Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 1

CUỘC CHIẾN TRANH CỦA HỒ CHÍ MINH ĐÁNH DÂN TỘC

...

Phương thuốc chữa trị vi trùng Hồ Chí Minh

Đầu năm 2002, vào khoảng tháng 2, từ tài liệu What is demo-cracy? hạ tải từ trang Thông tin Điện tử của sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn đã phiên dịch sang Việt ngữ Thế nào là Dân chủ? Xin nhắc lại để nhớ, trước đó năm mươi bảy năm, vào Mùa thu “Kách mệnh” 1945, Hồ Chí Minh đã lếu láo chôm chỉa ý trong bài Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ - cũng của Hoa Kỳ - để viết bài Tuyên ngôn Độc lập cho Việt Nam làm mồi nhử Dân tộc đi theo ông. Rồi ông dẫn Dân tộc đi lạc đường sang Nga và Tàu, đúng ra ông đã bắt Dân tộc đi theo “Con đường Bác đi tức là đi theo Cuộc Cách mạng đã bị phản bội”. Nói hoài, nói mãi, chán lắm! Giá mà Hồ Chí Minh “ái quốc” dẫn dắt Dân tộc đi đúng con đường Tự do Dân chủ hồi năm 1945, thì đến 2002, hà tất Bác sĩ Phạm Hồng Sơn phải mất công làm công việc dư thừa đi lo chuyện Thế nào là Dân chủ. Làm chi cho mệt! Lại còn bị kết tội là gián điệp để bị 4 năm tù và 3 năm quản chế!

Thôi! Nói hoài, nói mãi, chán lắm! Bác sĩ Phạm Hồng Sơn đã tìm ra thuốc để trị vi trùng Hồ Chí Minh rồi. Bài thuốc đó là “Thế nào là Dân chủ”. Hãy để cho Dân tộc xử dụng. Nếu Đảng chưa muốn dùng thuốc để trị liệu là chỉ vì Đảng vẫn còn muốn tiếp tục và kéo dài mãi Cuộc Chiến tranh của Hồ Chí Minh đánh Dân tộc! Đánh đến chừng nào mới thôi! Đánh hoài, đánh mãi, chán lắm!

Viết tại Sydney, Úc Đại Lợi
Mùa Bịt miệng 2007
Nhóm Tâm Việt Sydney

CHƯƠNG 2

LỄ TẾ CỜ CỦA HỒ CHÍ MINH

Lễ Tế cờ của Hoàng Sào

Trong các truyện Tàu, có một câu chuyện thật lý thú về Lễ Tế cờ như sau. Về cuối đời nhà Đường có một nhân vật giỏi võ nghệ tên là Hoàng Sào muốn dấy binh để dựng nghiệp lớn. Khi nhận được bảo kiếm của Thiên Đình trên trời do một vì tiên mang xuống, Hoàng Sào mới định ngày làm lễ khai đao và tế cờ. Lúc đó Hoàng Sào tá túc trong một ngôi chùa cho nên mới hứa với vị lão tăng trụ trì là không giết ai trong chùa cả và bảo các người trong chùa hãy lẩn tránh đi nơi khác. Đến ngày khai đao, Hoàng Sào đến một nơi vắng vẻ, rút bảo kiếm và chém vào một cây cổ thụ. Oái oăm thay, khi cây cổ thụ bị chém ngã thì Hoàng Sào chợt nhìn thấy vị lão tăng cũng bị chém theo cây! Thì ra, vì quá sợ nên vị lão tăng đã ẩn núp trong bọng của cây cổ thụ đó, và không cố tình và không nhẫn tâm mà Hoàng Sào đã chém chết người đã nuôi nấng bảo bộc mình. Hoàng Sào khóc mà than rằng: “Bản tâm tôi không định giết, tại sao lại trốn vào đây? Thật là số trời, không sao tránh khỏi.

Đó là chuyện Lễ Tế cờ trong truyện Tàu ngày xưa. Hoàng Sào chỉ chém vào cây cổ thụ, nhưng cũng phạm vào tội giết một nhân mạng. Còn chuyện Lễ Tế cờ của Hồ Chí Minh ngày nay thì sao, xin mời quý bạn đọc.

Lưỡi hái tử thần từ hang Pắc Bó do Hồ Chí Minh mang về

Mấy ngàn năm sau, vào mùa thu năm 1945 trên đất Việt, Hồ Chí Minh kéo đồng đảng từ hang Pắc Bó ở Cao Bằng về Hà Nội và đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập ở vườn hoa Ba Đình nguyên văn như sau: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời nói bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các Dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; Dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do...

Trước quốc dân đồng bào thì Hồ Chí Minh tuyên đọc như vậy, nhưng thật ra ông đã nhận lịnh từ KGB của Đệ tam Quốc tế, ngoài mặt mượn cớ đánh đuổi thực dân Pháp nhưng thực tâm chỉ để xây dựng đảng Cộng sản Việt Nam và phục vụ Đệ tam Quốc tế của Stalin. Vì ác độc và vô cùng khát máu, giống như các bậc thầy Lênin, Stalin và Mao Trạch Đông, nên Hồ Chí Minh đã chỉ đạo một cuộc Lễ Tế cờ khủng khiếp có một không hai trong lịch sử, sát hại không biết bao nhiêu người vô tội gây ra cảnh thây trôi đầy sông, xác chôn ngập hầm.

Trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam, Lễ Tế cờ của Hồ Chí Minh là tội ác diệt chủng vô tiền khoáng hậu trong lịch sử và là tội ác đầu tiên của Việt Cộng. Hồ Chí Minh, ngay từ Mùa thu lịch sử 1945, đã đạo diễn một cuộc mở màn đầy sắt máu rất cân xứng với Cuộc Chiến tranh đánh Dân tộc kéo dài 30 năm, gây năm, sáu triệu người chết, cả chục triệu người bị thương, và hơn một triệu người phải sống kiếp ly hương nơi xứ lạ quê người. Tiếp theo Lễ Tế cờ là biết bao nhiêu tội ác khác: Đấu tố trong Cải cách Ruộng đất gây hai, ba trăm ngàn người chết, vụ Nhân văn Giai phẩm, vụ án oan khuất Xét lại Chống đảng, vụ Đàn áp ở Quỳnh Lưu khiến 1000 nông dân bị giết và 6000 bị đày biệt xứ, vụ Tàn sát ở Huế hồi Tết Mậu Thân 4000 người bị đập đầu chôn sống, bắn vào dân chạy loạn gây tử thương mười mấy ngàn người trên Đại lộ Kinh hoàng trong Mùa hè Đỏ lửa, pháo kích vào trường học ở Cai Lậy, dùng đại liên bắn vào xe đò Sài Gòn-Lục Tỉnh để khủng bố mà thâu thuế...

Lá cờ máu của Hồ Chí Minh được tế bằng máu của biết bao nhiêu người dân vô tội như vậy, thực sự chỉ là lá cờ của đảng Cộng sản hung tàn khát máu, chớ không bao giờ xứng đáng là lá Quốc kỳ chính thức của Dân tộc Việt Nam, một Dân tộc có truyền thuyết Một mẹ trăm con vô cùng thân thương, một Dân tộc vượt cao trên bậc thang văn hóa của nhân loại vì đã ưu ái dùng từ Đồng bào để gọi những người dân trong cùng một nước. Nhưng than ôi! Chỉ trong những ngày tháng đầu tiên của cuộc khởi nghĩa chống Pháp mà Hồ Chí Minh đã giết không biết bao nhiêu người là đồng bào của mình như vậy, cho nên sau nầy có người gọi Hồ Chí Minh là người Nga gốc Việt, người “Công dân Búa liềm” (chữ của tác giả Việt Thường trong quyển Sự tích Con yêu râu xanh). Người “Công dân Búa liềm Hồ Chí Minh” nầy đã quên mất gốc Việt của mình rồi mà lại còn đánh mất cả nhân tính nữa. Thật đúng như vậy, bởi vì khi Hồ Chí Minh “đã đi hết biển” và trở về cố hương để “làm việc”, thì ông đã là Quốc tế ủy (Kominternchik), tức là một đảng viên ưu tú và trung kiên được đào luyện thấu đáo để cống hiến hoàn toàn cuộc đời mình phục vụ Quốc tế Cộng sản (Komintern).

Mỗi người Việt chúng ta, thấm nhuần tình tự Dân tộc từ ngàn xưa, đều mang trong tâm những ý niệm nhân từ bác ái cứu nhân độ thế như: Cứu nhất nhân, đắc vạn phúc, hay Dẫu xây chín đợt phù đồ - Không bằng làm phúc cứu cho một người, hoặc Bầu ơi, thương lấy bí cùng - Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn... Phát động một sát trường kết liễu mạng sống hàng vạn người dân vô tội trong tay không một tấc sắt để tự vệ, theo kiểu “Kách mệnh của Hồ Chí Minh”, chỉ là sách lược vô nhân thất đức của kẻ giết người cướp của mở đường cho chế độ độc tài đảng trị tham tàn khát máu, chớ nào phải thượng sách cứu quốc của những bậc chí sĩ làm cách mạng chân chính thực thi công bằng xã hội và mang lại tự do hạnh phúc cho toàn dân. Những nạn nhân về Lễ Tế cờ của Hồ Chí Minh nhiều vô số, nhưng chúng tôi chỉ xin nêu ra đây những trường hợp điển hình đệ trình trước tòa án lịch sử để sau nầy Dân tộc xét xử.

Sử dụng chiêu bài Việt gian, Cộng sản đã chém giết bừa bãi rất nhiều thường dân vô tội. Nhiều người đã bị chặt đầu, mổ bụng chỉ vì trong nhà có vài quyển sách giáo khoa bằng tiếng Pháp, hay quần áo có màu xanh, trắng, đỏ... Việt Minh Cộng sản còn chụp cái mũ Việt gian lên đầu những kẻ có tư thù, hay những người yêu nước không cùng một đường lối cứu quốc với họ.

 

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)