vietnam, việt nam, cờ việt nam

Hồ-Sơ Chủ-Quyền  

Chứng Minh Lịch-Sử Ải Nam Quan Là Của Việt-Nam

Trịnh-Quốc-Thiên

Nguồn: Vietnhim

Một câu hỏi lớn trong lịch sử Việt Nam đã được mọi người trong thời gian gần đây đặt ra là "Ải Nam Quan có thật sự là của Việt Nam hay của Tàu ?". Câu nói "nước Việt Nam ta kéo dài từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau" là câu nói đúng lịch sử hay là câu nói nhận vơ bậy cái Ải Quan của nước khác (Trung Hoa) rồi tự nhận xằng là của Việt Nam ta ?

Sau đây là đoạn sử quan trọng trong Việt Sử Toàn Thư (và 1 số sách khác có nói đến đoạn này) để chứng minh ẢI NAM QUAN đã từng thuộc Tổ Tiên của chúng ta. Tác giả xin trích nguyên văn : Vào ngày 21 tháng Chạp năm Giáp Thân (1284), quân Mông Cổ huy động 50 vạn binh sĩ cùng với các danh tướng như : Tả Thừa Lý Hằng, Bình Chương A Thích, Bình Chương A Lý Hải Nha để sang xâm chiếm nước ta. Tổng chỉ huy là thái tử Thoát Hoan. Phụ tá cho Thoát Hoan là Thượng tướng Ô Mã Nhi và Toa Đô.

Quân bản bộ của Thoát Hoan đến Cửa Nam Quan thì ngừng lại. Thoát Hoan phái Bá Tổng A Lý mang thư qua nói : "Bản súy chỉ nhờ đường Nam Quốc qua đánh Chiêm Thành, chứ không có bụng gì đâu mà ngại. Nên mở cửa cho bản súy đi và đến đâu chỉ nhờ giúp ít nhiều lương thảo, khi phá xong Chiêm Thành sẽ có trọng tạ. Nhược bằng kháng cự thiên binh, bản súy sẽ không dong tình, bờ cõi sẽ tan hoang, lúc đó có hối cũng đã muộn". (trích nguyên văn, Việt Sử Toàn Thư, tác giả Phạm Văn Sơn, trang 183. Có thể kiểm chứng trang 183 ở ấn bản điện tử : www.vnet.org (http://www.vnet.org/))

Qua đoạn sử trên của bộ Việt Sử Toàn Thư chúng ta thấy rất rõ là Việt Nam tổ tiên chúng ta đã từng làm chủ Ải Nam Quan. Quân Tàu muốn qua cửa thì phải viết thư xin phép tổ tiên chúng ta để mở cửa cho đi qua. Qua đoạn sử này, tác giả thấy rõ ràng câu "nước Việt Nam ta kéo dài từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau" là câu nói hoàn toàn đúng đắn về mặt lịch sử. Tức là cho tới năm 1284, dân Việt Nam ta đã làm chủ Ải Nam Quan. Đến thời Lê Lợi thì tướng giữ ải Pha Lũy (chính là Ải Nam Quan) là Trần Lựu. Nếu ải không là của Việt Nam thì cần gì phải cử 1 tướng quân để giữ cái ải này.

Thêm nữa, đại Văn Hào Nguyễn Du (vào ngày 06-04 Quí Dậu-tức 06-05-1813, và khi đi sứ về ngày 29-03 Giáp Tuất-tức là ngày 18-05-1814), khi đi sứ qua Ải Nam Quan đã cảm tác bài thơ Trấn Nam Quan trong Bắc Hành Tạp Lục. Bắc Hành Tạp Lục gồm 110 đề mục, và vì có nhiều đề mục thi sĩ Nguyễn Du sáng tác hai bài thơ, nên có tất cả 120 bài thơ chữ Nho, trong đó có hai bài Nguyễn Du viết về tâm sự của mình khi tiến qua ải Nam Quan để vào đất Trung Hoa. Đó là bài "Nam Quan đạo trung" và "Trấn Nam Quan". Riêng bài "Trấn Nam Quan" nói rõ biên giới giữa nước ta và Trung Hoa nằm ngay nơi mặt ải. Nguyên văn bài thơ như sau :

Trấn Nam Quan

"Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,
Tam bách niên lai trực đáo câm (kim).
Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện,
Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm.
Địa thiên mỗi vị truyền văn ngộ,
Thiên cận tài tri giáng trạch thâm..
Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,
Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm."
(bản dịch của Đỗ Văn Hỷ-tr.279-sách Địa Chí Lạng Sơn) :

Lý-Trần việc cũ dấu phai mờ
Năm đã ba trăm kể đến giờ
Muôn núi ải quan nằm chính giữa
Một thành Hoa-Việt vạch đôi bờ
Trời đất mới biết ơn sao nặng
Đất hẹp xui nên chuyện hóa ngờ
Mây biếc quay nhìn nơi cửa khuyết
Nhạc Thiều văng vẳng tiếng xa đưa

Qua bài thơ này đã chứng tỏ Trấn Nam Quan đã thuộc nhà Lý-Trần và nó có cách đó khoảng 300 năm tức là khoảng năm 1513. Tức là Trấn Nam Quan có trước thời Gia Tĩnh Triều Minh (1522-1560). Ngoài ra nó còn cho ta biết, bức tường thành chính là biên giới phân cách Việt-Trung vào thời đó.

Cuốn Việt Sử Tân Biên của sử gia Phạm Văn Sơn, tập 2, trang 393 có in lại 1 bản đồ mệnh danh là "Đại Việt Quốc Tổng Lãm Đồ" đã có ghi rõ ràng Ải Phá Lũy (tức Ải Nam Quan) nằm ở phía Bắc-Đông Bắc của bản đồ (Bản đồ này là của ông Thái Văm Kiểm tặng cho sử gia Phạm Văn Sơn). Bản đồ này cũng đã được đăng lại trong bộ sách Việt Sử Khảo Luận của L/S Hoàng Cơ Thụy (Cuốn 1, trang 501-Nhà xuất bản Nam Á -Paris 2002-địa chỉ 44 Avenue D'Ivry 75013 Paris).

Lịch Sử Ải Nam Quan theo các thời kỳ :

Vào thế kỷ 19, nhà bác học Lê Quý Đôn đã viết trong Vân Đài Loại Ngữ, ở điều 81 ghi rõ : "Phía bắc nước ta giáp với Trung Quốc có 3 cửa ải :

Mạn trên có Thủy khẩu quan thuộc tỉnh Cao Bằng

Mạn giữa có Bình nhi quan thuộc huyện Thất Khê

Mạn dưới có Trấn Nam quan (có lúc gọi là ải Pha Lũy, Trâ'n Nam Giao, Mục Môn Quan, Ải Nam Quan, hay Hữu Nghị Quan) thuộc tỉnh Lạng Sơn.

Ba cửa ải ấy là nơi quan hệ trọng yếu để ngăn ngừa quân địch".

Ải Nam Quan là nơi đã từng diễn ra và chứng kiến nhiều cảnh tang thương và hùng tráng trong suốt thời gian của Việt sử nghĩa là từ thời nước ta lập quốc cho tới nay.

Năm 40 Tây Lịch, Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Đông Hán, Nam Quan đã là cửa ngõ xâm lược của viên tướng Mã Viện. Và năm đó, Ải Nam Quan cũng đánh dấu nhiều chiến công huy-hoàng của dân-tộc Việt bất khuất như Thái thú Tô Định bị nghĩa quân của Hai Bà Trưng đánh đuổi phải bỏ chạy về Tàu qua ngả Nam Quan. Năm 981 vua Lê Đại Hành đã chém đầu Hầu Nhân Bảo và đánh đuổi tàn quân nhà Tống ở cửa Nam Quan.

Đời nhà Lý, năm 1060, quân xâm lược nhà Tống lại bị chận đánh ở Nam Quan và Lạng Châu tức Lạng Sơn. Bấy giờ Châu-mục Thân Thiệu Thái từng đánh sang Châu Ung bên Trung-quốc bắt sống Chỉ huy sứ Dương Bảo Tài, chưa kể sau đó là các chiến công phá Tống oanh liệt của Lý Thường Kiệt nữa.

Năm 1285, Đời nhà Trần, năm 1285 Trấn Nam Vương Thoát-Hoan phải nhục nhã chui vào ống đồng trốn chạy về Tàu qua ải Pha-Lũy tức Ải Nam Quan.

Năm 1427, Liễu Thăng bị phục binh của nghĩa quân Bình Định-Vương Lê Lợi chém chết ở Đảo Mã-Pha (Gò Té Ngựa) thuộc ải Chi-Lăng, ở về phía nam cửa Nam Quan khoảng 50 km và tàn quân Minh cũng phải theo cửa Nam Quan mà trốn chạy về nước.

Thời Lê Thánh Tông (1460 -1497), nhà vua cho tu bổ lại Đoàn Thành (Lạng Sơn), xây dựng lại các ải lớn, đặt 4 trạm dịch trên đất Lạng Sơn : Pha Lũy (Phia Lũy-theo tiếng địa phương), Mai Pha, Nhân Lý, Chi Lăng. Quy định của nhà nước là : chỉ có sứ bộ mới được đi qua ải Pha Lũy (sau này là Ải Nam Quan), còn những người bị tù tội, dân buôn bán trao đổi đều đi theo đường ải Du Thôn. Trên núi Kháo Sơn cũng có hai con đường : một cho sứ bộ, và một cho dân buôn. Nhà nước cũng quy định : các tổng quản, tuyên úy trị nhậm ở phiên lộ cách kinh thành 200 dặm, phải luôn luôn đẩy mạnh việc vũ vệ. Năm 1460, nhà vua hạ lệnh : "Những người coi giữ biên giới phải giữ quan ải cẩn thận, không được thông đồng với người nước ngoài". Trong bộ luật Hồng Đức, chương "Cấm Vệ" có điều "Những người bán ruộng đất, bờ cõi cho người nước ngoài thì bị xử chém". Điều 243 nêu rõ : Các tướng sĩ phòng giữ nơi quan ải nếu không phòng bị cẩn thận, dò la không đích thực để quân giặc đến bất ngờ đánh úp thì bị xử tội lưu hay tử".

