Lịch Sử Của Việt Nam

Quân sự Việt Nam, Biệt Động Quân

anh hùng bạt mạng

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70

TRẦN THY VÂN
TÁI BẢN LẦN THỨ TƯ 2010

Thương tặng
hiền thê HN Lê Hoa
đã giúp anh hoàn thành Anh Hùng Bạt Mạng
ttv                                                           

...

Tôi càu nhàu:

- Một mình Đại đội tôi sao Thiếu tá bảo tôi dẫn đầu? Đầu thì phải có đuôi, đơn vị nào nữa, chứ?

Đại úy Nguyễn văn Do Tiểu đoàn phó ngồi cạnh Thưởng, vừa trừng mắt vừa búa một câu:

- Vân giỏi, nhưng tật hay cãi. Đúng là dân Quảng Nam...

Đã biết bốn năm đơn vị luân phiên vẫn không chiếm nổi mục tiêu khó gặm đó, nay trút gian nguy cho tôi, nên Thưởng chơi chữ, ý chừng làm giảm bớt căng thẳng để ra lệnh. Đại úy Do khóa 19 Đà Lạt, tức khóa đàn anh Thưởng, nắm quyền lực đen sau lưng. Đó là cái "đen" hắc ám, một bè do trường "Mẹ" đẻ ra trong quân đội. Tính Do hiền. Tuy nhiên, khi ghét ai rồi thì ông đì người đó sát nút. Hiểu thâm ý của quân sư này, tôi ăn miếng trả miếng, chẳng ngán thằng Tây nào:

- Hỏi vậy mà bảo cãi, hả Đại úy? Cái gì vô lý tôi hỏi, chứ không hèn nhát bỏ chạy đâu.

Câu nói khiến Nguyễn văn Do bị shock. Ông đã sẵn thành kiến tôi từ lúc tôi thay Trung úy Hà Tự Tánh, bạn đồng hương với ông, mất chức đại đội trưởng vì chỉ huy Đại đội 1 này thất trận ở tây nam La Vang Quảng Trị, tháng 3/1972. Lại nữa, tôi người đầu tiên không theo cấp số quy định, phá tiền lê. Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân, là còn mang lon thiếu úy lại được Trung tá Liên đoàn trưởng Liên đoàn I BĐQ trực tiếp bổ nhậm làm đại đội trưởng chính thức, thay thế Tánh. Chẳng hiểu điều này tôi có nghĩ oan cho Do, người tôi cũng quý mến? Nếu vì lẽ đó mà ông ghét tôi thì ông quên rằng một thiếu úy trẻ như tôi lúc bấy giờ đã đạt quá nhiều công trạng, tất cả 14 cái huy chương lận! Thảy đều anh dũng bội tinh, đa số ngôi sao vàng và ba nhành dương liễu là hạng tuyên dương cấp quân đội, tôi chưa kể cái Chiến Thương với ngôi sao đỏ, chứng minh tôi đã một lần đổ máu lòi xương tại trận Phong Thử, Quảng Nam.

Dù xuất thân Đà Lạt hay Thủ Đức, người sĩ quan nào cũng đều ý thức trách nhiệm, danh dự, và trung thành với Tổ Quốc. Khi chiến đấu phải dũng cảm, là điều căn bản. Đừng bày đặt tự tôn, xưng hùng, phân chia con ruột với con ghẻ, trường mẹ, trường cha trong quân đội một cách ngu xuẩn, như đã diễn ra từ lâu. Tôi chỉ cái tội ngang tàng khí phách, đếch xu nịnh, còn nực gà ba thứ hèn nhát từng tháo chạy.

Một lần trước mặt Do đang họp bốn đại đội trưởng, bàn kế hoạch hành quân ở Quảng Ngãi, tôi rút súng chĩa vào đầu đòi bắn một sĩ quan, xuất thân trường "Mẹ", vì phát ngôn bừa bãi nếu gặp địch mạnh thì "cải cách Lê Lai" tức "chạy làng".

Do quát tôi:

- Người ta nói giỡn, mày làm dữ vậy?

Tôi văng tục:

- Mẹ, giỡn hả? Tư tưởng đẻ ra hành động!

Lần khác, sau cả tháng lặn lội trên núi cao, Tiểu đoàn vừa hạ sơn xuống đồng bằng, lính tôi quá khát nước, gặp một vũng sình, vội chúi đầu vào uống. Đại úy Do đứng gần hét:

- Vân! Cho lính đi lẹ đi!

