Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 4
CÁI BÁNH VẼ CỦA HỒ CHÍ MINH

...

“Bữa cơm của dân chúng đã phải độn bo bo, chẳng khác gì ở Hà Nội. Nhưng Sài Gòn vẫn sầm uất, vẫn nhộn nhịp, vẫn cố gắng để có cuộc sống riêng, chứ không sống theo chỉ thị. Thành thử nếu gọi cảnh Sài Gòn 1979 là tiêu điều thì không biết gọi cảnh Hà Nội bằng gì cho đúng.

Theo như câu vè mới phát sinh vào lúc đó “Người Nam nhận họ, Người Bắc nhận hàng, tình bà con họ hàng thân thương kẻ Nam người Bắc đùm bọc lẫn nhau được nhà văn Vũ Thư Hiên phác họa bằng nét chấm phá: “Người Hà Nội tiếp tục vào Sài Gòn kìn kìn khuân ra tivi, tủ lạnh và trăm thứ bà dằn khác.”Nhưng chữ bà dằn anh Vũ Thư Hiên dùng, thì ở trong Nam chúng tôi quen miệng nói hằm bà lằng, và có người còn nói hằm bà lằng xắng cấu cho có vẻ giống đồng bào người Việt gốc Hoa.

Sài Gòn năm 1977 dưới mắt Lương Thành Nĩ

Lương Thành Nĩ là người tỉnh Tây Ninh theo đạo Cao Đài, tác giả quyển Thực trạng của cuộc Chiến tranh Việt Nam xuất bản ở California, tháng 1-1995. Quyển sách dài 400 trang, được bố cục thành 82 “chương chuyện”, mỗi chương là một câu chuyện ngắn, gọn, đầy đủ ấn chứng, rất dễ đọc. Lương Thành Nĩ viết với tâm niệm cao cả rằng (trích Lời tựa, trang 3 sđd) “Mọi người chúng ta hãy làm một điều gì dù là nho nhỏ, hầu góp phần đừng để cho những kẻ gian trá, vốn đã lừa đảo được gần như mọi người trên khắp thế giới trong chiến tranh, không còn xe tròn, bóp méo được nữa đối với sự thật và lịch sử…

Ở chương III nhan đề Be bờ Cộng sản, thời điểm sau 1954, Lương Thành Nĩ nhắc lại câu nói của Hồ Chí Minh (trang 88 sđd):“Ngày nào miền Nam chưa được giải phóng, đồng bào miền Nam còn đói khổ, tôi ăn không ngon ngủ không yên.

Ngon! Hồ Chí Minh ngon! Đúng là lời nói của kẻ tiểu nhân vô lại tự mình tôn vinh là “Cha già Dân tộc” rồi được cả “bầy đàn” văn nô tung hô! Hồ Chí Minh quá gian xảo đã láo khoác vo tròn bóp méo lịch sử! Vào lúc đó miền Nam nào có đói khổ đâu, chính miền Bắc đang đói khổ mà “Bác” lại không lo. “Bác” chỉ cho dân “ăn bánh vẽ” và lo đem quân vào đánh chiếm miền Nam cho kỳ được! Hãy xem màn kế tiếp của vở bi hài kịch Giải phóng Miền Nam.

Rồi miền Nam được “giải phóng” ngày 30-4-1975. Lương Thành Nĩ viết tiếp: “Đến 1977 khi có lập loè cởi mở, phương tiện đi đứng đỡ eo hẹp, người từ Bắc ùa vào Nam LÀM KẺ HÀNH KHẤT ăn xin với mức độ không tưởng tượng nổi. Hầu như vào bất cứ một quán ăn hay giải khát nào dù nhỏ hay lớn ở tại thành phố hay thị xã, thị trấn nào cũng có người đến than thở cầu mong giúp đỡ. Nhưng thực khách không phải xót dạ nếu những kẻ ăn xin kia là người có tuổi, già cả, có lẽ bởi quá xa xôi nên các cụ không còn sức khỏe để đi từ Bắc vào Nam làm hành khất. Mà thực khách chỉ phải xót dạ vì những chị phụ nữ còn trẻ trung, khoẻ mạnh tay bồng con và những anh thanh niên trai tráng, có những người trông thật là khôi ngô, tuấn tú nhưng quần áo thì dơ bẩn nhăn nheo, cử chỉ thẹn thùng, cặp mắt trắng bệt mở lờ đờ, nhìn thấy họ chẳng còn một chút tự tin nào!

Về cái xã hội mà Hồ Chí Minh và Lê Duẩn xây dựng ở miền Bắc từ 1954 đến 1975, tác giả Lương Thành Nĩ, người dân Tây Ninh đã can đảm đứng lên nói thay Dân tộc, và đặt câu hỏi về tương lai của Đất nước: “Nhìn hình ảnh thanh niên của một xã hội chẳng còn niềm tin thì chắc ai cũng biết mức độ sung mãn của cái xã hội ấy như thế nào rồi phải không, thưa quí vị?!

“Tự do, cơm áo, hòa bình” không còn nữa

Tự do, cơm áo, hòa bình” là một ca khúcđược sáng tác trong những ngày tháng đầu tiên của cuộc Nam bộ Kháng chiến. Nhạc sáng tác do anh Nguyễn Văn Thông, một nhạc sĩ vĩ cầm, biệt hiệu Lữ Sinh. Vào lúc đó, anh phụ trách dạy nhạc cho trại huấn luyện Cán bộ Thanh niên và Thiếu nhi tại địa điểm Cồn Lớn sát bờ biển Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Một buổi trưa trong trại, nhạc sĩ Lữ Sinh đưa bản nhạc anh vừa viết xong cho Xuân Tước và bảo: “Tao viết nhạc, mầy làm lời đi!”.Xuân Tước viết trong quyển Hồi k ‎‎ý 60 năm cầm bút (Nhà xuất bản Văn Nghệ, trang 31):

Thế là tôi ngồi xuống. Anh nâng cây vĩ cầm lên, kéo cho tôi nghe một lần. Thấy hay, tôi bảo anh đàn lại, rồi chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đã hoàn tất ca khúc “Tự do, cơm áo, hòa bình”. Xuân Tước viết tiếp: “Lữ Sinh khoái quá. Ngay hôm sau, anh đem bài hát ra tập cho trại sinh.”   

