Lịch Sử Của Việt Nam

Kẻ Sĩ Đông Phương
Cù Huy Hà Vũ

cù huy hà vũ

Kẻ sĩ Đông phương Cù Huy Hà Vũ, tay bị bị còng, nhưng vẫn vững vàng khí phách trước cường quyền bạo lực (chú thích LSQSVN). Ảnh RFA

1, 2, 3, 4

Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

...

Tuy Mạnh Tử chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng của Khổng tử, nhưng ông trưởng thành trong thời Chiến quốc, đã chứng kiến biết bao cảnh tang thương của dân chúng, do đó, quan niệm dân trên hết, đất nước đứng thứ hai và nhà vua hàng sau cùng đã là những đóng góp tích cực vào một xã hội tương tàn giữa các lãnh chúa khác nhau thời Trung hoa cỗ.

Và ông cũng đề ra 3 nguyên tắc cho một người quân tử hay kẻ sĩ vào thời đó là:

1/ Uy vũ bất năng khuất nghĩa là không sợ hãi cường quyền bạo lực.

2/ Phú quý bất năng dâm nghĩa là giàu sang không đắm mùi si mê của thế gian.

3/ Bần cùng bất năng di nghĩa là thất bại không đầu hàng thời cuộc.

Người đời sau đã tôn ông là Á Thánh Mạnh Tử (tức là vị thánh đứng sau Khổng tử).

III/ Chữ Nhân:

Cả hai lý tưởng bồ tát và quân tử đều tập trung vào chữ Nhân. Tức là hướng một con người bình thường trở thành một bậc trí thức, trượng phu hay kẻ sĩ. Tức là người có học, có đạo đức cũng như biết cách làm người đúng nghĩa, để rồi từ đó có thể phục vụ nhân quần xã hội một cách tốt đẹp. Khi một trí thức hay kẻ sĩ đã được trang bị đầy đủ hai hành trang tinh thần nêu trên họ sẽ là những vị vua anh minh, tướng lãnh tài ba kiệt xuất, quan văn thanh liêm tận tụy với trách nhiệm v.v...

Cả hai dòng tư tưởng lớn của Đông phương là Trung Hoa và Việt Nam đều đặt nặng chữ Nhân. Tuy nhiên chữ Nhân của hai dòng tư tưởng này có rất nhiều sự khác biệt.

Chữ Nhân của người Tầu được trình bày đầu tiên trong Ngũ Thường của Khổng Tử. Vốn để đào tạo một chính nhân quân tử Trung Hoa. Ngũ Thường gồm Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Thầy Mạnh Tử định nghĩa người đại trượng phu quân tử như sau: Uy vũ bất năng khuất. Người quân tử không bao giờ bị khuất phục bởi sức mạnh, cường quyền; Phú quý bất năng dâm. Khi người quân tử được giàu sang thì không nên say mê danh vọng, địa vị, sắc đẹp, bài bạc, hút sách ở cuộc đời; Bần cùng bất năng di. Người quân tử cho dù gặp nhiều khó khăn trở ngại hay bần cùng trong lý tưởng hay trên cuộc đời cũng không nên nản chí mà bỏ đi lý tưởng mình đã và đang theo đuổi;

Tuy nhiên chữ Nhân nói trên còn bị khá nhiều giới hạn. Giới hạn của nó ở chổ chỉ nhằm tu chỉnh con người bên ngoài nhưng thiếu chú trọng về mặt tâm hồn. Nghĩa là tu dưỡng nội tâm để trở nên một con người có thể tự thắng mình. Con người tự thắng mình tức là con người đã vượt qua được những sự phiền não, tựu chung ở tham lam, giận dữ và mê muội. Hơn nữa chữ Nhân của người Tầu không mở rộng thành tình thương giống nòi đồng loại.

Chữ Nhân của người Việt là trường hợp khá đặc biệt. Dân tộc ta sống cạnh một nước láng giềng to lớn, hung hăng cũng như rất tham lam bành trướng lãnh thổ. Kể từ thời lập quốc cách đây trên 5000 năm đã liên tục đề kháng lại sự xâm lăng của người Tàu phương Bắc. Chữ Nhân này đã được tổ tiên chúng ta ngay từ thưở xa xưa đã được phổ biến cũng như hành trì như là khuôn mẫu gìn giữ độc lập cũng như sự tự do giống nòi. Với quan niệm :"Ta thà bỏ mạng sống một đời chứ không bỏ chí lớn, quên mình để yên ổn quần sanh, đó là lòng NHÂN bao trùm trời đất vậy".

Như phần I đã trình bày, cũng chính nhờ chữ Nhân này mà sau khi Hai Bà Trưng thất bại trong cuộc chiến chống quân Tàu xâm lăng vào năm 43 sau Tây lịch, tổ tiên ta đã có thể giữ vững nòi giống cũng như duy trì được văn hóa Lạc Việt, đồng thời tạo nên những sức bật thần kỳ đánh đuổi quân xâm lăng phương Bắc của các bậc anh hùng lớn 60 năm sau cuộc thất trận của Hai Bà ở cuộc khởi nghĩa Tượng Lâm; Lý Nam Đế (503 – 548) là một vị vua Việt Nam, người đã sáng lập nhà tiền Lý năm 544 và đặt quốc hiệu là Vạn Xuân sau khi đánh đuổi quân Tàu xâm lược.

