Lịch Sử Của Việt Nam

Quân sự Việt Nam, Biệt Động Quân

anh hùng bạt mạng

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70

TRẦN THY VÂN
TÁI BẢN LẦN THỨ TƯ 2010

Thương tặng
hiền thê HN Lê Hoa
đã giúp anh hoàn thành Anh Hùng Bạt Mạng
ttv                                                           

...

Tôi nhìn lui thấy vi. Đại đội phó co rút, hai tay ôm bắp đùi trái lăn lộn, máu me ướt đẫm cả thân người, nhuộm đỏ luôn một bên hông ngôi mộ trắng. Tôi kêu y tá đến. Và vì quá đau đớn Hòa la inh ỏi, tôi ôm cứng Hòa:

- Mày im đi! Địch đang ở gần, nó nhào vô thấy mẹ!

Xong, tôi bảo lính khiêng gấp Hòa về phía sau cho an toàn, chờ máy bay vô tải về. Vừa cáng đi, Hòa ngoái cổ lại gọi tôi lần nữa, cũng là tiếng nói cuối cùng trong đời đôi bạn:

- Vân ơi, cứu tao, Vân ơi!...

Nghe Hòa kêu tôi muốn bật khóc. Giá như không kẹt trong thế cận chiến này, hẳn tôi đã cho lệnh rút lui.

Rồi Đại đội tràn lên được mục tiêu trong khói lửa hận thù. Nhìn chiếc T54 cháy đen, với mươi cây súng, và xác giặc bầy nhầy nằm rải rác trên mặt nổng, tôi nghĩ không đáng phải đổi cái giá quá đắt, bằng xương máu số bạn bè vừa gục ngã. Nơi đây, nơi nhấp nhô những đụn cát khô cằn, đầy rẫy xương rồng xen lẫn những lùm cây duối hoang dại, người đời sau hẳn chả ai buồn lui tới làm gì. 

BCH Tiểu đoàn cho lệnh chuyển qua nhà thờ Nhất Đông ở phía bắc ba trăm thước, tôi chưa kịp thi hành, Chuẩn úy Hạnh Trung đội 3 gọi cho hay:

- Trình Đại Bàng, Trung úy Đại đội phó đã chết...

Nhận tin buồn, tôi vội bảo Đại đội rút hết ra phía biển, bố trí dọc theo chân nổng. Hòa chết thật. Y tá nói viên đạn Trung liên Đông Đức luồn từ háng lên bọng đái. Tôi vuốt mắt Hòa, khuôn mặt người bạn hiền thản nhiên, không chút hận thù, chỉ những kẻ còn sống mới đủ lý lẽ tiếp tục cuộc chiến đấu. Tôi chưa bao giờ chảy nước mắt như hôm ấy, khi nhìn Hòa được gói poncho, nằm im lìm trên bờ biển, cạnh những ngọn sóng bạc đầu cuồn cuộn, âm ba gào thét dấy động cả lòng tôi.

Người lính cận vê. Huỳnh văn Trung đến nói:

- Cái nhẫn cưới và đôi kiếng mát Rayban, cặp lon nữa, em đang giữ đây. Trước khi chết Trung úy bảo tháo đưa Đại Bàng để về trao lại cho vợ Trung úy...

Cầm cặp lon bằng đồng của Hòa chỉ có hai bông mai, còn một cặp nữa mới đủ bộ, bỗng nhiên tôi nhớ rất rõ cái nguyên nhân tại sao nó thiếu. Ba tháng trước, Tiểu đoàn 21 hành quân ở tây nam La Vang, những ngày thành phố Quảng Trị sắp thất thủ, tôi cùng Hòa vừa tròn hai năm, tự động mang lon trung úy (Chiến công nhiều mà vẫn tự động, vì cái khốn nạn của cựu Đại đội trưởng 2/21 Hồ Dơn và Hiệp lùn Tiểu đoàn trưởng).

Nhân dịp tôi được Trung tá Liên đoàn trưởng trực tiếp bổ nhậm làm Đại đội trưởng chính thức Đại đội 1 BĐQ này ngay tại mặt trận, Thưởng điện về hậu cứ ở Đà Nẵng bảo mua bốn cặp lon trung úy, tức hai bộ, để gắn cho tôi và Hòa. Hôm đó, trời chiều đã nhá nhem, Thưởng gọi hai đứa tôi lên BCH Tiểu đoàn 21, đang dừng quân trong một con xóm nhỏ gần nhà thờ La Vang. Giờ phút ấy, có sự hiện diện của Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn văn Do với ba vị trung úy là Trần Thương Quãng, Trần văn Quy và Hà Tự Tánh người chỉ huy thất trận bàn giao Đại đội 1 bệ rạc này qua tôi. Quách Thưởng gắn lon tôi trước, ông cầm lon bia tưới lên ướt hết hai bên cổ áo, nước bia tuôn ra kêu ộc ộc, chảy dài xuống bụng rồi tới tuốt dưới háng tôi:

- Tao rửa lon cho mày. Chúc mừng! Chúc mừng!...

