Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 7

HỒ CHI MINH, CON VẸT CỦA STALIN

...

Người tù Hồ Chí Minh thật tốt số. Ngồi tù ở Hương Cảng bên trời Đông, mà các công nhân Anh Quốc tận Thái Tây bên Luân Đôn biểu tình làm áp lực chính phủ Anh để ủng hộ ông. Đó là điều Hồ Chí Minh cần giấu. Nếu ông không phải là Quốc tế ủy được Stalin đào luyện để xử dụng về sau, thì làm sao ông nhận được sự ưu ái như vậy. Thảo nào ông đã bỏ Dân tộc để cúc cung tận tụy phục vụ Quốc tế Cộng sản và Stalin.

Lần ở tù thứ 2, từ hang Pắc Bó đi sang Tàu vào tháng 8-1942, Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Tây ngày 29-8-1942 và bị giải về giam trong hang đá Độc Đăng Sơn ở Liễu Châu. Ông bị bắt vì ông đã mang trong mình ba thứ Chứng minh thư của các cơ quan thông tin tuyên truyền của Trung Cộng đã bị Chính quyền Dân quốc của Tưởng Giới Thạch đóng cửa. Hơn nữa, người dẫn đường ông trên đất Trung Hoa lại là một cán bộ Trung Cộng nằm vùng không có Chứng minh thư. Ông bị tình nghi là Cộng sản và gián điệp của Nhật. Lần nầy, Hồ Chí Minh cũng gặp may mắn nhờ sự phát giác của một đảng viên VNQDĐ là Lý Thái Thư (Trích bài Một thoáng mong manh còn nhớ mãi để tưởng niệm 50 năm ngày mất của nhà văn Khái Hưng 1947-1997, tác giả L ý Thái Thư, bài đăng trong Đặc san Việt Quốc, VNQDĐ Xứ bộ Úc Châu, Khu bộ Victoria xuất bản). Khi gặp Lý Thái Thư vào trong hang động Độc Đăng Sơn thăm mình, Hồ Chí Minh lúc đó mang tên Lý Thụy mừng rỡ, tha thiết cầu khẩn: “Vì tình đồng hương, đồng bào ruột thịt, năn nỉ với Tổng hội can thiệp dùm, vì trong chiến tranh Hoa-Nhật, chính phủ Trung Quốc có quyền nghi ngờ hết thảy và gán cho mọi người là CS hoặc làm gián điệp… Vậy quý ông trình bày dùm cho. Ơn ấy chúng tôi chẳng bao giờ dám quên…”

Lý Thái Thư về báo cáo với Chủ tịch Trương Bội Công và cụ Nguyễn Hải Thần là những vị lãnh đạo Tổng hội VNCMĐMH, và nhờ sự bảo lãnh của hai vị này, Hồ Chí Minh tức Lý Thụy được thả ngày 10-9-1943. Tính ra Hồ Chí Minh bị giam giữ 12 tháng 12 ngày. Trong lần ở tù này, ông được quản lý theo chế độ nghi can chính trị, có thể đọc sách báo, ăn uống đầy đủ, và không bị lao dịch. Ông hẳn là một người tù tốt số, bị bắt ở tù hai lần mà lần nào cũng gặp quới nhân trợ giúp và được hưởng chế độ lao tù thật tốt đẹp.

Người tù thứ hai: Tạ Thu Thâu  

Nhà cách mạng Tạ Thu Thâu là người tù thứ hai trong câu chuyện. Ông không tốt số như Bác vì ông là tù nhân của Thực dân Pháp. Một cách sơ lược về cuộc đời tù tội của Tạ Thu Thâu: ông bị Pháp bắt tất cả 7 lần, 30 lần ra tòa trong đó có nhiều lần ông tự biện hộ bằng tiếng Pháp thật điêu luyện, 3 lần tuyệt thực để phản đối, có lần tuyệt thực dài 12 ngày (vụ tuyệt thực của ông thánh Gandhi ở Ấn Độ chỉ dài 8 ngày), có lần bị phạt 500 quan tiền vạ. Lần ở tù sau cùng, ông bị tiêm một mũi thuốc gây cho ông mê man bất tỉnh trong hai ngày và do đó cánh tay phải của ông bị hoàn toàn tê liệt cho đến ngày chết. Tác giả Phương Lan viết về mảnh hình hài còn sót lại của Tạ Thu Thâu sau một đời làm cách mạng:

Nhiều lần vào tù ra khám như bao nhiêu người dân yêu nước. Rồi lần ở tù chót, bị chích tê liệt cả thân người, được Pháp thả về nhà, sống với thân hình tàn phế, tay chân rút co quắp lại, sống một cách khổ sở, người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm, chỉ nằm chờ ngày chết, không còn năng lực gì nữa.”