Về cửa hay ải Nam Quan, theo Phương-Đình Dư địa chí của Nguyễn Văn-Siêu [bản dịch của Ngô Mạnh Nghinh, Tự Do xuất bản, Saigon, 1960], đời Hậu-Lê trở về trước gọi là cửa Pha-Lũy [hay Pha-Dữ], ở về phía bắc châu Văn-Uyên, trấn Lạng Sơn. Từ châu Bằng Tường [tỉnh Quảng-Tây] bên Trung-quốc muốn vào nước An Nam phải qua cửa quan này. Theo Cương-mục và Lam Sơn Thực Lục, cửa Pha Lũy chính là cửa Nam Quan ở xã Đồng Đăng thuộc huyện Văn-Uyên [xưa là Văn Châu hay Châu Văn], tỉnh Lạng-Sơn. Từ đời Lê Trung Hưng, người Tàu gọi cửa Pha Lũy là Trấn Nam Quan (Chen Nan Kuan) ; còn ta thì quen gọi là cửa hay Ải Nam Quan.

Theo Đại-Nam Nhất-Thống-Chí, Trấn Nam Quan thuộc nội-địa nuớc Tàu, dựng dưới đời vua Gia Tĩnh [1522-1566] nhà Minh.

Theo tác giả thì dịch giả đã diễn dịch sai lầm. Thật sự thì có lẽ tác giả muốn nói là Ải Nam Quan thuộc Tàu vào thời vua Gia Tĩnh. Vì sao nó lại thuộc Tàu vào ngày lúc này ? Theo tác giả thì có lẽ Mạc Đăng Dung do quá ươn hèn nên đã bị Tàu chiếm lấy cái Ải Nam Quan này sau khi làm lễ dâng biểu mất đất đai cho nhà Minh bên Tàu. Theo đoạn sử tả lại sự nhục nhã của phái đoàn Mạc Đăng Dung (xin xem lại chương 5) thì lúc đó Tàu chưa có làm chủ Ải Nam Quan gì cả. Quan quân Tàu còn phải đóng cách Ải Nam Quan 1 khoảng ngắn gọi là Mạc Phủ.

Bộ "Đại Nam Nhất Thống Chí", quyển 14, đã viết về ải Nam Quan như sau : "Cửa quan Nam Giao : Cách tỉnh thành 31 dặm về phía bắc, ở địa phận hai xã Đồng Đăng và Bảo Lâm thuộc châu Văn Uyên, phía bắc giáp địa giới châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ mà người Thanh gọi là Trấn Nam Quan. Cửa này dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh, đến năm Ưng Chính thứ 3 (năm 1726) nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại, có tên là "Đại Nam Quan". Phía đông là một giải núi đất, phía tây là một giải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng (gần 400 mét ; 1 trượng =3.3 mét), cửa quan đặt ở quãng giữa, có biển đề ba chữ "Trấn Nam Quan", dựng từ năm Ưng Chính thứ 6 triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ "Trung ngoại nhất gia", dựng từ năm Tân Sửu, đời Càn Long nhà Thanh. Phía bắc có cửa Chiêu Đức Đài, đằng sau đài có đình Tham Đường (nhà nuôi ngựa) của nước Thanh. Phía Nam có Ngưỡng Đức Đài của nước ta, bên tả bên hữu có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ này làm nơi tạm nghỉ.

"Xét : Trấn Nam Quan không rõ bắt đầu từ triều đại nào, trong Nam sử và Bắc sử đều không có nói minh văn. (Theo tác giả thì ải Nam Quan có lẽ đã thuộc Tàu vào thời Mạc Đăng Dung-Sử gia nhà Mạc thì không dám nói những cái ươn hèn của chính họ. Còn, các sử gia nhà Lê thì không biết rành vì vùng này thuộc nhà Mạc đến 150 năm sau. Ngay cả đốc trấn Lạng Sơn cũng còn không rõ xuất xứ của Ải Nam Quan. Còn sử gia Tàu thì cũng chẳng nói rõ chuyện này vì chỉ là chuyện nhỏ đối với họ. Cụm chữ "thuộc nhà Minh" đã bao hàm nhiều ý nghĩa : cũng có thể chính cái ải do nhà Minh xây lên, hay là nhà Minh đi ăn cuớp cái ải đó, hay là được nhà Mạc hiến dâng ải Nam Quan. Tất cả mọi tình huống đều nằm trong cụm chữ mập mờ "thuộc Nhà Minh thời Gia Tĩnh". Ngoài ra, bọn nhà Minh bên Tàu đã vét sạch tất cả các sách sử của Việt Nam đem về Tàu khi chúng sang xâm chiếm nước ta nên sau này việc tra cứu sử liệu Việt Nam có phần khó khăn).

Khoảng đời Lê Cảnh Hưng, đốc trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang, sửa lại Ngưỡng Đức Đài bằng gạch, lập bia ghi việc đại lược nói : "Nước Việt ta có Ngũ Lĩnh, quan ải trước ở đâu không rõ, là vì diên cách thế nào không ghi đủ. Gần đây lấy địa giới châu Văn Uyên trấn Lạng Sơn làm cửa quan, cửa quan có Ngưỡng Đức Đài không rõ dựng từ năm nào, có lẽ bắt đầu từ đời Gia Tĩnh nhà Minh." Văn bia ấy nay vẫn còn.

Lại xét : niên hiệu Gia Tĩnh (1522-1566) ngang với niên hiệu Nguyên Hòa (1533-1543) nhà Lê (Trang Tông), văn bia cũng nói có lẽ thế thôi. Sử chép : năm Nguyên Hòa thứ 8, Mạc Đăng Dung cùng với bầy tôi là bọn Nguyễn Như Khuê qua Trấn Nam Quan, đến Mạc phủ nhà Minh dâng biểu xin hàng." Đến đây mới thấy sử chép tên Trấn Nam Quan." Thời nhà Minh xâm lăng đô hộ nước ta, năm 1406, ông Nguyễn Trãi theo cha là Nguyễn Phi Khanh bị bắt sang Tàu cùng cha con Hồ Quý Ly. Tại ải Nam Quan, Nguyễn Trãi đã vâng nghe theo lời cha ghi nhớ hận mất nước và sau này phò Bình Định Vương Lê Lợi đánh đuổi được quân Minh, thu hồi lại nền tự chủ cho nước nhà.

Theo Phương Đình Dư Địa Chí, cửa Nam Quan, tùy theo từng triều đại mà còn có những tên gọi khác như Đại Nam Quan, Trấn Di Quan, cửa Nam Giao. Năm 1541, Mạc Đăng Dung và bày tôi qua cửa Nam-Quan xin hàng nhà Minh, bấy giờ cửa ải này có tên gọi là Trấn Man Quan. Trấn Nam Quan (hay ải Nam Quan) thì thuộc địa giới châu Bằng-Tường [tỉnh Quang-Tây bên Tàu], đối diện với các xã Đồng-Đăng và Bảo-Lâm thuộc châu Cao-Lộc [Văn-Uyên cũ], tỉnh Lạng-Sơn của tạ Hai bên cửa ải là núi đồi núi đá khá cao. Cửa ải Nam Quan luôn luôn khóa kín, chỉ mở khi có việc thông sứ chính thức giữa hai nước. Theo Bắc-Thành Dư-Địa-chí [của Lê Đại-Cương] ở về phía bên phải cửa Nam Quan có nhiều ải nhỏ như Ải Bang [ở châu Lộc-Bình], ải Tầm Bang [ở xã Tam-Lộc], Ải Kiệm [ở xã An-Khoái], ải Na Chi [ở xã Xuất-Lễ], ải Khấu-Sơn [ở xã Cần-Lua], Ải Du [hay cửa Du-Thôn ở xã Bảo-Lâm] và ở về phía bên trái cửa Nam Quan có các ải Bố Sa, Sơn-Tử [ở xã Tiên-Hội], ải Học-Mô [ở xã Hành-Lư], ải Bản Dương, Bản Quyên [ở xã Lạc-Khư], ải Nguyên-Anh, Bình-Công [ở xã Khánh-Môn], ải Bình-Nhi [ở xã Cửu-Dương] ; thuộc châu Thất-Tuyền có các ải Bắc-Bố, Khấu-Trung [ở xã Nghĩa-Điền], ải Ba Tạm, Cảm Môn [ở xã Cụ-Khánh], ải Na-Mân, Khô-Thịnh [ở xã Nghĩa Khản], ải Kiều-Lễ, Kiều-Lân [chưa rõ ở xã nào], ải Cốc Ngọa [ở xã Bình-Lục], Ải Hoa, Ải Mộ [ở xã Nông-Đồn].

Riêng về cửa ải Du-Thôn [ở xã Bảo-Lâm, châu Văn Uyên cũ - tỉnh Lạng-Sơn], phía bắc giáp thôn Điếu-Sách [thuộc châu Thượng-Thạch bên Trung-quốc]. Từ cửa ải Du-Thôn đến cửa Nam-Quan đi đường núi độ 2 canh rưỡi. Theo Phương Dình Dư Địa Chí, phàm tống đạt công văn việc thường [không khẩn cấp], trao trả tội phạm và khách thương [buôn-bán] đi lại giữa Ta và Tàu đều do cửa này.

