Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 2

LỄ TẾ CỜ CỦA HỒ CHÍ MINH

...

Thà giết lầm hơn tha lầm

Những trường hợp sát nhân trong Lễ Tế cờ vừa kể xảy ra trên cả 3 miền Bắc Trung Nam và bao gồm đủ các loại nạn nhân: từ những bậc chân tu, đến những người yêu nước khác chính kiến, cho đến học sinh tuổi vị thành niên, Hồ Chí Minh không bỏ sót ai cả, vì thà giết lầm còn hơn tha lầm. Xin dẫn chứng một thí dụ: khi Cộng sản chở 115 tín đồ PGHH trên chiếc ghe cà dom vào rạch Cá Gừa xã Mỹ Ngãi tỉnh Sa Đéc (cũ), trên đường đến chỗ hành quyết, chúng hô lớn lên rằng “Giết lầm hơn tha lầm” để khủng bố và đe dọa những người dân sống ở ven sông (theo lời kể cụ Phan Thanh Nhãn, trong bài viết của tác giả Nguyễn Huỳnh Mai tường thuật bên trên). Đến bây giờ, vào đầu thiên niên kỷ thứ ba, sau hơn 50 năm, đọc lại Bản Tuyên ngôn Độc lập mà Hồ Chí Minh tuyên cáo cùng quốc dân ngày 2-9-1945 đồng thời phát động chiến dịch sát nhân hàng loạt như trong Lễ Tế cờ, chúng ta đã thấy Hồ Chí Minh nói một đàng mà làm một nẻo. Nào đâu quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, nào đâu mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng như trong bản Tuyên ngôn Độc lập đọc ở vườn hoa Ba Đình!?

Theo lời kể của cụ Nguyễn Trân, thì số nạn nhân bị sát hại trong đại họa Lễ Tế cờ của Hồ Chí Minh là 8000 người trong vòng 40 ngày. Theo giáo sư Stephen Morris thuộc Viện Nghiên cứu Đông Á (Institute of Asean Studies), trường Đại học U. C. Berkeley, thì chỉ trong vòng 6 tháng cuối năm 1945 và đầu năm 1946, Cộng sản Việt Nam đã tàn sát đến 10 ngàn người của phía Quốc gia và phe Đệ IV Quốc tế. Chi tiết nầy được trích từ quyển Việt Nam, cuộc chiến tranh Quốc gia-Cộng sản của Nhóm Nghiên cứu Lịch sử ở Santa Clara, California (trang 281). Nhưng nếu chúng ta làm bản tổng kết của các tác giả vừa tường thuật trên đây, thì số nạn nhân trong Lễ Tế cờ của Hồ Chí Minh không thể dưới con số 20.000 người được.

Cuộc Cách mạng Mùa thu 1945 ở Việt Nam, thật ra là Cơn bão thu, là bản sao của Cuộc Cách mạng Tháng mười ở Nga năm 1917, chứng tỏ Hồ Chí Minh đúng là “bàn tay vươn dài” của Lênin và Stalin giết Dân tộc. Hồ Chí Minh đã học phương cách giết người để khủng bố và loại trừ đối lập từ bậc thầy Lênin của ông. Lễ Tế cờ của Lênin ở Nga, theo tác giả Minh Võ khi nghiên cứu Hắc thư về chủ nghĩa Cộng sản, đã viết như sau:

“Tác giả Nicolas Werth, thực hiện phần 1 (của Hắc thư), cho biết chỉ trong 2 tháng năm 1918, số nạn nhân bị giết của tân chế độ Lênin là từ 10,000 đến 15,000. Con số này lấy từ báo cáo của Mật vụ Chika, sau khi tác giả ghi lại các huấn thị của chính Lênin về việc phải trừng phạt những kẻ bất phục tùng được gọi là những tên Gulaks. Dù vậy, số người bị giết ở mức ước lượng tối thiểu trong chỉ 2 tháng dưới chế độ Lênin đã nhiều gấp hơn 10 lần so với số nạn nhân của chế độ Nga hoàng trọn năm 1906 là năm đàn áp dữ dội nhất. Theo tác giả, trong vòng gần một thế kỷ dưới chế độ Nga hoàng kể từ 1825 đến 1917, tổng số người bị giết chỉ có 6,321 nạn nhân.”

