vietnam, việt nam, cờ việt nam

Hồ-Sơ Chủ-Quyền  

Chiến lược bảo vệ tổ quốc chống rợ hán xâm lăng

Chính trị được xây dựng trên tương quan lực lượng. Những tư tưởng không mùi vị chiến đấu, sợ chiến tranh, lẩn tránh ánh sáng của lưỡi lê đều không phải là những tư tưởng có khả năng điều khiển xã hội
PROUDHON                                                         

LỊCH SỬ  CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN TRUNG HOA ĐỐI VỚI VIỆT NAM.

Kể từ triều đại quan trọng đầu tiên được Bắc Kinh xác nhận là NHÀ THƯƠNG từ 1766 đến 1027 trước TL. Trong thời đại nầy, chế độ phong kiến được củng cố. Trung Hoa bị phân tán ra thành hơn 70 nước nhỏ. Nhà CHU xưng vương, các nước lớn được phong tước bá, các nước nhỏ được phong hầu. Triều đại nhà Chu được chia làm hai thời kỳ: TÂY CHU từ 1122 đến 771 trước TL. ĐÔNG CHU chia làm hai giai đoạn XUÂN THU & CHIẾN QUỐC.

Thời Chiến Quốc là thời kỳ nảy sinh những nhà tư tưởng lớn như Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử...đã góp phần tạo dựng nền văn minh cổ Trung Hoa. Sau thời kỳ Chiến Quốc, TẦN THỦY HOÀNG lần đầu tiên thống nhất Trung Hoa.

Nhìn về phương NAM, AN DƯƠNG VƯƠNG khai sinh ra nước ÂU LẠC, nền móng của nước VIỆT NAM sau nầy. Vua lên ngôi hoàng đế, ra lệnh cho ĐỒ THƯ đem quân xâm chiếm đất đai của giống dân BÁCH VIỆT ở Quảng Đông và Quảng Tây. Vì cầu an, An Dương Vương xin thần phục nhà Tần. Tần Thủy Hoàng trị vì khoảng 40 năm thì chết. Trung Hoa lại lâm vào cảnh nội chiến Hán Sở tranh hùng. Bốn năm sau, Lưu Bang diệt được Hạng Võ, lập nên nhà Hán. Lúc đó, Triệu Đà đã chiếm được Âu Lạc và đổi tên nước là NAM VIỆT, vẫn thần phục nhà Hán. Nhà Triệu làm vua được một thế kỷ. Đến năm 111 trước TL, Hán Vũ Đế sai Lộ Bác Đức đem quân xâm lăng Việt Nam, quân nhà Triệu thua trận và Việt Nam bị Trung Hoa đô hộ gần một ngàn năm. Dưới ách thống trị của Trung Hoa, hầu hết những tên Thái thú Tàu đối với dân Việt đều tàn ác dã man. Ngoại trừ một số ít như Tích Quang và Nhâm Diên dùng sách lược “tầm ăn dâu” để đồng hóa Việt Tộc, vô cùng thâm độc.

Trong một ngàn năm Bắc thuộc, Trung Hoa đã trải qua nhiều triều đại như: Hán, Tấn, Lương, Trần, Tùy, Đường...Thời đại nào, dân tộc Việt Nam cũng nổi lên chống ngoại xâm. Đầu tiên là hai bà TRƯNG, bà TRIỆU, LÝ NAM ĐẾ, TRIỆU QUANG PHỤC, MAI HẮC ĐẾ, PHÙNG HƯNG...nhưng tất cả đều thất bại, mãi cho đến năm 939, NGÔ QUYỀN đại thắng quân Nam Hán, mở đầu kỷ nguyên độc lập và tư chủ cho dân tộc Việt Nam.

Sau khi Việt Nam dành được độc lập hơn 50 năm. Lúc bấy giờ bên Trung Hoa, nhà Tống đã kế nghiệp nhà Đường, lại đem quân sang xâm lăng Việt Nam. Nhưng, quân Tống bị THẬP ĐẠO TƯỚNG QUÂN LÊ HOÀN đánh cho tan tác. Ít năm sau, Tể tướng Vương An Thạch lại xua quân đánh chiếm Việt Nam để rửa nhục. Nhưng, vua nhà LÝ đã cử tướng tài ba thao lược LÝ THƯỜNG KIỆT đem quân tấn công, đánh phủ đầu quân Tàu xâm lược trước và chiếm được Châu Khâm, Châu Liêm trước khi rút quân về.