Năm 1789 (Mùa Xuân Năm Kỷ Dậu), vua Quang Trung cũng từng đánh cho tan tác hàng vạn quân Tàu cùng với tổng đốc Tôn Sĩ Nghị khi sang giúp vua Lê Chiêu Thống. Kết quả, Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, phải bỏ chạy trốn qua Ải Nam Quan.

Năm 1802, Vua Gia Long thống nhất sơn hà. Theo Đại-Nam Thực lục, sau khi thống nhất đất nước, vua Gia-Long vẫn theo lệ cũ của đời nhà Lê cho thi-hành những thủ tục điều hành công vụ ở cửa Du Thôn. Giấy thông hành qua cửa Du Thôn phải có đóng dấu ấn Văn Uyên Châu Quảng Úy Sứ Ty Chi Ấn. Còn các giấy tờ, công-văn ở địa phương Văn Uyên giao thiệp với Trung-quốc thì dùng ấn Văn Uyên Tấn Khẩu [nghĩa là dấu của Cửa quan châu Văn-Uyên]. Vua Gia-Long cho đổi chức Quảng Úy-Sứ ra là Thủ-Hiệu và cho đúc ấn đồng, khắc chữ triện, gồm các chữ : Văn Uyên Châu Thủ Hiệu Chi Chương. Bấy giờ cửa Du-Thôn phụ-trách bởi hai viên Chánh và Phó Thủ-Hiệu và hai hiệu quân. Đồng thời, vua Gia Long cũng sai Trịnh Hoài Đức vẽ lại bản đồ thống nhất Việt Nam. Năm 1806, Trịnh Hoài Đức hoàn thành công việc và trình vua Gia Long với bản đồ Việt Nam trong đó có ải Nam Quan.

Ngày 06-05-1813 (vào ngày 06-04 Quí Dậu-khi đi về thì vào ngày 29-03 Giáp Tuất-tức là ngày 18-05-1814), đại văn hào Nguyễn Du vâng mệnh vua Gia Long đi sứ, khi đi sứ qua Ải Nam Quan đã cảm tác bài thơ Trấn Nam Quan như sau (bản dịch của Đỗ Văn Hỷ-tr.279-sách Địa Chí Lạng Sơn-1999" :

Lý-Trần việc cũ dấu phai mờ
Năm đã ba trăm kể đến giờ
Muôn núi ải quan nằm chính giữa
Một thành Hoa-Việt vạch đôi bờ
Trời đất mới biết ơn sao nặng
Ddất hẹp xui nên chuyện hóa ngờ
Mây biếc quay nhìn nơi cửa khuyết
Nhạc Thiều văng vẳng tiếng xa đưa

Qua bài thơ này đã chứng tỏ Trấn Nam Quan đã có cách đó khoảng 300 năm tức là khoảng năm 1513. Tức là Trấn Nam Quan có trước thời Gia Tĩnh triều Minh (1522-1560). Ngoài ra nó còn cho ta biết, bức tường thành chính là biên giới phân cách Việt-Trung vào thời đó.

Ngoài những chi tiết liên quan đến ải Nam Quan nói trên, ông Nguyễn Văn Siêu còn viết về những vụ lộn xộn tại biên giới liên hệ đến thị trấn Đồng Đăng, nơi có ải Nam Quan, trong đó có một đoạn đáng lưu ý như sau : "Năm thứ 29 niên hiệu Hồng Võ, Thổ tri phủ Tư Minh là Hoàng Quảng Thành tâu phủ ấy từ nhà Minh đặt lộ Tư Minh, châu huyện động trại trong hạt, phía Đông đến châu Thượng Tư, phía Nam đến Đồng Trụ, quân nhà Nguyên đánh nước Giao Chỉ, cách Đồng Trụ 100 dặm, đặt trại Vĩnh Bình, để quân đóng giữ, bắt người Giao Chỉ phải cung quân lương. Người Giao Chỉ đem quân đánh phá trại Vĩnh Bình khiến nhà Nguyên rối loạn, sau đó vượt qua Đồng Trụ hơn 300 dặm, xâm chiếm nhiều đất thuộc lộ Tư Minh, như 5 huyện Khâu Ôn, Như Ngạo, Khánh Viễn, Uyên Thoát. Lại Đồng Đăng thực là đất của Tư Minh, mà người Giao Chỉ nói là Đồng Trụ dựng ở nơi ấy, xin ban sắc cho An Nam phải trả lại đất cũ để bờ cõi được đúng. Vua Minh Thái Tổ sai chức Hành nhân là Trần Thành Lã Nhượng sang dụ, bàn cãi đi lại, mãi vẫn không quyết, việc [quên] dần thôi."

Tới đời nhà Thanh gần đây, trong bài Trùng tu Nam Quan Ký của Tuần phủ Lý Công Phất còn nhắc tới việc này như sau : Nam Quan trông sang Giao Chỉ thật là hiểm yếu, ở đó có cột đồng Mã Viện.

Đến ngày mồng 8 tháng giêng năm Ất Dậu (1885) thì thiếu tướng De Négrier lên đến cửa Nam Quan, truyền phá ải quan, rồi trở về Lạng Sơn (Việt Nam Sử Lược, tác giả TrầnTrọng Kim, trang 225, phần "Lấy thành Lạng Sơn, ấn bản điện tử tại www.vnet.org/vanlangsj/tailieu/vnsl.pdf (http://www.vnet.org/vanlangsj/tailieu/vnsl.pdf)).

Theo lời mô tả của bác sĩ Hải Quân Neis (thành viên phái đoàn phân định biên giới) trong hồi ký Phân Ddịnh Biên Giới Pháp Hoa 1885-1887 của ông (Nguyên văn tiếng Pháp và được dịch giả tiến sĩ Walter ẸJ. Tips dịch ra tiếng Anh) thì :

Ải Nam Quan nằm ở dưới 1 rảnh núi hẹp, hai bên là hai đồi núi khá dựng đứng, cao chừng 50-60 m (xin xem hình vẽ Ải Nam Quan của Eug. Burand). Khi đó thì Trung Hoa đã xây sửa lại Ải này và nối liền nó với 1 bờ tường thành thấp chạy dài theo hai bên núi. Các thành viên Trung Hoa đã kịch liệt phản đối và cho rằng bờ tường thành không phải là biên giới (nên nhớ đại văn hào Nguyễn Du đã làm 1 bài thơ Trấn Nam Quan vào năm 1813, bài thơ nói rõ bờ tường này chính là biên giới phân cách hai nước-xin xem chương 13). Phía Trung Hoa yêu cầu cột biên giới phải cách xa khỏi Ải Nam Quan. Cuối cùng, phía Pháp đồng ý cột mốc biên giới (thứ 25) cách Ải Nam Quan là 100m (theo hồi ký của bác sĩ Neis thì là 150 m (nghĩa là lấy biên giới là con suối nhỏ ở phía trước ải (suối này tên là suối Phi Khanh), theo hình chụp biên bản biên giới tại Văn Khố Đông Dương-Pháp thì cho biết chính xác là 100m). Kết quả là Việt Nam mất 100m ngay trước của Ải Nam Quan. Sau khi đó, hai phái đoàn đi qua các làng kế bên để tiếp tục đóng các cột mốc biên giới khác. Sau hai ngày, thì hai phái đoàn trở lại Ải Nam Quan để làm 1 bản báo cáo chính thức về việc đóng cột mốc biên giới. Cách Ải Nam Quan 150 m là một con suối nhỏ (sau này có 1 cây cầu bắc qua gọi là cầu Nam Quan).

Theo Địa dư Các Tỉnh Bắc Kỳ của Ngô Vi Liễn (1999) thì cửa Nam Quan ở ngay biên giới Trung Quốc và Việt Nam. Kể từ Hà Nội lên đến tỉnh lỵ Lạng Sơn là 150 km ; đến cây-số 152 là chợ Kỳ Lừa ; đến cây số 158 là Tam Lung ; đến cây số 162 là Đồng Đăng ; đến cây số 167 là Ải Nam Quan đi sang Long Châu bên Tàu. Như vậy từ Đồng Đăng lên cửa Nam Quan có 4 km (xin xem hình anh lính Pháp ngồi với bản đề 4 km) ; từ Kỳ Lừa lên Nam Quan mất 15 km.Về phía Tây-Nam chợ Kỳ Lừa có động Tam Thanh, trước động Tam Thanh có núi Vọng Phu hay tượng nàng Tô Thị là những danh thắng của tỉnh Lạng Sơn và từ tỉnh-lỵ Lạng-Sơn lên Nam-Quan là 17 km. Thời Pháp-thuộc, người Pháp gọi cửa Nam-Quan là Porte de Chine, nghĩa là cửa ngõ Trung-quốc. Tên này được dùng cho đến năm 1945. Năm 1931, Tờ báo National Geographic có chụp hình Ải Nam Quan từ bên phía phải của nó.

Sau năm 1954, Mao Trạch Đông cho đổi cách gọi Trấn Nam Quan là Mục Nam Quan (Mục : theo từ điển Hán Việt của Ddào Duy Anh thì có nghĩa là hòa thuận, tin cậy, thân thiết-vì vậy tên tiếng Anh là Friendship Gate. Hồ Chí Minh thì cho gọi là Hữu Nghị Quan). Còn Bộ trưởng ngoại giao Trần Nghị (Chen Yi) thì cho gắn bảng là Mục Môn Quan.