Bản tóm tắt số nạn nhân bị sát hại của 3 chế độ:

Chế độ Nga Hoàng từ 1825 đến 1917: 6.321 nạn nhân

Chế độ Lênin 2 tháng năm 1918: 10.000 đến 15.000 nạn nhân

Chế độ Hồ Chí Minh, Lễ Tế cờ: 20.000 nạn nhân

Tâm đạo sáng trong cơn khói lửa

Trong khi Hồ Chí Minh phát động Lễ Tế cờ biến Đất nước thành “Killing field” khổng lồ khiến cho thây trôi đầy sông, xác chôn ngập hầm, thì ngược lại, Đất nước cũng có những bậc Thiện giả ra tay tế độ theo Tự tình Dân tộc “Dù xây chín bậc phù đồ - Không bằng làm phúc cứu cho một người”. Sinh linh khốn khổ, ai người cứu nguy. Đây, vị tâm đạo sáng của Dân tộc, người đã cứu mạng 200 người: Gs Hồ Sĩ Khuê.

Giáo sư Hồ Sĩ Khuê đã ủng hộ Tổng thống Ngô Đình Diệm và giúp củng cố Đệ nhất Cộng hòa trong thời kỳ đầu. Sau ông về giảng dạy môn Pháp văn ở Đại học Sư Phạm Sài Gòn. Ông là tác giả công trình nghiên cứu có tựa khá dài Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt trận Giải phóng. Ông di tản sang Pháp, để công 5 năm mới viết xong tác phẩm đó (1987-1992), và sách được nhà xb Văn Nghệ ấn hành ở Hoa Kỳ.

Nhắc lại thời điểm sau “Cách mạng Mùa thu 1945”, sinh viên luật khoa Hồ Sĩ Khuê của Đại học Hà Nội trở về ngôi làng của ông ở tỉnh Quảng Trị thì liền được dân làng bầu làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã. Nhưng chỉ được 8 tuần lễ, thiện chí về dân chủ được mang vào trong mọi công tác của xã, ông đang say mê với nhiệm vụ thì được mời lên giữ chức Thẩm phán tỉnh Quảng Trị để xử lý (trang 139 sđd) “khoảng 200 người đang bị giam trong nhà lao của tỉnh. Họ là những quan chức cũ, Bảo hộ có, Nam triều có. Ai trước kia đã làm quan ở tỉnh Quảng Trị, ai ở đâu cũng bị tỉnh tróc nã về giam. Đã hai tháng rồi mà chưa biết xử lý thế nào”.

Chủ tịch tỉnh là “Bác Tú Hiếu”, bạn của thân phụ ông, là một nhà Nho theo Cộng sản vì yêu nước, chống Pháp mong giải phóng Đất nước. Ủy viên Tư pháp tỉnh là một cán bộ già, nhà Nho biết đọc quốc ngữ. Vị Chủ tịch và Ủy viên Tư pháp cùng đều là nhà Nho mang nặng trong lòng Đạo làm người phải cho có nghĩa có nhân. Cả hai không thông hiểu đường lối “Kách mệnh của Hồ Chí Minh”, không mảy may hận thù giai cấp, nên giao hết việc phán xử cho sinh viên luật khoa Hồ Sĩ Khuê. Ông Thẩm phán trẻ Hồ Sĩ Khuê, trong lòng dự định tha hết 200 người bị giam cầm đó, nhưng về hình thức cũng mất 2 tháng để lập hồ sơ, để cho thấy không có tội danh, rồi mới lần lượt trả tự do từng người cho đến hết. Tâm đạo sáng Hồ Sĩ Khuê được ông tự giải bày như sau (trang 141): “Bác Tú Hiếu không biết là tất cả đều có tội “giai cấp”, xử lý như tôi là phản cách mạng. Nhưng tôi thì tôi biết. Nên phải lánh đi. Ngày Tổng khởi nghĩa 19-12-1946, một buổi phát thanh tuyên truyền đã lên án xử tử phản động tên tôi”.