Triều đại nhà Tống kéo dài được 300 năm thì quân KIM từ quan ngoại kéo vào đánh chiếm bắc Trung Hoa. Triều đình nhà Tống rút về phía Nam lập ra nhà Nam Tống kéo dài 50 năm thì quân Mông Cổ vượt Vạn Lý Trường Thành kéo vào chiếm đóng toàn cõi Trung Nguyên. Lúc đó, THÀNH CÁT TƯ HÃN đã chinh phục được Cao Ly, cùng những tiểu quốc vùng Trung Á và đã hai lần kéo quân đánh phá các nước Âu Châu. Người Âu Châu khiếp sợ gọi họ rợ Hung Nô. Nhưng, khi Hốt Tất Liệt sai con là Thoát Hoan ba lần đem quân đánh Việt Nam, nhưng cả ba lần đều đại bại.

Năm 1368, Chu Nguyên Chương, một ông sư hồi tục, hưng binh khởi nghĩa, đánh đuổi được quân Mông Cổ lập ra nhà Minh. Năm 1606, nhà Minh lấy cớ Hồ Quý Ly thoán đoạt ngôi vua, đem quân sang đánh Việt Nam. Hồ Quý Ly bị giết. Nhưng, dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của LÊ LỢI, nổi lên đánh đuổi được quân Minh và lập ra nhà LÊ.

Năm 1644, triều đại nhà Minh suy tàn, Lý Tự Thành nổi lên làm loạn, chiếm được Bắc Kinh. Vua Sùng Trinh thắt cổ tự tử. Tướng phòng thủ biên giới phía Bắc là Ngô Tam Quế mở cửa Sơn Hải quan cho quân Mãn Châu vào dẹp Lý Tự Thành và cai trị Trung Hoa. Khác với quân Mông Cổ dùng bạo lực để cai trị, quân Mãn Châu dùng người Hoa, giữ nguyên hệ thống hành chánh, duy trì nền văn hóa, tôn trọng Nho học. Họ mang quân chinh phục thêm Ngoại Mông, Thanh Hải, Tây Tạng. Lãnh thổ Trung Hoa hợp với đất Mãn Châu càng trở nên rộng lớn hơn.

Nhà Thanh cũng như những triều đại khác, lại đem quân sang xâm lăng Việt Nam thì bị vua QUANG TRUNG NGUYỄN HUỆ đánh tan. Triều đại nhà Thanh với những minh quân như Khang Hi, Càn Long đã đem lại sự ổn định và thịnh vượng cho Trung Hoa một thời gian dài.

Sự thịnh vượng đó làm tăng thêm tánh tự cao, tự đại và kiêu hãnh của chủ nghĩa Đại Hán, cái rốn của vũ trụ. Vì thế, khi thực dân Châu Âu tràn vào áp chế Trung Hoa, họ không thích ứng với sự đổi thay kịp thời như nước Nhật dưới thời vua Minh Trị Thiên Hoàng. Những cố gắng canh tân của vua Quang Tự chỉ kéo dài được 100 ngày thì Từ Hi Thái Hậu quản thúc, khiến Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi phải trốn sang Nhật. Triều đại nhà Thanh chấm dứt năm 1912 khi vua Phổ Nghi thoái vị, nhường chức cho Viên Thế Khải. Trong suốt thời gian dài đó, Trung Hoa trong chiến tranh chống ngoại xâm rồi nội chiến, cuối cùng phe Cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo đuổi quân Tưởng ra Đài Loan, nhuộm đỏ toàn cõi Hoa Lục.

Nhìn lại chiều dài lịch sử hơn 3.000 năm của các triều đại phong kiến Trung Hoa đối với dân tộc Việt Nam. Lịch sử Việt Nam là lịch sử đấu tranh kiên cường, bất khuất đầy gian khổ nhưng hào hùng và vô cùng gian khổ. Trên thế giới từ cổ chí kim, hiếm có dân tộc nào như dân tộc Việt Nam bị Trung Hoa đô hộ cả ngàn năm mà kẻ thù không không Hán hóa được Việt tộc và cuối cùng dưới sự lãnh đạo của vị anh hùng dân tộc NGÔ QUYỀN, dân Việt đã vùng lên đánh bại quân xâm lược phương Bắc dành lại chủ quyền và nền độc lập - tự chủ. Nhờ vào những yếu tố nào mà mà tổ tiên chúng ta đã duy trì được bản sắc dân tộc, chống lại lại sự đồng hóa của kẻ thù phương Bắc?