Thấy anh em tội nghiệp, khô cứng cuống họng mấy ngày nay, bây giờ chỉ kéo quân ra lên xe về, nên tôi làm lơ. Nhưng Do hối, lối hối chứng tỏ ông không thương xót lính tráng chút nào, tôi nổi dóa:

- Để tụi nó uống, không đi đâu hết!

- Mày cãi tao, phải không?

- Cãi đúng, lính của tôi!

Biết đụng tôi bất lợi, ông hằm hằm bỏ đi. Sau, tôi ân hận, làm mất tình đồng đội. Hôm đó, nếu vi. Đại úy Tiểu đoàn phó không nhịn nhục, chắc có chuyện lớn, tôi rút súng còn lẹ hơn cao bồi miền Tây Hoa Kỳ.

Họp nhận lệnh Thưởng xong, tôi về đặt kế hoạch tiến đánh Jackson. Suốt buổi chiều tôi không hé môi, sợ lính chuồn, chỉ nói riêng Đại đội phó Nguyễn Thuận Cát kín đáo chuẩn bị. Vì còn bực tức, tôi kể cho Cát nghe sự lập lờ, chơi chữ, chèn ép của hai ông quan trường "Mẹ", Quách Thưởng và Nguyễn văn Do. Tôi không một chút gì sợ sệt, ngao ngán, khi nghĩ đến cái mục tiêu cao ngút trời và xa vời vợi, đầy ma quái ấy đang chờ đón. Tôi chỉ ngại, gian khổ đã đành, lính còn phải hy sinh, kẻ sẽ bỏ xác đầu non, người vùi thây góc suối.

Sáng sớm hôm sau, Đại đội đi một mạch, vừa qua khỏi eo núi của dãy đồi đầu tiên ở Cổ Bi thì gặp một con đường cũ đã trầy trụa, trơ đá lởm chởm, do quân đội Mỹ thiết lập trước đây cho xe nhà binh lên xuống Jackson. Tôi ra lệnh tất cả dừng lại bố trí để nấu cơm, tích trữ nước. Tuy còn xa, gần chục cây số, mục tiêu vẫn được nhìn thấy lờ mờ trên mây. Lúc bấy giờ tôi mới nói toạc việc anh em phải làm, không giữ bí mật nữa, kể hết mọi cam go, mà các đơn vị trước len lỏi vào đã chuốc lấy thảm bại...

Xong, tôi bảo Thám Báo đi đầu. Gọi là Thám Báo chứ thật ra toán này gồm 11 tay súng khá thiện chiến, can trường, được dùng như cảm tử quân, do tôi tổ chức, huấn luyện từ ngày làm Đại đội trưởng. Rồi, các trung đội nối tiếp một hàng dọc, âm thầm gườm súng theo "vân lộ" mà lên "thiên thai". Trục tiến heo hút, trùng điệp và quanh co hơn cả đường đèo Ải Vân hay Sông Pha-Đà Lạt. Địa thế nguy hiểm thật, chỗ nào cũng dễ bị phục kích. Đại đội tự biết thân là con chốt thí, cô đơn, nên khỉ rung cây cũng sợ. Mọi người đều dè dặt từng bước, như những bóng ma lạnh lùng.

Lên được ba cây số thì Thám Báo lọt vào giữa hai cụm núi dốc đứng, địch liền từ trên hai đỉnh bắn AK, B40 xuống, Biệt Động Quân chết một, bị thương hai tại chỗ. Số còn lại kéo lui cùng Đại đội bố trí dọc theo các tảng đá ven đồi. Tôi xin pháo binh dập trực tiếp ngay bằng đạn nổ, không phải khói trước. Nhưng họ từ chối, vì điểm đứng Đại đội lại quá gần mục tiêu, dưới 200 thước, trong tầm sát hại. Thiếu tá Thưởng cự nự lắm họ mới chịu yểm trợ. Dù gieo từng trái, tôi điều chỉnh, đạn rớt cách toán Thám Báo không xa. Lối kêu đại bác sái nguyên tắc đó do tôi yêu cầu, cũng để tạo thói quen liều lĩnh mỗi lần đơn vị rơi vào trường hợp này.

 

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70Quân Sử Việt Nam (Top)