chúng ta chỉ có thể gọi ông là Con vẹt của Stalin mà thôi. HCM đã xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam theo khuôn mẫu Liên Xô và điều hành Đảng để đánh Dân tộc vô cùng khắc nghiệt. Trong cuộc chiến tranh bẩn thỉu đó, Dân tộc đã đại bại dưới tay HCM, trên khắp các mặt trận, nhất là trên mặt trận văn hoá.

HCM đã từng đến Liên Xô và Trung Quốc nhiều lần. Đi ngang qua đất Tàu, Bác Hồ nhà ta gặp Mao Trạch Đông và nghe Bác Mao nói “Trí thức không bằng cục phân” thì Bác Hồ mừng rỡ như bắt được vàng, bèn lấy bỏ vào “Cẩm nang Kách mệnh” mang về nước. Đến khi thực thi Đấu tranh Giai cấp trong biến cố Xô viết Nghệ Tĩnh và trong chiến dịch CCRĐ, tư tưởng “Trí thức không bằng cục phân” thật vô cùng tiện dụng vì Trí thức là giai cấp hàng đầu HCM phải triệt hạ như trong khẩu hiệu “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Trong việc tổ chức Đảng và Nhà Nước, Bác Hồ lại càng áp dụng thật nhuần nhuyễn tư tưởng của Bác Mao xem Trí thức không bằng cục phân. Chuyện Trần Quốc Hoàn và Nguyễn Mạnh Tường là một dẫn chứng hùng hồn.

Trần Quốc Hoàn tên thật là Nguyễn Trọng Cảnh, thường được gọi là “Cảnh Con”, chỉ học đến lớp “Préparatoire” (“Lớp Dự bị” tức là Lớp hai trường Cấp một bây giờ) thì bị đuổi học vì hạnh kiểm xấu. Trong quyển Đêm giữa ban ngày, tác giả Vũ Thư Hiên viết (tr. 598): “Từ đó, Cảnh Con lêu lỏng như một con mèo hoang, nhà nào sơ hở là nó lẻn vào, cuỗm của họ từ cái quần lót cho tới cái nồi đồng. Bị bắt, bị đánh, năm ngày ba trận, nhưng nó vẫn chứng nào tật nấy, càng ngày càng lì, càng trở nên bất trị”. Cho nên Cảnh Con trở thành gánh nặng cho gia đình và thôn xóm, không còn ai có thể chịu nổi nữa. Đến khi có người mộ phu sang Lào, viên thôn trưởng “liền hớn hở giao ngay thằng ăn cắp oắt con cho họ”.

Rồi Cảnh Con trở thành phu đãi vàng ở Lào. Sau một thời gian, Cảnh Con trốn khỏi đất Lào về Hải Dương đi theo một đám cướp. Vì nhát gan nên bị chúng đuổi, Cảnh Con mới bò về Hà Nội, nhập vào đám móc túi, giật dọc, rồi lại xin nhập vào đám tiểu yêu cầm cờ đám ma, dưới trướng một tên anh chị ở phố Hàng Chợ Gạo. Cầm cờ đám ma cũng bữa đói bữa no, vì không phải ngày nào cũng có đám ma nhà giàu đủ tiền trả công, mà lại còn phải tranh giành với băng chợ Đồng Xuân và những băng khác. Sau cùng, Cảnh Con xin được chân sắp chữ ở nhà in Tân Dân. Nhưng chứng nào tật nấy, gặp lúc hợp kim antimoine dùng để đúc chữ chì lên giá, Cảnh Con liền ăn cắp chữ in đem bán. Ăn cắp một ký lô chữ in bán được 6 đồng còn cầm cờ đám ma thì phải 20 đến 30 đám mới được. Rồi Cảnh Con bị bắt quả tang trong lúc trên vai còn mang cả bị chữ in.