Từ thời Pháp, dựa theo bức họa của Eug. Burnand vẽ năm 1887, biên giới hai nước Trung-Việt ở Nam Quan ngăn cách bởi một bức tường thành, ở giữa có cửa thông sang Trung-quốc và hai bên là hai ngọn núi khá cao (xin xem hình đính kèm). Trải qua những trận chiến Pháp-Hoa ở vùng biên-giới Lạng Sơn, bức tường thành và cửa ngăn cách biên-giới hai nước nay không còn nữa. Còn bưu-thiếp của Collection de L'Union Commerciale Indochinoise vào năm 1910 (xin xem hình) cho thấy một cửa Nam Quan sát chân núi khá cao ; ngoài cửa chính có lính canh gác và còn có một cửa phụ ở bên cạnh và phía sau cửa ải có một tòa nhà lầu ở lưng chừng núi. Cũng vì chiến-tranh Pháp và Việt-Minh, cửa Nam Quan này nay không còn.

Từ Đồng Đăng lên Nam Quan lác-đác có ít nhà nhỏ xây bằng gạch (xin xem ảnh tư liệu). Gần đồn lính của Pháp ở Nam Quan thì có vài hàng quán nhỏ dành cho khách đi đường, lính-tráng trong đồn hoặc một ít người tài-xế lái xe vận-tải hay những người làm nghề khuân vác lẩn quẩn ở đó chờ đêm xuống lẻn qua biên giới sang Tàu để khuân hàng lậu về nước ta để kiếm lời. Từ biên giới Nam-Quan sang Bằng-Tường cũng vậy, nhà cửa thưa-thớt chứ không có phố sá gì nhiều cả. Một đồn lính biên phòng nhỏ của Việt-Nam ở ngay sát đường biên-giới hai nước trước cửa Nam Quan (xin xem hình)

Từ Lạng Sơn đến Đồng Đăng khoảng 14 cây số và từ Đồng Đăng đến cột mốc số 0 do Pháp cắm ngày xưa để làm dấu lằn ranh giới giữa hai nước và cũng là cột mốc đầu của Quốc lộ 1, phải mất 4 cây số nữa. Trước khi tới cột mốc số 0 (theo tài liệu biên bản biên giới Pháp-Thanh thì cột mốc này được đánh số 25. Vào năm 1979, cột mốc này đã bị lính Trung Quốc dùng xe ủi nát mất dấu. Sau đó, dân địa phương cho dựng lại cột mốc nhưng họ không rõ trước đó nó là số mấy nên đành để 0 (trên cột có đề chữ H. N. Quan). Vị trí cột này dễ nhận biết vì nó nằm gần ngay 1 cây đa và 1 giếng nước-còn gọi là giếng Phi Khanh) khoảng 100 thước, phải dừng xe ở trạm gác biên phòng của Việt Nam. Tại đây, mọi người phải vào Phòng Xuất Nhập Cảnh làm thủ tục kiểm dịch quốc tế, đóng thuế Hải Quan rồi mới được đi tiếp. Từ trạm gác biên phòng đi khoảng 100 thước nữa thì đến cột mốc số 0 đã nói ở trên. (Cách đường cái quan là đường xe lửa Việt Trung cách đó 50 mét. Điểm nối ray là cách Ải Nam Quan 300 mét. Bản tín hiệu xe lửa thì cách Ải Nam Quan 500 mét). Qua khỏi cột mốc biên giới khoảng 100 thước lại gặp trạm kiểm soát biên phòng của Trung Quốc rồi đến Phòng Xuất Nhập Cảnh như bên Việt Nam. Tại đây, hải quan biên phòng của Trung Quốc thâu lệ phí và thâu passport cùng giấy tờ tùy thân, rồi cấp giấy tạm nhập khẩu Trung Quốc. Có khi vui miệng, họ còn nhắc rằng phải đổi giờ 1 tiếng đồng hồ vì Trung Quốc theo giờ Bắc Kinh còn dân Việt thì theo giờ Hà nội. Ra khỏi Phòng Xuất Nhập Cảnh là thấy ngay cổng Hữu Nghị Quan (Ải Nam Quan) đồ sộ hiện ra trước mắt-bên tay trái, chỉ cách phòng này khoảng 100 thước. Đi xuôi về phía Trung Quốc khoảng hơn 200 mét nữa thì có trạm xe buýt quốc tế có bảng "International Terminal" để chở khách du lịch đi đến Long Châu (xin xem các ảnh tư liệu đính kèm).

Hữu Nghị Quan - Ải Nam Quan nhìn từ tòa nhà Xuất Nhập Cảnh của Trung Quốc.

Hữu Nghị Quan - Cột cây số 0 KM.

Thật đau buồn cho dân tộc Việt Nam !

Qua các cuộc thương thảo về phân định biên giới Việt-Trung, Thứ trưởng Ngoại Giao Lê Công Phụng đã phải thú nhận nhà cầm quyền VN đã nhượng 200 mét tính từ cột mốc O Km (H.N.Quan). Tính ra biên giới Việt-Trung ngày nay là chính ngay chổ nhà Xuất Nhập Cảnh Việt Nam (tức cách Ải Nam Quan-Hữu Nghị Quan khoảng 400 mét).

Chuyện dưới chân Ải Nam Quan

1. Đám khách du lịch chúng tôi đi vào một ngày tháng sáu nóng nực. Sau khi nhập cảnh vào TQ, tôi kéo chiếc valy đi mấy chục mét nữa mới đến trước chân ải. Phải nói người xưa khéo biết lợi dụng khe núi hiểm, chỉ cần tốn ít công sức xây cái cổng thành với hai đoạn nhỏ tường thành hai bên là có một toà thành vững chãi chống lại sự xâm nhập của ngoại bang.

Đi qua vòm đá mát lạnh của cửa ải cùng với cậu hướng dẫn viên du lịch tên Kiên, tôi hỏi, thành này gọi là gì? Kiên bảo: Gọi là cửa Hữu Nghị quan anh ạ! Sang đến bên kia, tôi bảo một khách cùng đoàn chụp giúp kiểu ảnh đứng trước “cửa Hữu Nghị”. Ra vẻ sành sỏi, cậu hướng dẫn viên du lịch kêu ầm lên: “Sao anh không chụp ảnh mặt chính đằng trước, có quốc huy và cờ TQ đẹp hơn?”. Tự dưng tôi nổi xung quát: “Mày thì biết cóc khô gì, mặt trước với mặt sau. Đây mới là mặt chính của toà thành”. Tự dưng bị quát, cậu bé xịu mặt đi thẳng. Chụp xong tấm hình, tôi tự thấy mình vô lý quá. Cậu bé hướng dẫn viên không có lỗi gì khi cố gắng chỉ dẫn cho khách của mình. Có chăng là…

Bên kia, xe buýt của hãng lữ hành đang chờ, đưa chúng tôi tới thẳng Nam Ninh.

2. Sau gần 10 ngày, chúng tôi chở lại Ải Nam quan, tiễn đoàn khách còn có cả cô hướng dẫn viên người Hoa nói tiếng Việt rất sõi tên Nguyên. Xe sắp dừng, cô hướng dẫn viên người Hoa vui vẻ hỏi: “Các bác, các anh các chị đã ngửi thấy mùi Việt Nam chưa?” Tôi cười: “Ngửi thấy mùi đất Việt lâu rồi, từ lúc rời Nam Ninh cơ”. Câu trả lời của tôi làm cô cụt hứng, từ khuôn mặt đầy vẻ ái quốc của cô ném cho tôi một cái nhìn khó chịu. Thấy vậy tôi không buông tha cô. Đến trước tường thành, tôi hỏi cô: “Thành này ai xây?”. Cô trả lời không đắn đo với đầy vẻ hào: “Người TQ xây”. Tôi cười bảo: “Không phải”. Tôi lại chỉ toà nhà vàng mang phong cách Pháp được xây phía trước ải, hỏi: “Toà nhà này ai xây”. Cô trả lời cụt lủn: “Người Pháp”. “Vậy tức là người Việt Nam xây rồi”, tôi trả lời cô. Thấy tôi nói vậy, cô cũng không nói gì nữa. Có lẽ lần đầu tiên cô gặp một ông khách đến từ phương Nam khó chịu như tôi ở cửa Hữu Nghị.

Một khách cùng đoàn, đề nghị tôi chụp giúp kiểu ảnh trước khi trở về cố quốc.

3. Tôi cảm thấy tiếc cho Kiên, nếu không vì tự ái mà vặn lại tôi thì cậu đã có cái để chỉ dẫn cho những người khách khác của cậu.

Bây giờ du lịch phương Bắc dễ dàng và không quá đắt đỏ, nếu ai có dịp đi đường bộ, qua “cửa Hữu Nghị” thì xin dừng chân giây lát và hãy tự hỏi tại sao cầu thang dẫn lên thành lại ở mặt Nam, trong khi mặt Bắc thì tường cao phẳng đứng, không một chỗ bám để leo lên? Phải chăng các nhà quân sự TQ xưa lại đi ngược lại nguyên tắc xây dựng thành trì? Phải chăng khi hộ thành thì quân Bắc sẽ bắc thang tre để leo lên???

Chỉ xin nhớ đó là “Ải Nam Quan” - cửa ải của nước Nam!