Các triều đại phong kiến Trung Hoa lúc nào cũng vượt trội các nước láng giềng như Nhật Bản, Đại Hàn, Mông Cổ, Tây Tạng, Việt Nam...về lãnh thổ, dân số, văn hóa, khoa học kỷ thuật vào thời kỳ đó. Vì vậy, người Trung Hoa tự kiêu, tự mãn và tự đại tự phong cho mình như trung tâm của vũ trụ, gọi tên nước là Trung Hoa, triều đình là thiên triều, hoàng đế là thiên tử thừa mệnh trời để cai trị nước Tàu và chinh phục các nước lâng bang phải thần phục Trung Hoa và chủ nghĩa “Đại Hán” phát sinh từ đó.  

Tuy vậy, các triều đại phong kiến Trung Hoa vẫn lo sợ các nước nhỏ đánh phá hoặc xâm lăng. Từ hơn 2 ngàn năm trước, mối sợ hãi giống “Rợ Hồ” khiến Tần Thủy Hoàng phải cho xây Vạn Lý Trường Thành dài hơn 3.000 km để bảo vệ vùng biên giới. Nhưng, trường thành nầy cũng không ngăn chận nổi quân Mông Cổ, quân Kim rồi quân Mãn Thanh đã tràn vào Trung nguyên, cai trị Trung Hoa, tổng cộng khoảng 500 năm. Riêng nhà Mãn Thanh mà người Trung Hoa đã miệt thị, gọi là “Rợ” với dân số chỉ có 5 triệu người đã thống trị Trung Hoa 268 năm  từ  năm 1644 - 1912 bằng bàn tay sắt máu. 

Ngay vào thời nhà Tống bên Trung Hoa, phía Bắc bị quân Liêu uy hiếp, bắt cắt đất, nộp vàng lụa, phía Tây bị Tây Hạ tấn công. Còn phía Nam, vua LÝ THÁI TỔ đã cử danh tướng, anh hùng dân tộc LÝ THƯỜNG KIỆT, TÔN ĐẢN và công chúa NGÔ CẨM THI cầm quân sang đánh Châu Khâm, Châu Ung và Châu Liêm đập tan âm mưu xâm lăng nước Việt ta từ trong trứng nước. Và một trong những trận đánh lừng danh trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt Tộc đó trận đánh tan quân nhà Tống trên sông Như Nguyệt vào năm 1076.

Người Trung Hoa lo sợ lịch sử tái diễn, bị các nước nhỏ như Mông Cổ, Mãn Thanh thống trị. Họ chỉ cảm thấy an toàn là phải đi xâm chiếm, bắt buộc các nước nhỏ phải thần phục và sát nhập vào lãnh thổ Trung Hoa, chủ nghĩa bành trướng, bá quyền thành hình từ tâm trạng bất an đó. Từ Trung Nguyên, nước Tàu đã sát nhập Thanh Hải, Tân Cương, Nội Mông, Liêu Đông, Hắc Long Giang đã tăng gấp ba lần trong suốt 10 thế kỷ qua. Tham vọng bành trướng của các triều đại phong kiến Trung Hoa chỉ bị chận đứng tại phía Nam vì sự chống trả quyết liệt của VIỆT TỘC từ đời nầy sang đời khác để duy trì nền độc lập tự chủ bằng máu.

NHỮNG BÀI HỌC QUAN HỆ GIỮA TRUNG HOA VÀ VIỆT NAM:

Như đã kể trên, Trung Hoa tuy là một quốc gia rộng lớn, dân số đông đảo nhất thế giới với một nền văn minh cổ rực rở. Nhưng, không tránh những thăng trầm của lịch sử, có thời kỳ hưng thịnh và suy tàn như dòng thủy lên rồi rút xuống, không có triều đại vua chúa nào tồn tại vĩnh viễn, tất cả phải thay đổi. Trung Hoa ví như một người khổng lồ chân đất sét, to con lớn xác nhưng không mạnh, bằng chứng là Trung Hoa đã bị Mông Cổ và Mãn Thanh là những nước nhỏ thống trị hơn 5 thế kỷ. Người Trung Hoa không phải là một dân tộc thuần chủng như ta tưởng. Thực chất, người Trung Hoa đã lai giống với những dân tộc cai trị họ, đó dòng máu “RỢ” mà trước đó, họ đã miệt thị là “RỢ HỒ”, “RỢ HUNG NÔ”, “RỢ KIM” hay “RỢ MÔNG CỔ”... nên bản chất người Trung Hoa ngày nay rất dã man, tàn bạo đối với nước bị họ thống trị, bởi vì trong huyết thống của họ đã pha trộn dòng máu “RỢ” từ thời trung cổ.