Lời ca của bản nhạc như sau:

Làm sao khắp chúng dân đều tự do,
        Làm sao khắp muôn dân đầy cơm áo?
        Làm sao khắp thiên hạ hưởng hòa bình?
        …………………………………………….
        Vùng lên quyết tranh phần sống,
        Tự do, hạnh phúc kia rồi.
        Hòa bình, no ấm chào đón ta!

Thế vì sao “Tự do, cơm áo, hòa bình” không còn nữa? Đến 45 năm sau, câu chuyện mới được tiếp nối do bức thư của Xuân Vũ gởi cho Xuân Tước. Nhắc lại chuyện xưa lúc ở Trại huấn luyện Cồn Lớn, Xuân Tước là người điều khiển trại còn Xuân Vũ là một trại sinh thiếu nhi 16 tuổi. Năm 1992, lúc hai người đều sống đời tỵ nạn trên đất Mỹ, Xuân Vũ chép nguyên cả bài “Tự do, cơm áo, hòa bình” gởi cho thầy mình là Xuân Tước với lời chua thêm như sau:

Đây là bài hát phổ biến nhất Nam bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và đã được Hà Nội dùng liên tục hơn 10 năm, đặc biệt làm nhạc hiệu cho buổi phát thanh vào Nam, nhưng không hề nhắc đến tên tác giả. Tồi bại hơn nữa, khi chúng cướp được miền Nam thì không dám phát thanh vì sợ cái mà chúng đòi Sài Gòn phải có thì bây giờ chính người Sài Gòn lại đòi chúng phải có cho họ, tức là Tự do, cơm áo, hòa bình.

Câu chuyện “Sao chú không chờ?”

Trong một buổi trà dư tửu hậu ở Sydney, một anh bạn giáo chức đồng nghiệp thuật cho chúng tôi chuyện Sao chú không chờ? mà đã 30 năm qua rồi chúng tôi vẫn còn nhớ. Anh là người miền Bắc di cư, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, và được dạy tại một trường trung học ở Sài Gòn. Anh đang an cư lạc nghiệp thì xảy ra cơn Quốc Nạn 30-4-1975. Cả miền Nam hốt hoảng tìm cách vượt biên. Anh bạn người Bắc di cư của tôi may mắn có một mối tổ chức vượt biên đáng tin cậy. Đồng thời, anh gặp lại một người anh họ là một cán bộ cao cấp từ Hà Nội chuyển vào. Biết anh sẽ cùng gia đình vượt biên, người anh họ mới khuyên: “Sao chú không chờ một thời gian để xem chúng tôi làm việc ra sao đã. Nếu sau này mà thấy chúng tôi không làm được việc thì chú hãy đi.” Lẽ tất nhiên người bạn di cư của tôi vẫn tâm niệm câu nói trứ danh của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Việt Cộng nói mà hãy nhìn kỹ những gì Việt Cộng làm, cho nên anh không nghe lời khuyên của người anh họ.

Anh bạn nhà giáo vượt biên thành công. Sau một thời gian ổn định nơi đất khách quê người, thì bốn đứa con của anh đều tốt nghiệp đại học: ba đứa là bác sĩ y khoa và một là nha sĩ. Nhắc lại lời khuyên của người anh họ, anh bạn của tôi cười hóm hỉnh:“Anh ấy bảo mình hãy chờ xem, nếu thấy các ổng không làm được việc, thì đến chừng đó mình hãy đi! Anh nghĩ coi, có lạ không! Nếu các ổng không làm được việc, thì các ổng phải đi chứ! Tại sao tôi phải đi! Té ra các ổng nghĩ rằng các ổng sẽ cầm quyền mãi mãi. Thôi thì mình đi cho được việc!

Xin đừng chôn tôi gần Việt Cộng!

Người bạn giáo chức của chúng tôi dẫn cả gia đình đi vượt biên, theo cách nói thời thượng, họ không chấp nhận chế độ nên đã bỏ phiếu bằng chân. Và có một dạo, ai ai ở Việt Nam cũng nói “Nếu cột đèn đi được, thì chúng cũng đi rồi”. Sau ngày Quốc nạn 30-04-1975, Dân tộc đã nếm mùi bánh vẽ của Hồ Chí Minh, nên mới tiếc nhớ những ngày tháng năm đẹp của thế kỷ, quãng thời gian kể từ lúc Cựu hoàng Bảo Đại về nước chấp chánh, qua Đệ nhất Cộng hòa với tổng thống Ngô Đình Diệm, đến Đệ nhị Cộng hòa với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu! Thời vàng son đã qua như giấc mộng đẹp! Đến thời đen tối sống dưới ách Cộng sản khiến cho ai ai cũng muốn bỏ phiếu bằng chân. Riêng về điệp viên Phạm Xuân Ẩn, người đã đóng góp cho ngành tình báo Việt Cộng, qua đời năm 2002, ông không bỏ phiếu bằng chân, ông để lại lời trối: “Xin đừng chôn tôi gần Việt Cộng!

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)