Trích một đoạn bên TTVNOL cho thỏa mãn không cứ dựa vào cái từ Ải Nam Quan rồi cho đó là của Trung Quốc :


Hay thật, từ trưóc đến nay chưa có bất cứ dữ kiện lịch sử nào chứng minh Ải Nam Quan là của TQ, vậy mà cho đến bây giờ, các bạn và ông Trần Bạch Đằng lại đang cố gắng chứng minh nó là của TQ . Thật là sự phỉ nhổ vào lịch sử, ko biết bao nhiêu ông cha ta đã ngã xuống để giữ vững mảnh đất này, vậy mà bây giờ thế hệ trẻ chúng ta lại quên đưọc ư . Sau đây là những dữ kiện lịch sử chứng minh Ải Nam Quan là của VNam :

- Có người định nghĩa chữ Nam Quan là "cửa phương nam" theo như sự diễn giải của người Tàu, để rồi cho rằng cửa đó thuộc Tàu, vì nếu thuộc Việt thì phải gọi là "Bắc Quan" tức là cửa phương bắc. Đó là sự sai lầm khá căn bản, vì Nam Quan chỉ là một danh từ riêng đã có từ lâu đời, như các ải Du Thôn, Cẩm Thành, Ba Ôn, Khấu Sơn, Quỷ Môn, v.v..., dọc theo biên giới Việt Trung vậy. Nam Quan cũng là tên gọi vắn tắt của tên chính thức là Đại-Nam Quan, nghĩa là "Cửa quan của nước Đại-Nam".

- Căn cứ vào sách Sử Ký do sử gia Tàu viết về việc Án Sát Cam Nhữ Lai "tu bổ" lại Nam Quan rồi đặt tên cho cổng là "Trấn Nam Quan", có người đã lý luận rằng cả vùng ải Nam Quan đều thuộc về Trung Quốc nên người Tàu mới có quyền tu bổ cửa ải. Đây là sự thiếu hiểu biết cặn kẽ về sử nước ta. Sử sách VN có đề cập đến tên và chủ quyền lãnh thổ trên vùng Nam Quan từ nhiều đời trước. Điển hình là trong tập thơ "Lạc Đạo" (Con Đường Vui Thú), bài Đường thi "Vườn Phúc Hưng", Thượng Tướng Thái Sư Trần Quang Khải đã có nhắc đến "Ải Nam" sau khi đánh bại giặc Mông Cổ lần thứ 3. Hai câu cuối được Phan Huy Chú dịch như sau:

Báo giặc Ải Nam không khói lửa
Bên giường một giấc ngủ ngon lành"

( Các Triều Đại Việt Nam, Quỳnh Cư & Đỗ Đức Hùng, NXB Thanh Niên, 1995, trang 109)

Câu đầu xác định quyền kiểm soát và trấn thủ toàn thể Ải Nam Quan của người Việt Nam, từ thời nhà Trần hoặc xưa hơn.

Chủ quyền ải Nam Quan cũng có ghi rõ trong lịch sử thời nhà Lê dấy nghiệp. Năm 1427, đạo quân nhà Minh từ Quảng Tây kéo đến ải Nam Quan định sang giải vây cho Vương Thông đang bị Bình Định Vương Lê Lợi vây khổn ở Thăng Long, nhưng đã bị các tướng giữ ải là Lê Lựu và Lê Bôi phục kích đánh tan (Việt Sử Tân Biên - Quyển 2, Phạm Văn Sơn, NXB Văn Hữu Á Châu, 1958, trang 442 )

-Những bằng cớ cho thấy Nam Quan là một phần lãnh thổ của Việt Nam có thể được tìm thấy trong bộ sách Phương Đình Dư Địa Chí của Nguyễn Văn Siêu, một danh nho vào thời nhà Nguyễn. Tác giả diễn tả khá chi tiết về Cổng Nam Quan từ trang 451 đến 453 (hình 6, 7, 8). Tác giả viết rằng:

"Ải Nam Quan ở địa phận 2 xã Đồng Đăng và Bảo Lâm châu Văn Uyên, phía bắc giáp giới châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, 2 bên có núi đá cao ngất, ở giữa mở một cửa quan, có cánh cửa có khóa, chỉ khi có việc sứ mới mở, tên là Nam Quan (một tên là Đại Nam quan, một tên là Trấn Di Quan, lại có tên là Trấn Nam quan." (Phương Đình Dư Địa Chí - Nguyễn Văn Siêu, NXB Sài Gòn, 1959, trang 451 )

-Dữ kiện của đoạn trên chứng tỏ quyền kiểm soát toàn vẹn của chính quyền nước ta

Dữ kiện của đoạn trên chứng tỏ quyền kiểm soát toàn vẹn của chính quyền nước ta vào thời đó trong việc mở và đóng khóa cửa quan. Hiển nhiên tên Đại Nam quan là danh từ riêng của Việt Nam đặt, chứ không phải do Trung Quốc đặt để ám chỉ là "cửa phía nam" như có người lầm tưởng.

Phần Hai :

Vào năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi triều đình Nhà Trần. Nhà Minh bên Trung Quốc lập tức công bố họ sẽ trừng phạt giòng tộc Hồ để giúp cho con cháu nhà Trần lên ngôi trở lại. Nhà Minh chuẩn bị đem quân vào Đại Việt. Hồ Quý Ly quá sợ hãi trước quân đội hùng mạnh của Nhà Minh, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (1479), vào năm 1405, Hồ Quý Ly nhường cho Nhà Minh phần đất Cổ Lâu ở núi Phân Mao và 59 động ở biên giới Việt-Hoa như một hình thức hối lộ để cho Nhà Minh không tấn công hủy diệt giòng tộc Hồ. Nhà Minh chấp nhận sự nhượng đất này, đem phần đất Cổ Lâu và 59 động nhập vào Vương Quốc của Nhà Minh dưới sự cai quản của Khâm Châu , tỉnh Quảng Tây. Dẫu vậy, vào năm 1407, nhà Minh vẫn đem quân đánh chiếm và cai trị Đại Việt (tức là Việt Nam thời bấy giờ) 20 năm trời.

Khi Nhà Minh đem quân đánh chiếm Đại Việt vào năm 1408, họ bắt và chuyển một số vua quan giòng họ Hồ của Đại Việt về Kim Lăng, ở tỉnh Sơn Đông bên Trung Quốc để dễ bề kiểm soát. Nguyễn Phi Khanh, một trong những đại thần của vua Hồ cũng bị bắt đi theo nhóm này để bị chuyển về Kim Lăng. Nguyễn Trải (1380-1442), con của Nguyễn Phi Khanh, theo cha đến tận Ải, và lúc bấy giờ người ta gọi là Ải Pha Lũy. Nguyễn Trải rất buồn cho số phận của cha đến nỗi ông không còn muốn sống nữa. Đến một nơi, hai cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trải ôm nhau khóc, khóc rất nhiều, và Nguyễn Phi Khanh khuyên Nguyễn Trải hãy vững mạnh lên, hãy trở về và tìm đường cứu đất nước ra khỏi bàn tay đô hộ của người Trung Hoa. Truyền thuyết thêu dệt rằng những giọt nước mắt của họ đã chảy xuống thành giòng suối ở ngay Ải, và, sau này, để tôn vinh lòng ái quốc của hai cha con, người ta đã đặt tên cho con suối này là Suối Phi Khanh.

Nguyễn Trải buồn rầu chia tay cha trở về Đại Việt, và, sau này, ông gia nhập giúp cho Lê Lợi, một phú nông rộng lượng có một quả tim vĩ đại cho dân tộc vào năm 1418 đã trở thành vị anh hùng cách mạng phất cờ lãnh đạo một cao trào chống lại sự cai trị của Nhà Minh. Nguyễn Trải, một triết gia, đã trở thành bộ óc, lý thuyết gia, và chiến lược gia cho Lê Lợi. Chính ông đã viết Bình Ngô Đại Cáo với những lời hùng mạnh, cao siêu, và đầy triết lý như sau: "Lấy chí nhân mà thay cường bạo; đem đại nghĩa để thắng hung tàn." Sau 10 năm chiến đấu, Lê Lợi và Nguyễn Trải đã giành lại được Độc Lập cho Đại Việt. Lê Lợi và Nguyễn Trải cũng chiếm lấy lại được tất cả các lãnh thổ mà Hồ Quý Ly đã nhượng cho nhà Minh trước đây, và đương nhiên, Suối Phi Khanh, nơi mà Nguyễn Trải đã chia tay với cha, đã trở thành một địa danh linh thiêng từ ngày đó. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi trở thành Lê Thái Tổ, sáng lập ra Triều Đại Nhà Lê. Biên giới Hoa-Việt vào Triều Đại Nhà Lê vẫn thường là ở ngay cột đồng được dựng lên do lệnh của Mã Viện vào năm 43, bị chôn sâu trong đống đá đã trở thành một "ngọn đồi" ở đâu đó tại vùng Cổ Lâu, núi Phân Mao, gần Khâm Châu, tỉnh Quảng Tây.

Thế rồi, vào năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi Nhà Lê. Tám (8) năm sau, năm 1535, gia đình uy dũng họ Nguyễn đã giúp lại cho Vua Lê lấy lại được quyền, đuổi giòng họ Mạc ra khỏi Hà Nội. Sau một thời gian ngắn, gia đình họ Trịnh, sui gia với nhà Nguyễn, đã cướp được quyền Chúa của giòng tộc Nguyễn, đuổi giòng tộc Nguyễn ra khỏi kinh thành. Giòng tộc Nguyễn trôi giạt xuống phía nam lập ra một vương quốc mới, và giòng tộc Trịnh cai trị Hà Nội và vùng phụ cận qua các vua Lê như là những kẻ bù nhìn của họ. Trong khi ấy, giòng tộc Mạc đi về phía bắc thành lập một vương quốc riêng ở vùng đất ngày hôm nay là tỉnh Cao Bằng - Lạng Sơn của Việt Nam và một phần đất ngày hôm nay thuộc về tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc.