Trong lịch sử thế giới, hiếm có dân tộc nào có tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm như dân tộc Việt Nam ta. Nhờ vào yếu tố nào mà Dân tộc Việt Nam vẫn duy trì được nòi giống Tiên Rồng, mặc dù đã chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Hoa từ văn hóa, chánh trị, kinh tế sau 10 thế kỷ bị giặc Tàu đô hộ? Xin thưa, đó là tổ tiên ta biết giữ gìn và phát huy nền “VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỔ TRUYỀN DÂN TỘC”, tổ tiên chúng ta dùng nó như một cái khiên bảo vệ nòi giống; vì vậy, bất cứ thời đại nào cũng có anh hùng hào kiệt xuất hiện, quét sạch quân xâm lược phương Bắc ra khỏi bờ cỏi. Bằng chứng là vào thế kỷ 15, nhà Minh đem quân sang xâm lăng Việt Nam đã thi hành chánh sách thâm độc là tịch thu hết sách vở, tài liệu, bia đá, nhân tài của nước Đại Việt về Trung Hoa, có nghĩa là phải tiêu diệt nền “Văn Hóa Truyền Hóa Cổ Truyền” của Việt Tộc mới đồng hóa họ được.

Lịch sử Việt tộc là lịch sử đấu tranh trường kỳ gian khổ nhưng đầy hào hùng và dũng cảm. Cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước chống kẻ thù phương Bắc để bảo vệ chủ quyền và nền độc lập dân tộc. Những tinh hoa Văn Hóa truyền thống cổ truyền và giá trị luân lý đạo đức. Tất cả được dựng thành truyện truyền bá trong nhân gian. Đó là loại văn hóa bất thành văn, được truyền khẩu từ đời sang đời khác để gìn giữ khí phách hào hùng của dân tộc. Kho tàng VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỔ TRUYỀN của dân tộc rất phong phú và đa dạng. Bên cạnh thần thoại Rồng Tiên, xin đơn cử 3 câu chuyện điển hình, được phổ biến nhất.

PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG: Tiền nhân đã dựng một chân dung NGƯỜI HÙNG DÂN TỘC thành một thần tượng chói sáng, rực rở trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm. Từ một cậu bé làng Phù Đổng có tầm vóc nhỏ bé trơ trơ, bỗng mang hình tượng người khổng lồ kỳ vỹ khi tổ quốc lâm nguy bị giặc Ân xâm phạm bờ cõi. Phải chăng tổ tiên ta muốn xây dựng hình tượng Phù Đổng Thiên Vương mang kích nhỏ bé như đất nước Việt ta vào thời đại đó, có thể đánh bại kẻ thù phương Bắc khổng lồ.

THẦN KIM QUI: Thần thoại nầy dựa vào sự thật của lịch sử dưới triều An Dương Vương khai sinh ra nước Âu Lạc. Đó một thông điệp nghiêm khắc của tiền nhân nhắc nhở dân tộc ta phải luôn luôn ĐỀ CAO CẢNH GIÁC kẻ nội thù, gián điệp, tay sai cho các thế lực thù địch. LOA THÀNH sụp đổ vỡ chỉ vì thiếu cảnh giác.

SƠN TINH - THỦY TINH: Sơn Tinh tượng trưng cho sức mạnh của quần chúng chống lại Thủy Tinh, kẻ tượng trưng cho sức mạnh của lũ lụt để dân tộc sinh tồn. Đó là thông điệp báo động khẩn cấp của tiền nhân...

ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO: Cũng giống như nước Nhật, nhờ ảnh hưởng của Nho giáo về lòng trung quân, ái quốc làm tăng thêm dân tộc tính của người Việt Nam là lòng yêu nước vô bờ bến và nung nấu tinh thần độc lập dân tộc càng thêm mãnh liệt. Vì vậy, đối với Trung Hoa, Việt Nam là một khúc xương khó nuốt, ngăn chận sự bành trướng Hán tộc xuống vùng Đông Nam Á. Và sự quan hệ lâu đời giữa Việt Nam và Trung Hoa tồn tại cho đến thế kỷ thứ 19 vì bị các đế quốc Âu Châu dòm ngó. 