Có một nhân chứng là Nguyễn Văn Thiệt tường thuật những giây phút cuối cùng của Tạ Thu Thâu. Lúc đó anh Thiệt đi xe lửa tới Quảng Ngãi thì phải ngừng lại nghỉ đêm. Trong lúc ngồi ở quán nước, hỏi thăm bà bán quán về người bạn tên Lê Xán là một người yêu nước theo cụ Phan Bội Châu, bị Pháp bắt đày đi Lao Bảo. Không ngờ khi Pháp thả ra, thì Lê Xán bị Việt Minh bắt lại và bị xử tử. Anh Thiệt vì muốn biết tin bạn nên cũng bị Việt Minh bắt và bị buộc tội “đến Quảng Ngãi để giải vây cho Lê Xán.” Nhờ thế, anh là chứng nhân và viết được bài Tôi thấy Tạ Thu Thâu chết (đăng trong quyển Người Việt ở Pháp 1940-1954 do tác giả Đặng Văn Long sưu tầm, trang 477). Theo lời anh Thiệt thì Ủy ban tỉnh Quảng Ngãi cũng không biết Tạ Thu Thâu bị tội gì, chỉ nhận được điện tín của Trần Văn Giàu đánh ra cho các tỉnh ra lệnh gặp Tạ Thu Thâu thì bắt. Khi Ủy ban tỉnh báo cho Trần Văn Giàu đã bắt được Tạ Thu Thâu thì Giàu ra lịnh hãy xử tử. Khi đem ra sát trường thì Tạ Thu Thâu trần tình cùng mấy người lính. Ông nói hay và đúng quá nên không ai nỡ bắn, có người còn cảm động rơi lệ nữa. Lại đánh dây thép về Sài Gòn hỏi xem có giết lầm không. Và đã hai lần như thế, Trần Văn Giàu đánh dây thép ra bảo giết. Theo lời anh Thiệt, đến lúc đó họ nhận được lệnh riêng của Cụ Hồ ở Hà Nội điện vô khiển trách Ủy ban bất tuân thượng lệnh. Nhưng đội hành quyết vẫn động mối từ tâm không nỡ bắn. Anh Thiệt thuật lại rằng anh mừng đến rơi lệ khi họ dẫn Tạ Thu Thâu về, nhưng liền sau đó “một người trai trẻ mặc áo nâu quần sọt trắng ra vẻ học trò, tuổi lối mười bảy, mười tám, hung hăng nhảy ra, rút cây dao găm dắt ở lưng đâm vào vai Tạ Thu Thâu, miệng vừa hét “Đồ Việt gian phản động”, rồi đạp Tạ Thu Thâu vào bụng cho ngã quay ra đất, đoạn đấm đá túi bụi.” Mắt anh Thiệt đẫm lệ nên không thấy được tường tận nhưng còn nhớ hình ảnh của một đám đông người bao quanh một bóng trắng đang quằn quại giữa vũng máu và nghe giọng the thé rất trong của người thiếu niên: “Các đồng chí hèn quá, một thằng Việt gian cũng không dám giết.

Tác giả Phương Lan Bùi Thế Mỹ cũng tường thuật tương tự như thế trong sách của bà (trang 440): “Thâu từ Huế vào Quảng Ngãi thì bị bắt tại Sông Vệ, thuộc quận Tư Nghĩa. Khi Thâu vừa để chân đến đấy, là cán bộ địa phương hay liền Thâu là thành phần Đệ tứ Quốc tế, họ báo động với nhau, và liền bủa vây bắt ngay Thâu, giải ra xã Ba Lá, ở phía bắc Sông Vệ, giao cho cấp lãnh đạo tỉnh là Tư Ty. Tư Ty ra lịnh chém.”