Năm 1537, dưới chiêu bài ủng hộ con cháu Nhà Lê trở về ngai vàng, Nhà Minh sai hai tướng Cừu Loan và Mao Bá Ôn chuẩn bị đem trên 100 ngàn quân tiến chiếm Đại Việt. Trước khi đến biên giới, các tướng Nhà Minh hù dọa rằng sẽ mang cả giòng tộc Mạc ra hành quyết. Để đổi lấy sự rút quân của Trung Hoa cũng như để đạt lấy sự bảo hộ của Nhà Minh, theo sử sách Việt Nam, giòng tộc Mạc đã 2 lần dâng đất cho Trung Hoa. Lần thứ nhất xảy ra vào năm 1538, Mạc Đăng Dung dâng hai châu Quy và châu Thuận, và lần thứ hai xảy ra vào năm 1540, Mạc Đăng Dung nhường 6 động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, và La Phù của châu Vĩnh An, Yên Quảng cho Nhà Minh và Nhà Minh sát nhập các phần đất này trở thành một phần của Khâm Châu, tỉnh Quảng Tây.

Sách sử của Trung Hoa có đôi chút khác biệt. Theo họ, lúc đầu hai tướng Cừu Loan và Mao Bá Ôn báo cáo về cho Triều Đình Nhà Minh biết Mạc Đăng Dung đã "trả lại" 4 động Cổ Sum, Tê Lẫm, Kim Lặc, và Liễu Cát mà Đại Việt trước đây đã "xâm chiếm" của Trung Hoa. Trong cuốn Khâm Châu Chí của nhà Thanh lại chép Mạc Đăng Dung nộp trả năm (5) động Ty Phù, La Phù, Cổ Sâm, Liễu Cát, và Kim Lặc mà thôi, chớ không thấy nói đến động An-Lương. Có lẽ dựa trên cuốn Khâm Châu Chí của nhà Thanh, nên sử gia Trần Trọng Kim của Việt Nam vào đầu thập niên 1970s cho rằng Mặc Đăng Dung chỉ có dâng 5 động Tê Phú, Kim Lặc, Cổ Xung, Liễu Cát, và La Phù. Sử gia Trần Trọng Kim bỏ động An Lương. Ngạc nhiên hơn nữa, sử gia Trần Trọng Kim còn cho biết Mặc Đăng Dung cắt dâng đất "Khâm Châu" cho nhà Minh. Chúng ta không biết chắc "Khâm Châu" mà sử gia Trần Trọng Kim nhắc đến có phải cũng là "Khâm Châu" ở tỉnh Quảng Tây hôm nay hay không. Tuy nhiên, nhiều người suy diễn khi sử gia Trần Trọng Kim nhắc đến "Khâm Châu," sử gia Trần Trọng Kim ám chỉ vùng Cổ Lâu, núi Phân Mao, nơi cột đồng Mã Viện đã ra lệnh dựng nên năm 43, cách xa thành phố Khâm Châu khoảng 3 cây số.

Dựa trên một số điểm khác biệt như vậy, nhà sử học Marxist Trần Khuê vào năm 1995 đã viết một bài phê bình gắt gao sử gia Trần Trọng Kim là đã chép sử sai, thay vì phải chép Mặc Đăng Dung cắt dâng cho Nhà Minh 6 động thì đã "tự ý bỏ mất đi động An Lương," và, "(sử gia Trần Trọng Kim đã) bịa thêm cái gọi là 'Khâm Châu'. Làm sao Mặc Đăng Dung lại có thể cắt đất dâng nộp phần đất không phải là của nước mình?" Nhà Marxist Trần Khuê viết bài này bênh vực việc Mạc Đăng Dung cắt đất dâng cho Nhà Minh để được sự bảo vệ sống còn cho cả giòng họ Mạc không đến nỗi phải bị nguyền rủa giống y như những gì mà sử sách Việt Nam đã từng làm trong nhiều thế kỷ qua.

Rõ ràng là có đôi sự khác biệt ngay cả sử sách Trung Hoa và sử sách Việt Nam, tuy nhiên, một điều chắc chắn đó là Mặc Đăng Dung đã nhường một phần lãnh thổ của Đại Việt cho Nhà Minh để đổi lấy sự bảo hộ của họ cho sự sống tồn của giòng họ Mạc, và, đối với đại đa số người Việt Nam, đây là hành động phản quốc đáng bị nguyền rủa qua muôn thế hệ ở mọi thời đại.

Sáu (6) hay năm (5) động và hai châu Quy, Thuận mà Mạc Đăng Dung dâng cho nhà Minh đều chỉ là một sự ám chỉ phần đất Cổ Lâu, núi Phân Mao, gần Khâm Châu, tỉnh Quảng Tây mà đối với người Việt Nam rất là linh thiêng vì họ tin rằng nơi đây có cột đồng đã dựng nên vào năm 43 do lệnh của Mã Viện, và cột đồng này đã chôn sâu trong đống đá nằm ở đâu đó trong vùng này. Lợi dụng cơ hội nhượng đất này, Hoàng Đế Gia Tĩnh Nhà Minh (cai trị 1522-1566) ra lệnh xây một cái cổng ở ngay Ải tạo một dấu chứng biên giới Hoa-Việt để từ đó người Việt Nam khó lòng mà có thể lấy lại đất tổ của họ ngay tới tận cột đồng đã được dựng nên từ năm 43 như một hình thức gây nên một tâm lý hội chứng xã hội, một dấu hiệu xấu cho người Việt Nam qua nhiều năm tháng. Vì cái Cổng huy hoàng và đồ sộ này, nên tự nhiên người ta quên đi các tên Ải Pha Lũy hay Ải Ba Lụy, và thay vào đó, người ta gọi nó những cái tên khác như Đại Nam Quan hoặc Trấn Di Quan. Nhà Minh chính thức gọi nó là Ải Nam Quan. Người Pháp, vào thế kỷ thứ 19, đã gọi nó là Cổng Trung Hoa (Porte de Chine). Vào thập niên 1960s, Mao Trạch Đông đề nghị với Hồ Chí Minh đổi tên nó thành Mục Nam Quan như một dấu chứng "đàn anh Trung Hoa" lúc nào cũng ngó xuống phía nam để lo lắng cho "đàn em Việt Nam" ngõ hầu làm cho tình hữu nghị quốc tế vô sản giữa hai quốc gia càng được trong sáng hơn. Hồ Chí Minh đề nghị lại xin đổi thành Hữu Nghị Quan.

Các hoàng đế Nhà Minh ra một chiếu chỉ rất nghiêm khắc về việc điều hành Cổng này. Về sau, các hoàng đế nhà Thanh cũng theo quy chế khắc khe đó. Theo như chỉ dụ, Cổng-Thành chỉ được mở khi có phái đoàn ngoại giao của hai nước, và nó chỉ được mở khi có lệnh của hoàng đế hay do quyết định "khôn ngoan" của vị Quan Tổng Đốc Lưỡng Quảng trong những trường hợp thật khẩn cấp. Bằng cách áp dụng nguyên tắc hành chánh khó khăn này trong vấn để mở Cổng Thành, Trung Quốc muốn chắc ăn Việt Nam sẽ rất khó mà có cơ hội dùng vũ lực tiến chiếm lại những vùng đất mà họ đã mất như họ đã từng làm nhiều thế kỷ trước. Từ ngày Cổng Thành được xây vào thế kỷ thứ 16, trên 200 năm, chưa có trường hợp nào Cổng Thành được mở ra vì mục đích quân sự. Nhưng, vào năm 1788, Trung Quốc hồ hỡi mở Cổng Thành đưa các đạo quân vào nam, tổng cộng các đường tiến quân lên tới hơn 200 ngàn, để tấn chiếm Việt Nam.

Năm 1771, ba anh em họ Nguyễn ở Tây Sơn miền trung Việt Nam nổi lên chống lại Chúa Nguyễn ở phía nam và sau này chống lại Chúa Trịnh ở phía bắc. Ba anh em này được sử sách Việt Nam gọi là Nhà Tây Sơn. Năm 1777, anh em Tây Sơn lật đổ chính quyền ở trong nam. Năm 1786, and em Tây Sơn, dưới quyền điều khiển của người em trai trẻ nhất là Nguyễn Huệ, tiến thẳng và đóng chiếm Hà Nội. Sau khoảng 250 năm chia cắt, Việt Nam được thống nhất. Vua bù nhìn của Việt Nam lúc bấy giờ là Lê Chiêu Thống chạy sang Bắc Kinh vận động sự ủng hộ của Đại Đế Càn Long (cai trị 1735-1796) giúp ông ta trở về lên ngai vàng. Vua Càn Long nhận ra đây là cơ hội để Trung Hoa có thể tái cai trị Việt Nam, vì thế, núp dưới danh nghĩa "ủng hộ con cháu nhà Lê trở lại ngai vàng và trừng trị những bày tôi phản trắc của nhà Lê," Đại Đế Càn Long sai tướng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 200 ngàn quân xâm chiếm Việt Nam. Từ ngày mà Cổng Thành được xây cất, đây là lần đầu tiền Ải Nam Quan được mở ra cho việc tiến công quân sự, và quá rõ ràng, phần lợi thuộc về phía Trung Hoa. Quân đội của Trung Hoa tiến vào Hà Nội một cách dễ dàng chỉ trong vòng có vài tuần.

Đứng trước hiểm họa nguy cập Việt Nam có thể bị Trung Hoa đô hộ lần nữa, vào năm 1788, tại Huế thuộc miền Trung Việt Nam, Nguyễn Huệ đăng ngôi Hoàng Đế, lấy hiệu là Quang Trung (1752-1792). Hoàng Đế Quang Trung là một nhà thiên tài về quân sự, với những đạo quân khoảng 100 ngàn người, ông tiến từ Huế đến Hà Nội chỉ trong vòng có vài tuần, thắng nhiều trận đánh oanh liệt, đánh bại quân đội hơn 200 ngàn người của tướng Tôn Sĩ Nghị một cách dễ dàng, đuổi họ ra khỏi Hà Nội. Tướng Tôn Sĩ Nghị phải rút về Trung Hoa và cái Cổng đã được đóng lại để ngăn chận sự tiến quân của Đại Đế Quang Trung.