Việc ra tay cứu vớt 200 quan chức trí thức của tỉnh Quảng Trị gây ra hậu quả Hồ Sĩ Khuê bị kết án tử hình vì tội phản cách mạng. Ông đã biết trước như vậy, nhưng vẫn cứ cứu người, rồi sau đó ông bỏ ra Vinh, ra Đông Hà mở quán phở, rồi ra Hà Nội, và sau cùng về Huế mà không dám ghé thăm lại Đông Hà và làng quê của mình. Ngày 19-12-1946, khi nhóm Kháng chiến ở Huế “quy sơn” theo lịnh Tiêu thổ Kháng chiến của Hồ Chí Minh, Hồ Sĩ Khuê nằm trên gác trọ một ngôi nhà ở Huế, lòng mang cùng một tâm trạng bùi ngùi như người đảng viên Đại Việt Bùi Diễm. Họ là những người yêu nước nhưng không thể tham gia Kháng chiến được bởi lẽ Cách mạng sẽ không tha họ. Giả sử Hồ Sĩ Khuê bỏ Huế đi theo Kháng chiến vào lúc đó, thì hẳn nhiên sau này các sinh viên Đại học Sư Phạm Sài Gòn đâu còn có được vị thầy Hồ Sĩ Khuê giáo sư Pháp văn đức độ, đầy lòng nhân ái để kính trọng và noi gương.

Hồ Sĩ Khuê cũng cho biết ông là bạn học của Tố Hữu và hai người đã từng dạo chơi khắp chốn ở Đế đô. Nhân khi cứu xét hồ sơ 200 tù nhân đó, ông đã phát giác tên người tử tội đầu tiên ở tỉnh Quảng Trị. Thì ra đó là Nguyễn Hữu Chước, con vị thầy lớp dự bị của ông, và cũng là người bạn chung của hai người. Ngay ngày cướp chánh quyền tỉnh Quảng Trị, Tố Hữu đã ra lịnh xử tử người bạn chung Nguyễn Hữu Chước đó chỉ với mục đích: khủng bố để trấn áp.

Có một nhà viết sử đã nhận xét rằng Hồ Chí Minh không cứu ai cả. Thật đúng vậy, hai người đáng được cứu là cô Nông Thị Xuân và bà Nguyễn Thị Năm Cát Hanh Long. Cô Xuân là người thiếu nữ Hồ Chí Minh đã từng ân ái và đã sanh cho ông một đứa con. Bà Năm là ân nhân đã từng nuôi nấng trợ cấp cho rất nhiều đảng viên, đóng góp 100 lượng trong Tuần lễ vàng, có 2 người con tham gia kháng chiến, và được khen tặng là mẹ chiến sĩ. Ấy thế mà Hồ Chí Minh không cứu! Cô Xuân bị đập đầu chết và bị vất xác ra đường cho xe cán. Bà Năm là người đầu tiên bị đấu tố trong chiến dịch CCRĐ và bị xử bắn với tội danh là địa chủ ác bá. Đối nghịch với tâm địa hiếu sát kinh tởm của Hồ Chí Minh, độ lượng từ bi của Giáo sư Hồ Sĩ Khuê đã cứu 200 nhân mạng trong cơn khói lửa thật sáng ngời và đáng được Dân tộc ghi nhớ để ngưỡng mộ và noi gương.

Ở miền Nam, vào thời Nam Bộ Kháng chiến, cũng có một Tâm đạo sáng xứng đáng được ghi vào “Trang sử hiền” của Dân tộc: đó là Lê Văn Viễn, thường được gọi là Bảy Viễn, người thủ lãnh Bình Xuyên. Bảy Viễn ủng hộ Việt Minh, được Trần Văn Giàu cử làm Tư lệnh Mặt trận Sài Gòn, một chức vị không nhỏ trong những ngày đầu của cuộc Kháng chiến. Chuyện kể, do tác giả Ts Nguyễn Văn Trần ghi lại trong bài Bình Xuyên - Bảy Viễn (đăng trong Báo xuân Việt luận năm Bính Tý 1996, xuất bản tại Sydney, tr.181): “Trần Văn Giàu trao cho Bảy Viễn một danh sách hàng 200 người có bằng cấp Tây và bảo phải thủ tiêu”. Bảy Viễn đã xé bỏ danh sách đó và không thi hành. Tác giả Nguyễn Văn Trần ghi lại câu chuyện bằng lời phát biểu của Bảy Viễn theo cách ăn nói mộc mạc của người bình dân Nam Kỳ như sau: “Có bằng cấp, tội gì giết tụi nó. Chờ độc lập, bắt tụi nó ra làm việc chớ!”

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)