“Như lời các chứng nhân kể lại, Thâu binh vực mình, Thâu thuyết phục rằng mình vô tội, mình có công hơn là có tội. Không ai chịu ra tay giết Thâu cả. Có người mắt ven tròng rướm lệ là khác. Hai lần như thế, đi không về không. Tới lần thứ ba, cũng thế, đội hành quyết sững sờ đứng yên, Tư Ty phải tự tay dùng súng lục giết Thâu, một cách hèn nhát là đứng phía sau lưng Thâu bắn tới…

Nhắc lại giai đoạn lúc Thực dân Pháp mới chiếm Nam Kỳ, có biết bao nhà ái quốc tự động nổi dậy chống Pháp, trong số đó có Nguyễn Trung Trực. Ông chỉ huy nghĩa binh đánh quân Pháp nhiều nơi, nổi bật nhất là chiến công đốt phá chiến thuyền Espérance do trung uý Parfait của Pháp chỉ huy vào ngày 11-2-1861 tại rạch Vàm Cỏ làng Nhật Tảo. Nhưng rồi thế cùng lực tận, ông bị bắt ở Kiên Giang, ông nhất quyết không chịu hàng nên bị tử hình ngày 27-10-1868. Người dân thương nhớ và ghi công ông trong câu đối được truyền tụng như sau: “Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa. Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần

Lịch sử ghi lại rằng khi đem ông Nguyễn Trung Trực ra “sát trường”, không một người lính Việt Nam nào chịu ra tay chém ông. Pháp phải ra dùng một đao phủ người Miên mới hành quyết được. Lịch sử là những biến cố thường được lặp đi lặp lại. Sau đó 77 năm, vào “Mùa thu Kách mệnh” của Hồ Chí Minh năm 1945, nhà cách mạng yêu nước Tạ Thu Thâu cũng gặp hoàn cảnh tương tự. Ba lần mang Tạ Thu Thâu ra “sát trường”, cả ba lần đội hành quyết không đành lòng ra tay giết, mà có người còn khóc vì thương ông nữa. Sau cùng, tên Tư Ty, một cán bộ lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi mới rút súng bắn ông từ sau lưng. (Xin mở ngoặc, trong đoạn văn nầy người viết dùng chữ sát trường mà không dùng chữ pháp trường, bởi lẽ kẻ hành quyết chỉ có mục đích sát hại chứ không xử theo pháp luật nào cả).

Trên sân khấu lịch sử, tấn tuồng sát hại nhà ái quốc Nguyễn Trung Trực do Thực dân Pháp diễn xuất năm 1868, thì vào “Mùa thu Kách mệnh” năm 1945, đạo diễn Hồ Chí Minh cùng với sự cộng tác của Trần Văn Giàu cũng dàn dựng một vở tuồng y hệch như thế để giết nhà cách mạng yêu nước Tạ Thu Thâu. Trong vở tuồng mới, cũng có những đao phủ xót thương người trung nghĩa nên không chịu ra tay, cũng có tên Việt Cộng Tư Ty rất xuất sắc trong vai đao phủ người Miên ác độc, còn phản tặc Hồ Chí Minh và Trần Văn Giàu đã đóng trọn vẹn lại vai Thực dân Pháp ngày xưa! Đến đây, xin một phút mặc niệm cho nhà Cách mạng Tạ Thu Thâu bằng đôi dòng hồi tưởng của học giả Nguyễn Hiến Lê trong quyển Hồi của ông. Vào mùa Thu năm 1945, học giả Nguyễn Hiến Lê trên đường tản cư từ Sài Gòn về Long Xuyên, đã nghe tin Phan Văn Hùm bị giết, nên trong Hồi Ký Tập 1 ông viết (trang 318):

“Cũng ngày đó chúng tôi lại được tin Tạ Thu Thâu bị giết ở Quảng Nam trên đường từ Huế về Sài Gòn. Tôi xúc động mạnh, vì tôi rất quý ông ta. Ông gốc ở Long Xuyên, du học Pháp về, sống rất giản dị, bình dân, khắp thành phố không ai không vừa trọng vừa yêu, nhất là giới thợ thuyền. Căn nhà của ông ở gần Cầu máy, một khu lao động, tuy bằng gạch, nhưng nhỏ, hẹp, xấu xí”.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101, 102, 103, 104, 105, 106, 107, 108, 109, 110, 111, 112Quân Sử Việt Nam (Top)