Nhận thấy Cái Cổng chính là một cản trở vật để cho Việt Nam tiến chiếm lại các phần đất của tổ tiên, vào đầu năm 1792, tin rằng các đạo quân của ông đã được huấn luyện kỹ lưỡng và đủ hùng mạnh để tiến vào Trung Hoa gây chiến tranh với Nhà Thanh, Đại Đế Quang Trung cử ông Võ Văn Dũng làm Sứ Thần trưởng phái đoàn đến Bắc Kinh để đưa ra hai điều kiện: 1/ Trung Hoa phải trao trả lại cho Việt Nam những phần đất của tổ tiên bao gồm 2 tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, hoặc, ít nhất là phải trả lại tới phần đất ngay cây cột đồng đã được dựng nên vào năm 43; 2/ Hoàng Đế Nhà Thanh phải đồng ý gả công chúa cho Vua Quang Trung như một sự bày tỏ giao hảo lâu dài giữa hai quý tộc.

Không may, Vua Quang Trung một cách kỳ bí bị tai biến mạch máu não (xưa gọi là chứng huyễn vận tức xuất huyết não) rồi qua đời khi mà ông mới được 40 tuổi. Nhiều tin đồn cho biết sau khi Đại Đế Quang Trung đánh thắng quân đội của Tôn Sĩ Nghị vào năm 1788, Hoàng Đế Càn Long nhận ra ngay Vua Quang Trung là một thiên tài về quân sự, và, không bao lâu sau, Vua Quang Trung sẽ là mối họa lớn cho Triều Đình Nhà Thanh. Do đó, Hoàng Đế Càn Long giả vờ ông ấy rất ái mộ Vua Quang Trung đến độ ông ấy vào năm sau, năm 1789, chính thức gởi sắc phong công nhận Vua Quang Trung là "An Nam Quốc Vương." Và, để đánh dấu biến cố đặc biệt này, Hoàng Đế Càn Long trao gởi một áo bào lộng lẫy và mắc tiền như một "tặng vật" cho Vua Quang Trung. Vua Quang Trung không biết áo bào đã có nhuộm một loại thuốc độc đặc biệt thấm sâu trong các sợi chỉ của áo bào; vì thế, khi ông mặc vào, kết quả là chất độc từ từ thấm vào các tế bào của ông, và vài năm sau, chất độc phản ứng gây nên một tai biến bất ngờ cướp lấy đi mạng sống của ông.

Đoạn Kết C'est Finito

Hung tin cái chết của Vua Quang Trung đến tai Sứ Thần Võ Văn Dũng ở Bắc Kinh. Ông sứ thần mệt mỏi và lặng lẽ sửa soạn khăn gói trở về quê hương. Ông không dám hé môi nói cho Triều Đình Nhà Thanh biết hai sự đòi hỏi của Vua Quang Trung. Sau cái chết của Vua Quang Trung, không còn ai có đủ khả năng để "hủy diệt" cái Cổng bị ám ảnh đó cũng như theo đuổi cao vọng đòi lại đất tổ ở rất xa phía bắc của cái Cổng này.

Cổng thành được xây để định biên giới Hoa-Việt, dẫu vậy, vẫn còn một vài vấn đề chưa được giải quyết hoàn toàn: Chỗ nào ở Ải Nam Quan là nơi đích xác định vị lằn ranh biên giới Trung Hoa và Việt Nam? Có phải là nó nằm ngay bức tường thành Ải Nam Quan hay là nó cách xa vài mét khỏi bức tường thành?

Tài liệu đầu tiên của Việt Nam nói về địa điểm đích xác biên giới Hoa-Việt được ghi chép vào năm 1785 bởi Sứ Thần Nguyễn Trọng Đăng, trưởng phái đoàn của Việt Nam đến Trung Hoa vào những năm trước cũng như vào năm 1784. Vào mùa xuân năm 1785, sau khi trở về từ Trung Quốc, ông có khắc trên một bia đá được dựng tại nhà trọ mang tên là Vọng Đức Đài (Đài hướng về ân đức của vua), sau này gọi là Ngưỡng Đức Đài. Trên bia đá này, ông ghi lại một số biến cố lịch sử về cái Cổng cũng như địa điểm đích xác biên giới Hoa-Việt. Trên tấm bia này, Sứ Thần Nguyễn Trọng Đăng cho biết Cổng Thành được xây do người Trung Hoa vào thời vua Gia Tĩnh Nhà Minh, và ông viết rất rõ ràng địa điểm đích xác biên giới Hoa-Việt chính là ngay Cổng Thành. Cái Cổng thuộc về Trung Hoa, nhưng, từ chân tường của cái Cổng về phía nam thì thuộc về phần đất của Việt Nam. Ông cũng ghi khắc Vọng Đức Đài được dựng nên do người Việt Nam, thoạt đầu, nó chỉ là một căn nhà lợp mái tranh, sau đó, được cải tiến, và vào mùa hạ năm 1784, đích thân Sứ Thần Nguyễn Trọng Đăng, lúc ấy cũng là quan Tổng Đốc của tỉnh này, đốc công kiến thiết đài này lại với vật dụng xây cất bằng gạch. Năm 1849, Vua Tự Đức (cai trị 1847-1883) sai Sứ Thần Nguyễn Văn Siêu làm trưởng phái đoàn sang Bắc Kinh. Sứ Thần Nguyễn Văn Siêu đọc được tấm bia này, ông cảm động trước những lời được ghi chép trên tấm bia, vì thế, ông mới ghi chép nó lại và sau này vào năm 1865 ông cho in trong tác phẩm Phương Đình Địa Dư Chí của ông. Tuy nhiên, tấm bia do Sứ Thần Nguyễn Trọng Đăng dựng lên đã bị hủy đi, và cho tới ngày hôm nay, không ai biết nó bị hủy hồi nào và bằng cách nào nữa.

Dưới triều đại Vua Tự Đức, một cuốn lịch sử về các địa danh Việt Nam đã được chính thức hoàn thành bởi các sử gia của nhà vua vào năm 1882. Cuốn sử đó được gọi là Đại Nam Thống Nhất Chí. Trong cuốn sử này, các sử gia cho biết Ải Nam Quan cách khoảng chừng 31 cây số về phía bắc của thị xã Lạng Sơn. Cái cổng có hai phần: Phía bắc của cái cổng được xây dựng bởi người Trung Hoa, và phía nam của cái cổng được xây dựng bởi người Việt Nam. Phần xây cất ở phía bắc gồm một cái cổng và một bức tường 119 trượng (khoảng 500 mét) xây chấn ngang cái dốc của ngọn núi gồ ghề. Cổng và tường thành được xây cất bằng gạch. Cổng và tường thành được xây bởi Nhà Minh vào thế kỷ thứ 16, và nó đã được sửa chữa nhiều lần do Nhà Thanh. Cái Cổng chỉ được mở ra cho các phái đoàn ngoại giao của hai nước. Phần xây cất ở phía nam được xây dựng bởi Việt Nam, là một nhà trọ mang tên là Ngưỡng Đức Đài. Nhà trọ khoảng chừng 20 mét cách xa chân tường Ải Nam Quan. Nhà trọ được dùng để cho phái đoàn Việt Nam dừng chân trước khi họ đi qua Trung Hoa và sau khi họ trở về từ Trung Hoa. Qua sự miêu tả này, rõ ràng biên giới Việt Nam lúc bấy giờ là ở ngay chân tường của Ải Nam Quan.

Một tài liệu bán chính thức khác để góp phần cho kết luận rằng vào thế kỷ thứ 19, biên giới Hoa-Việt ở ngay chân tường Ải Nam Quan. Văn hào Nguyễn Du (1765-1820), một thi sĩ nổi tiếng của người Việt Nam, tác gỉa của tập thơ Truyện Kiều mà cả thế giới đều biết đến, vào năm 1809, đã được vua Gia Long sai làm Sứ Thần trưởng phái đoàn sang Trung Quốc. Ông trở về Việt Nam lại vào năm 1814. Trên chuyến đi từ Việt Nam đến Trung Hoa và từ Trung Hoa trở về Việt Nam, ông đã đi ngang qua Ải Nam Quan. Ông và toàn thể sứ đoàn đã trú ngụ tại Ngưỡng Đức Đài khi đi Trung Quốc cũng như khi từ Trung Quốc trở về lại Việt Nam. Đây là lần đầu tiên trong đời ông nhìn thấy cái Ải, ông ngạc nhiên trước cảnh hùng vĩ và đẹp của nó làm cho ông có cảm hứng viết thành một bài thơ với tựa đề là Ải Nam Quan mà ông mô tả như sau:

Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,
Tam bách niên lai trực đáo câm (kim),
Lưỡng Quốc bình phân cô lũy diện,
Nhất tâm hùng trấn vạn sơn tâm.

Sử gia Trần Gia Phụng dịch nghĩa như sau:

Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,
Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ,
Hai nước (Việt-Hoa) chia đều từ mặt lũy lẻ loi,
Một cửa ải oai hùng trấn đóng giữa lòng muôn núi.

Theo lời mô tả của thi hào Nguyễn Du thì rõ ràng bức tường thành của Ải Nam Quan chính là biên giới Hoa-Việt.