LỊCH SỬ TRUNG HOA CẬN ĐẠI ĐỐI VỚI VIỆT NAM:

Năm 1840, lịch sử Trung Hoa nhìn nhận là mốc dánh dấu điểm bắt đầu Trung Hoa chuyển sang  cận đại và đã trải qua 3 cuộc chiến tranh lớn trong khoảng một thế kỷ, bị liệt cường Âu Châu và Nhật Bản xâu xé thảm hại:

-Trong lúc Trung Hoa đang có chiến tranh, bận đối đầu với liên quân Anh, Pháp, Đức đánh vào Bắc Kinh hồi đầu thập kỷ 1860, thì tại Việt Nam, khi quân đội viễn chinh Pháp tiến đánh Bắc Hà vào năm 1882. Vua Dực Tông vẫn thiển cận, sai người sang cầu cứu nhà Thanh. Tuy rằng trong lúc đó nước Trung Hoa bát quốc liên quân đánh cho tơi tả, nhưng triều đình nhà Thanh vẫn không bỏ ý định xâm chiếm Việt Nam. Tổng Đốc Lưỡng Quảng Trương Thụ Thanh dâng mật sớ về triều nói rằng: “Nước An Nam và Trung Hoa tiếp giáp với nhau, mà thế lực nước Nam thật là suy hèn, không có thể tự chủ được nữa. Vậy ta nên mượn tiếng sang đánh giặc mà đóng giữ các tỉnh Thượng du”. Triều đình nhà Thanh nghe lời, sai đem quân sang giúp Việt Nam đánh nhau với Pháp. Nhưng, chỉ được 2 năm thì hai bên ký hòa ước, trong đó Trung Hoa chấp nhận rút quân và công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Hòa ước nầy do Fournier và Lý Hồng Chương ký, phân định biên giới hai nước.

- Chiến tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản vào năm Giáp Ngọ năm 1894.

- Chiến tranh Trung Quốc và Nga ở vùng Đông Bắc vào năm 1906.

Người Âu Châu đã miệt thị, khinh khi dân tộc Trung Hoa bằng những lời lẽ trịch thượng, chà đạp nhân phẩm Hán tộc như:”TRÊN THẾ GIỚI NƠI NÀO CÓ CHUỘT LÀ CÓ NGƯỜI TÀU”. Vì sống ở những nơi thiếu điều kiện vệ sinh tối thiểu, nên họ mắc một chứng bệnh ngoài da mà người ta gọi là “GHẺ TÀU”. Trong thời gian bị Nhật Bản đô hộ, người Tàu được coi như ngang hàng với...chó. Tại các công viên dành cho các gia đình quan chức người Nhật đều có treo bảng cấm: “NO DOGS AND CHINESE ALLOWED” họ mướn người Ấn Độ canh gác. Đó là một thực tế, không thể phủ nhận.

Một biến cố đầy bi thảm thứ hai là cuộc “THẢM SÁT NAM KINH” (Nanking Massacre) hay còn gọi là “CUỘC HIẾP DÂM Ở NAKING” (The rape of Nanking). Chỉ trong khoảng thời gian 6 tuần lễ, kể từ ngày 9 tháng 12 năm 1937, sau khi quân đội Thiên Hoàng đánh chiếm được Nam Kinh, có trên 300.000 người Tàu bị giết tập thể. Họ bị trói thúc ké và biến thành những hình nhân sống để quân đội Nhật thực tập cách đâm lưỡi lê và có khoảng từ 20 đến 80.000 phụ nữ Tàu bị họ hiếp dâm tập thể. Ngày nay, nó đã trở thành “HỘI CHỨNG NAM KINH” vẫn còn là một nỗi ám ảnh kinh hoàng của bọn Trung Nam Hải.