Chiến thắng sông Bạch Đằng đánh bại quân Nam Hán của Ngô Vương Quyền năm 938 đã giải thoát hẳn dân tộc Việt Nam khỏi ách đô hộ của người Tầu phương Bắc; năm 981 hoàng đế Lê Đại Hành đã oanh liệt chiến thắng quân Nam Tống trên chiến tuyến sông Đồ Lỗ (Toàn Thư gọi là sông Chi Lăng, Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sỹ gọi là sông Bạch Đằng) với bài thơ thần Nam Quốc Sơn Hà mà người chấp bút là thiền sư Pháp Thuận;  đến cuộc phạt Tống của Tướng quân Lý Thường Kiệt năm 1075; rồi đến chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 1288 do vua Trần Nhân Tông lãnh đạo cùng với Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn; 10 năm kháng chiến chống quân Minh của Đức Vua Lê Thái Tổ cùng với Ức Trai Nguyễn Trải; Phá tan 20 vạn quân Thanh năm 1789 của Quang Trung Hoàng Đế và Trúc Lâm Đệ Tứ Tổ Ngô Thời Nhậm.

Nhờ ở vị thế địa lý khá đặc biệt nên nước ta mới có cơ hội thâu nhập được 2 nền văn minh lớn đó là nước Tầu phương Bắc và Ấn Độ phía Nam, cùng với với nền văn minh tộc Việt là Đông Sơn và Lạch Trường đã hình thành nên lòng Nhân bao trùm trời đất. Chính nhờ lòng Nhân này dân tộc Việt, văn hóa Việt mới còn hiện diện cho đến ngày hôm nay. Điều tinh yếu làm thế nào để dung hóa những nền tư tưởng nêu trên cũng như chan hòa với nền văn minh Đông-Sơn và Lạch-Trường nhằm phục vụ một cách thiết thực cho dân tộc? Câu trả lời đó là tư tưởng Tam giáo đồng nguyên tức là Phật giáo, Khổng giáo và Nho giáo. Khi đề cập đến ba hệ tư tưởng trên tức là đề cập đến cách sống và sự thích ứng được vào đời sống hằng ngày, hơn nữa làm thế nào có ích lợi cho bản thân cũng như cộng đồng xã hội. Lý tưởng Bồ tát (lòng Nhân của tộc Việt) cũng như lý tưởng quân tử (của thầy Mạnh Tử) đều nằm ở đây cả.

Ngày hôm nay, năm 2011, thiết nghĩ nền Tam giáo đồng nguyên nêu trên đã được điều chỉnh cũng như mở rộng trở thành một nền Đa giáo đồng nguyên. Do sự hội nhập cũng như phát triển của nhiều tôn giáo khác như Công giáo, Cao Đài, Hòa Hảo...Tinh thần của đa giáo đồng nguyên cần phát triễn hài hòa để một mặt có thể nâng cao tinh thần, sức sống tâm linh của mỗi tín đồ hay giáo dân, mặt khác có thể đóng góp hữu hiệu vào công cuộc làm hưng thạnh đất nước Việt Nam bằng nhiều hình thức. Trước mắt là công cuộc vận động cho Tự do, nhân quyền Việt Nam.

IV/ Kẻ sĩ Đông phương:

Trong ba chương nêu trên, chúng tôi đã trình bày một cách khái quát dòng tư tưởng Việt Nam hay Đông phương, cụ thể qua lý tưởng bồ tát và lý tưởng quân tử. Cũng như một vài khái niệm về Đa giáo đồng nguyên. Lẽ đương nhiên dòng tư tưởng đã tồn tại hàng ngàn năm của dân tộc Việt không thể nào chỉ một vài trang đánh máy có thể lột tả hết sự thâm thúy. Chúng tôi mong rằng, trong một dịp thuận tiện sẽ trở lại đề tài này một cách chi tiết hơn.

Trong lịch sử cổ đại, trung đại, cận đại của nước nhà, số lượng những kẻ sĩ Đông phương đúng nghĩa, thật không thể nào liệt kê hết cho được.

Và gần đây trong thời hiện đại, chúng tôi cũng thường mong mỏi rằng sẽ xuất hiện những kẻ sĩ Đông phương với lý tưởng bồ tát và quân tử để có thể cứu nước, giúp dân trong tình hình dầu sôi lửa bỏng hiện tại.

Chúng tôi không quen biết gì với Tsls Cù Huy Hà Vũ. Xuất xứ đã khác, môi trường làm việc cũng khác, học thuật cũng không giống nhau. Tuy nhiên có một niềm tâm sự chung có thể chia xẻ là muốn có một đất nước Việt Nam tốt đẹp hơn. Xin nói vắn tắt là thế.

Từ điểm đó, theo những thông tin, hoạt động của ông trên nhiều lãnh vực, đặc biệt từ lúc ông chính thức chấp nhận bào chữa cho giáo xứ Cồn Dầu. Rồi đến vụ xử án ngày 04/04/2011 chúng tôi nhận thấy Tsls Cù Huy Hà Vũ chính là một Kẻ Sĩ Đông Phương đúng nghĩa như đã trình bày bên trên.

1, 2, 3, 4

 

Quân Sử Việt Nam (Top)