Phần tiểu sử thời thơ ấu của Trần Quốc Hoàn là do Nguyễn Tạo thuật lại, ông từng là Phó Tổng giám đốc Nha Công an, thời ông Lê Giản là Tổng giám đốc. Tác giả Vũ Thư Hiên chép lại cùng với lời thuật của cha ông thành Chương 34 trong đại tác phẩm Đêm giữa ban ngày (từ tr. 591 đến 609). Vũ Thư Hiên viết tiếp: “Không biết được ai mách giúp bảo dùm mà thằng ăn cắp chữ in liền khai với Sở Liêm phóng rằng hắn là nhà ái quốc, chữ in hắn lấy là để cho các tổ chức cách mạng in báo, in truyền đơn… Thế mà hắn được đưa sang bên chánh trị, mới lạ”.

Trong nhà tù Sơn La, Trần Quốc Hoàn được Lê Đức Thọ móc nối và gia nhập Đảng năm 1934, Trường Chinh tán thành. Người mà nhân cách như vậy lại được HCM cất nhấc lên làm Bộ trưởng Công an, và đã nắm Bộ Công an trong 27 năm dài, từ 1953 đến 1980. Vũ Thư Hiên thuật rằng đến khoảng đầu những năm 60, Trần Quốc Hoàn bỗng nổi bật lên như một tên Mao-ít cuồng nhiệt, một hung thần xã hội chủ nghĩa. Hoàn được gán cho biệt hiệu “Béria của Việt Nam” (Ghi chú: Béria là trùm mật vụ KGB của Stalin).

Cha của Vũ Thư Hiên là ông Vũ Đình Huỳnh, đã ngồi tù chung với Trần Quốc Hoàn ở Sơn La, đã có nhận xét (tr. 593 sđd): “Béria dù sao cũng còn là một hạ sĩ quan trong quân đội Nga Hoàng, còn có học đôi chút, chứ Trần Quốc Hoàn thì hoàn toàn vô học. Hồi Sơn La anh em tù nhận xét hắn tham ăn tục uống, đã thế lại có tính tắt mắt… Hắn tiểu nhân, mà đó là một tư chất đáng sợ. Hắn chấp nhặt lắm đấy. Và không từ việc gì không dám làm.”

Nhân sự Bộ Công an của HCM khởi đầu như thế đấy, cho nên từ ngày Trần Quốc Hoàn lên làm Bộ trưởng thì trên miền Bắc không có mấy gia đình không có người thân trong gia tộc ở tù. Viên phụ tá đắc lực của Trần Quốc Hoàn, dưới nét phác họa của Vũ Thư Hiên (tr. 596 sđd): “Thứ trưởng Lê Quốc Thân được người ta biết đến như một tên bất nhân. Trần Quốc Hoàn còn học được vài đường đạo đức giả ở đàn anh Lê Đức Thọ, chứ Lê Quốc Thân ngu độn chỉ biết kêu gọi dùng bàn tay sắt. Được Đảng tâng bốc là thanh kiếm và lá chắn chiến đấu vì sự nghiệp xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, ngành công an Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Trần Quốc Hoàn và Lê Quốc Thân nhanh chóng trở thành một đạo kiêu binh. Đến nỗi những cán bộ công an có công tâm phải thốt lên “Cái sự coi mỗi công dân là một tù nhân dự khuyết mở đầu cho một thời đại khốn nạn. Rồi đây chúng ta sẽ phải trả giá cho sự thất nhân tâm này.” (Vũ Thư Hiên chú thích: “Kiếm và Mộc” là biểu tượng của ngành công an Liên Xô).

Trong khi đó, một người thật yêu nước và thật trí thức là Nguyễn Mạnh Tường thì lại bị chế độ trù dập. Xin nhắc lại, Nguyễn Mạnh Tường đậu tú tài năm 16 tuổi ở Hà Nội và sang Pháp du học ở đại học Montpellier. Năm 1932, lúc 22 tuổi, ông đậu một lượt hai bằng Tiến sĩ Luật và Tiến sĩ Văn chương. Luận án Luật của ông được Chánh chủ khảo phê thật đẹp như sau (Trích bài Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã qua đời của Võ Văn Ái viết ở Paris năm 1997): “Luận án của NMT là một kiệt tác luật, hơn thế nữa nó là một kiệt tác luật và văn chương. Ông thành công trong hai phân khoa của Viện Đại học Montpellier. Tiến sĩ Luật năm 22 tuổi, ông cũng sắp trở thành Tiến sĩ Văn chương, đó thật là một kỷ lục, vì ở Pháp chưa ai đậu Tiến sĩ Văn chương năm 22 tuổi. Ông làm cho toàn thể trường Luật hãnh diện.