Từ hồi nào giờ, đã hai lần cứ đủ năm đủ tháng tự động lên cấp, chứ chưa có vinh hạnh được ai đề nghị thăng với thưởng, mà biết cách rửa lon, nên tôi chửi thầm trong bụng:

- Đm, rửa kiểu gì như tắm bia, thằng nhỏ cũng rít rịt luôn, làm sao ngủ?

Đến lượt Hòa, lạ quá, lại thiếu hai bông mai, tức một cặp, không đủ bộ để Hòa đeo hai bên cổ áo. Những người chứng kiến lấy làm sửng sốt, biết đó là điềm gở. Trời tối thui rồi, tìm đâu ra hai bông mai giữa trận địa! Quả thật, đời thằng lính gì cũng thiếu, thiếu cơm ăn áo mặc cũng đành, còn thiếu cả tình lẫn nghĩa, chỉ có súng đạn đi kèm với sự phân chia, hèn nhát, đê tiện, thì dư thừa, tràn lan khắp quê hương đất nước. Lẽ nào nhỉ? Lẽ nào họ bè phái, liên kết có hệ thống ăn chận dữ vậy?

Rốt cuộc tân Trung úy Phạm Minh Hòa mặt tiu nghỉu buồn xo với cặp mai vàng chỉ gắn được một bên trên nắp túi áo cho đến ngày chết một cách đau thương nơi bãi biển Hương Điền.  

Hòa sinh trưởng ở Cần Thơ, hiền hậu, can đảm, chiến công nhiều, được anh em quý mến. Thế mà Hòa bị Trung úy Hà Tự Tánh, lúc làm Đại đội trưởng Đại đội 1 này, trù dập mãi, khi thua trận mất chức mới thôi. Dưới quyền tôi, Hòa sống thoải mái, bộc phát khả năng chỉ huy xuất sắc.

Tôi với Hòa thân nhau từ lúc còn tò te, mang lon chuẩn úy, mặt búng ra sữa. Đám bạn bè chí thiết sau vài năm chẳng còn bao nhiêu. Vừa tốt nghiệp sĩ quan Thủ Đức, mặc bộ hoa rừng đầu đời Biệt Động chưa kịp giặt nước nào, còn nghe mùi vải, đã có đứa chết ngay ở chiến trường Phong Thử, Quảng Nam, thằng thì bỏ xác tại Hạ Lào, Cồn Thiên, Mai Lĩnh. Giặc giã gì mà ghê quá, như cần người chết hơn là sống để chiến đấu lâu dài, nên có kẻ chết ba lần bảy lượt mới ra người thiên cổ.

Ngày đó, đột nhiên Cẩm vợ của Hòa vào Văn Thánh Huế, nơi đơn vị dừng quân tái huấn luyện, ngồi khóc mãi. Cả mấy đêm, tôi phải qua bên căn lều của Trung, nhường cái giường bố cho nàng nằm. Khi có lệnh, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân chuẩn bị cùng các binh chủng ra tái chiếm Quảng Trị đợt hai, tôi đưa Cẩm và cậu em nàng đến bến Taxi, kế chơ. Đông Ba, để trở về Cần Thợ Trước khi lên xe Cẩm trao tôi đôi kính mát Rayban Hòa đeo lúc sinh thời.

Nàng bảo:

- Anh hãy giữ nó kỷ niệm...

Tôi không thể từ chối, tôi nhận với tấm lòng chân thật chia sẻ cùng nàng những nỗi đớn đau của cuộc đời. Và lâu lắm rồi, từ sau buổi chia tay, tôi chưa một lần hân hạnh gặp lại người sương phụ ấy. Còn Hòa - Cố Đại úy Phạm Minh Hòa- dĩ nhiên không cần tôi phải nói đến lần thứ hai: "Mày im đi! Địch đang ở gần...", cũng đã ngàn năm im lặng rồi!...

(Kỳ 7)    
SA HUỲNH BIỂN LỬA

Người ta nói Gio Linh Bến Hải là hỏa đầu chiến tuyến. Sự ví von ấy đúng với tiềm thức người dân Việt từ khi đất nước chia đôi bởi một con sông ngăn cách, ghi dấu sự thù hận giữa hai bờ Nam Bắc dưới hai chế độ khác nhau. Nhưng trên thực tế rất đau thương và ác nghiệt. Vì muốn thôn tính miền Nam, không phải nhằm mục đích tái thống hợp, trả lại những gì hồn thiêng sông núi đã thiếu mất, mà chỉ để áp đặt sự độc tài toàn trị, sắt máu để cướp bóc, nên bất cứ nơi nào đánh phá mà gây hoang mang, áp đảo được tinh thần dân chúng và làm xáo trộn nền kinh tế, chính trị Việt Nam Cộng Hòa, thì giặc Cộng Bắc Việt không bao giờ từ nan.

Sa Huỳnh tuy nhỏ bé, dân thưa và nghèo khó, chỉ có Quốc lộ 1, con đường độc nhất xuyên qua, nhưng phần đất lại được mô tả như cái cuống họng, nếu bị bóp nghẹt, năm tỉnh địa đầu phải ngất ngư, thân mình vùng II cũng bủn rủn.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70Quân Sử Việt Nam (Top)