Những lời ghi khắc trên bia đá của Sứ Thần Nguyễn Trọng Đăng vào năm 1785, những lời chép lại của các sử gia Triều Nguyễn vào năm 1882, và những lời mô tả của thi sĩ Nguyễn Du vào năm 1809 ăn khít với những chi tiết trong tấm hình được chụp bởi nhiếp ảnh gia Heliog Dujardin vào năm 1903, in trong cuốn sách nhan đề L'Indochine (Đông Dương), tác giả Louis Salaun, xuất bản bởi nhà in Quốc Gia, Paris. Trong tấm hình này, chúng ta có thể dễ dàng nhìn ra căn nhà trọ mang tên là Ngưỡng Đức Đài ở cách xa bức tường thành Ải Nam Quan khoảng chừng 20 mét. (Xin xem hình ở trang 22 phần tiếng Anh)

Trong những thỏa ước bằng khẩu hiệu của Ủy Ban Hoa-Pháp Cắm Cột Mốc Biên Giới Hoa-Việt Thuộc Chi Nhánh Tỉnh Quảng Tây, được viết xuống 5 trang giấy, ký và đóng ấn trên từng trang bởi đại diện của Pháp và của Trung Hoa vào ngày 21/8/1891 như một phần bổ túc cho Hiệp Ước Patenôtre ngày 6/9/1885, có một đoạn như sau: "De Nam Quan à Binh Nhi, 1 ère borne: sur le chemin de Nam Quan à Dong Dang (à 100m au sud de la porte)," xin tạm dịch, "Từ Nam Quan đến Bình Nhi, cột mốc đầu tiên: Trên đường từ Nam Quan tới Đồng Đăng (ngay 100 mét ở phía nam của cái cổng)." Từ nơi tài liệu chính thức này, chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa đó là cột mốc 0 Km ở Việt Nam đã được dựng lên cách xa bức tường thành của Ải Nam Quan 100 mét phía nam trên đường đi về thị trấn Đồng Đăng.

Những bản đồ được ấn hành vào năm 1945 do Viện Địa Học Quốc Gia của Pháp cho thấy Nam Quan ở trong Việt Nam hay ở ngay chính biên giới của Việt Nam. Chúng ta không nên cắt nghĩa Nam Quan ở đây có nghĩa là cái Cổng mà thôi, mà nên hiểu rằng nó ám chỉ cả một khu vực nơi đây. (Xin coi bản đồ trang 23 và 24 ở phần tiếng Anh.)

Những bản đồ khít hợp với những Thỏa Ước của người Pháp và Trung Hoa vào thế kỷ thứ 19, đó là, biên giới Việt Nam ở ngay chính chân tường của Ải Nam Quan hoặc không cách xa Ải Nam Quan bao nhiêu cả.

Trong cuộc chiến 20 năm với Việt Nam Cộng Hòa (tức Miền Nam Tự Do, Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam (tức Cộng Sản Bắc Việt), đã nhận một khối lượng giúp đỡ khổng lồ của CHNDTH. Khi ấy, quan hệ giữa hai Đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc lên tới cao độ. Mao Trạch Đông quá vui vẻ với quan hệ này đến độ đã đề nghị thay đổi Ải Nam Quan thành Mục Nam Quan. Hồ Chí Minh đề nghị thay đổi lại là Hữu Nghị Quan. Tuy nhiên, quan hệ giữa hai đảng không được bền vững lâu, vì, vào tháng 2 năm 1979, cuộc chiến Hoa-Việt bùng nỗ. Sau khi rút quân vào tháng 3 năm 1979, CHNDTQ vẫn đóng giữ và kiểm soát toàn thể khu vực Ải Nam.

Ông Lê Công Phụng, Thứ Trưởng Ngoại Giao của CHXHCNVN, trong bài trả lời phỏng vấn của phóng viên VASC Orient trong chiều ngày 28/1/2002, xác nhận rằng theo Hiệp Ước Biên Giới Hoa-Việt 1999, lãnh thổ của Trung Quốc ở cột cây số 0 Km, và theo ông, cột mốc này ở "200 mét phía nam của Ải Nam Quan." Nhiều người nghi ngờ cột mốc ở Ải Nam Quan đã được dời sâu vào lãnh địa của Việt Nam trong cuộc chiến Hoa-Việt năm 1979. Vì thế, lời xác nhận của ông Lê Công Phụng là cột mốc 0 Km nằm "200 mét ở phía nam Ải Nam Quan" đã cho thấy rõ đó là CHXHCNVN đã nhường từ 50 mét cho đến 200 mét phần đất biên giới ở Ải Nam Quan cho CHNDTQ.

Không cần biết sự nhượng đất cho CHNDTQ là 100 mét hay 5 kilômét ở biên giới Hoa-Việt, nhất là vùng đất linh thiêng Ải Nam, đó là một sự mất mát lớn lao đối với người Việt Nam, là một cái tát tai vào sự tự trọng và tự hào của người Việt, là một sự mất mát giá trị lịch sự và văn chương mà đối với người Việt Nam rất là trân quý vô vàn. Đau hơn nữa, những người dân ở vùng này, trước đây là "người Việt" phải đổ máu ra chống quân Trung Hoa bảo vệ giang sơn, thì tự dưng, trong một cái nháy mắt, họ lại phải làm "con dân" của kẻ cựu thù Trung Hoa mà họ không thể làm gì được hơn!

Lời Kết:

Năm 1867, Nhà Nguyễn không đánh lại người Pháp vì người Pháp có súng đạn tối tân nên vua Tự Đức sai hai ông Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp ký hiệp ước với người Pháp nhượng 3 tỉnh Nam Kỳ cho thực dân Pháp. Sau biến cố này, Vua Tự Đức đã làm một bài thơ, vừa trách mình, trách các trọng thần, và cũng vừa trách cả toàn dân đã nhu nhược để cho ngoại bang cướp đất. Bài thơ của vua Tự Đức được đăng trong Tự Đức Ngự Chế Thi Tập. Bài thơ ấy như sau:

Khí dân Triều trữ cữu
Mãi Quốc thế gian bình,
Sử ngã chung thân điếm,
Hà Nhan nhập miếu đình.

Có người dịch câu thơ ấy như sau:

Tội lũ bay: bán nước,
Tội triều đình: bỏ dân,
Khiến đời ta mang nhục.
Mặt nào gặp tiền nhân?

Vua Tự Đức vì không đủ vũ khí tối tân đánh lại người Pháp, đã phải cắt một phần đất của tổ tiên cho người Pháp, lương tâm cắn rứt bồi hồi, ông ngày đêm lo âu, trăn trở, đấm ngực ăn năn, tìm cách làm sao phục hồi lại những phần đất đã mất. Tuy ông không làm được, nhưng, ông cũng đã có ý và cố gắng hết mình. Không biết ĐCSVN nay nhượng những phần đất linh thiêng và chiến lược ở biên giới Hoa Việt, lương tâm của những người CSVN có bị áy náy không, có phải trăn trở đấm ngực ăn năn như vua Tự Đức hay không? Nếu có, hãy trả lại quyền tự quyết cho dân tộc Việt Nam. Nếu ĐCSVN không chịu ăn năn và trả lại quyền tự quyết cho dân tộc, thì, cũng giống như thời nhà Nguyễn, các cụ nhà ta đã đứng lên làm cách mạng đấu tranh giành Độc Lập cho nước nhà, thế hệ Việt Nam ngày nay cũng sẽ làm giống y như vậy.

Còn người dân và sĩ phu Việt Nam thì sao, đứng trước sự ngoan cố và đàn áp của ĐCSVN, không lẽ chúng ta không còn hào khí anh dũng để tràn xuống đường đòi lại đất tổ tiên, nhất là vùng Ải Nam linh thiêng trong hàng bao nghìn năm lịch sử? Hãy nhìn dân Kyrgystan (diện tích 198,500 km2) theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (Radio Free Asia = RFA) loan tải vào ngày 18/5/2002, khi nghe tin nhà cầm quyền của họ cắt nhượng cho Trung Cộng khoảng 120 ngàn hectares núi đồi hoang vắng không người ở ngay biên giới, lập tức, đám đông hơn vạn người xuống đường ở thủ đô Biskek đòi Tổng Thống Askar Akayev phải trả lời cho họ một cách minh bạch về chuyện này, kẻo không, chế độ của Tổng Thống Askar Akayev phải ra đi để cho những người xứng đáng hơn lên cầm quyền bảo vệ giang sơn của tổ tiên, dầu giang sơn đó bây giờ là "nơi khỉ ho cò gáy" hoang vu không làm gì được. Tổng Thống Askar Akayev cho công an trấn áp dân chúng một cách dã man, nhưng càng trấn áp, dân chúng càng hăng hái hơn, càng quyết tâm hơn. Một vùng đất hoang vu không người ở mà người dân Kyrgystan, với dân số có 5 triệu, mà còn anh dũng tranh đấu, huống chi chúng ta, một vùng đất linh thiêng cả bao ngàn năm máu xương đã đổ ra, 85 triệu dân trong nước và 3 triệu dân ở hải ngoại mà lại làm thinh? Tôi tin rằng chắc chắn dân Việt sẽ không làm thinh, vì, lời của nhà cách mạng anh hùng Nguyễn Trải còn vang vọng lại trong tai của mỗi người Việt Nam: "nước Việt ta, dù thăng trầm có lúc khác nhau, nhưng hào kiệt thời nào cũng có./."

Phần trên là trích từ các chương 13&14 của sách "Những Biến Cố Mất Lãnh Thổ-Lãnh Hải của Việt Nam từ 939-2002". Sách hiện đang được bày bán tại các nhà sách báo hải ngoại. Ở xa có thể đặt mua qua tác giả tại :

Trinh Quoc Thien, Esq.
P.O. Box 323
Annandale, VA 22003
Giá 22USD/cuốn (bao cước phí và thuế).

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)