Chúng tôi cấp cho ông hạng cao nhất của chúng tôi: Ưu hạng với lời khen ngợi của Giám khảo

Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường tham gia cuộc Kháng chiến Chống Pháp. Thời gian sau chiến thắng Điện Biên Phủ, chính phủ HCM về tiếp quản Hà Nội, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường đạt tới đỉnh cao danh vọng, ông được giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Khoa trưởng Đại học Luật khoa, Thủ lãnh Luật sư đoàn, Phó Khoa trưởng Đại học Sư phạm, v.v… Đến Đợt Sửa sai sau cuộc CCRĐ, với tinh thần thượng tôn pháp luật và tánh trung ngôn bản thiện, ông đã viết một bài phê bình thật dài “Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo” (Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, tác giả Mạc Định Hoàng Văn Chí, tr. 404-432). Bài phê bình của ông đọc trong cuộc họp của Mặt trận Tổ quốc tại Hà Nội ngày 10-10-1956 nhắm vào “xây dựng quan điểm lãnh đạo” đã gây tác dụng “đàn khẩy tai trâu, sóng chao đầu vịt” như dân gian thường nói. Bởi lẽ “lãnh đạo” thuộc phạm vi độc tài độc tôn của HCM và của Đảng, nên bài viết đầy tâm huyết đó không xây dựng được gì cả mà chỉ làm cho tác giả bị đấu tố tất cả ba lần, bị truất hết các chức vụ, và bị trù dập suốt quãng đời còn lại.

Không còn được dạy ở Đại học, trong chế độ hộ khẩu tem phiếu khắc nghiệt của HCM, những ngày còn lại của Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường là nghèo, nghèo, nghèo và đói, đói, và đói. Ông phải đem bán những khăn trải bàn, bán những dĩa nhạc Tây Phương ông đã sưu tầm, và nhất là cân ký lô bộ sách luật quý giá bán làm giấy gói hàng. Con người tài hoa có bằng Tiến sĩ Văn chương Pháp ấy muốn mở lớp riêng dạy tiếng Pháp tại nhà, tất cả phụ huynh với tâm ý“chọn mặt gởi vàng” đều ao ước gởi con em mình đến học. Nhưng khốn thay, công an của Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đến từng nhà của các phụ huynh đó hăm doạ và ngăn cấm, nên lớp học không có học trò! (Trích Việt Nam cần đổi mới thật sự, tác giả Tiến sĩ Kinh tế Võ Nhơn Trí, tr. 138). Câu chuyện thêm phần bi thảm: Tiến sĩ Tường có nuôi một con chó, nó rất mến chủ, nhưng vì nhà không có thức ăn, nên chó đành phải bỏ đi, mắt rướm lệ quay nhìn chủ nhân cũng bị đói như mình!

Trong quyển Bên gòng sông Hát, quyển lịch sử 10 đời của dòng họ Nguyễn làng Kim Bài, tác giả Tiến sĩ Nguyễn Triệu Đan đã viết vài hàng thật đẹp về “Nghề Làm Thầy” ở nước ta ngày xưa (tr. 268 sđd): “Vùng quê tôi nhiều làng có trường học, ít thì một cái, nhiều như Kim Bài thì ba bốn cái. Thầy giáo có thể là quan chức hồi hưu, nhà nho khoa bảng hay người không có bằng cũng được. (Xin chú thích: vì “học tài thi phận” cho nên có người thi mãi không đậu tuy học rất giỏi, xứng đáng được làm thầy). Thể lệ rộng rãi cho phép cả người thi đỗ song vì phản đối chính sách của triều đình, nên không chịu ra làm quan, hoặc người làm quan phạm lỗi bị cách chức, cũng có thể ngồi dạy học.”

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)