Tôi xin trưng dẫn những bằng chứng cụ thể:

Trước đây, Trung Cộng đã ký 4 thỏa ước về quyền khai thác những vùng Exclusive Economic Zone (vùng đặc quyền kinh tế): một với Nhật, một với Nam Hàn và hai với Việt Nam để khai thác tài nguyên trên biển cả như khoáng sản, dầu hỏa, hải sản...EEZ là vùng biển 200 hải lý là khoảng cách đo từ bờ ra. Theo tài liệu Japan Focus viết: “Ngư nghiệp và khả năng cung cấp có giới hạn của đại dương là địa bàn tạo ra những tiến bộ quan trọng trong việc cộng tác giữa những thế lực trong vùng, nhưng cũng tạo ra nhiều va chạm và khó khăn trong việc điều hành ngư nghiệp trong thời điểm việc đánh bắt cá giảm sút lớn lao.” Và những thỏa ước nầy gồm có ba vấn đề quan trọng:

•        Các nước tôn trọng quyền ngư nghiệp của những nước khác.

•        Đặt ra những nguyên tắc cho phép ngư thuyền của nước nầy vào EEZ của nước kia để đánh bắt hải sản. 

•        Tạo ra một quy chế quản lý cho nguồn hải sản chung của Thái Bình Dương.

Mỗi thỏa ước tạo ra một Joint Fishery Committee (Ủy ban hỗn hợp ngư nghiệp) có trách nhiệm:

•        Nghiên cứu tình trạng ngư nghiệp.

•        Tham khảo với nhau về ngư nghiệp, về số lượng hải sản mỗi nước được phép đánh bắt.

•        Khuyến cáo việc cho phép các ngư thuyền đánh bắt trong vùng EEZ của nước khác phải xin “license” và phải tuân theo luật biển của nước chủ nhà. Trong trường hợp ngư thuyền nước nào phạm luật, nước chủ vùng biển đó có thể bắt giữ ngư thuyền.

Tàu Nhật, Nam Hàn và Trung Cộng thường xuyên cho tàu hải quân tuần tiểu trên vùng EEZ của nước mình. Họ được quyền lên ngư thuyền ngoại quốc để kiểm soát giới hạn số hải sản được đánh bắt. Điều cần nói ở đây là tàu hải quân Trung Cộng thường tránh né, chưa bao giờ dám va chạm, đừng nói đến việc dám nổ súng vào những ngư thuyền của Nhật và Nam Hàn vì “Hội chứng NAM KINH” vẫn còn là một nỗi ám ảnh khủng khiếp đối với Trung Cộng.

Nhưng, đối với các nước nhược tiểu như Việt Nam hoặc Philippines thì các ngư dân thường bị các tàu tuần tiểu Trung Cộng hành sử như bọn cướp biển Somalia hung hăng, tàn bạo, dã man. Chuyện mới vừa xảy ra gần đây nhất là việc ngư dân Việt Nam tại vùng biển Quảng Ngãi vào tạm trú tại đảo Trụ Cẩu thuộc quần đảo Hoàng Sa vì trận bão số 9 vào cuối tháng 9/9/2009. Họ đã bị lính Trung Cộng đánh đập dã man, phá hoại tài sản và cướp đi tất cả hải sản của ngư dân Việt Nam đã đánh bắt được. Mặc dù trước đây, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của VNCH bị Trung Cộng cưỡng chiếm sau trận hải chiến Hoàng Sa xảy ra vào ngày 19/1/1974 với Hải quân VNCH. Đây là hậu quả vô cùng tai hại do Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Phạm Văn Đồng ký giao vùng biển bao la nầy, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng bởi công hàm đề ngày 14/9/1958.

Đánh giá hành động côn đồ, hung hăn, hiếu chiến cái gọi là QĐND Trung Cộng, nói theo ngôn từ của Dương Tử: THÂN DÊ MÀ LỐT CỌP, THẤY CỎ THÌ THÍCH, THẤY CHÓ SÓI THÌ RUN, QUÊN MẤT BỘ DA KHOÁC NGOÀI LÀ LỐT CỌP. Chủ nghĩa Đại Hán chỉ dùng để bắt nạn, hù dọa, ức hiếp kẻ yếu và sợ kẻ mạnh hơn mình, nó đã trở thành thứ chủ nghĩa: “TIỂU nà má HÁN”

THAM VỌNG BÀNH TRƯỚNG LÃNH THỔ CỦA MAO VÀ ĐẢNG CS TRUNG HOA:

Từ năm 1939, khi viết cuốn “CÁCH MẠNG TRUNG HOA VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG HOA”...Mao Trạch Đông vẫn coi Việt Nam như một chư hầu và đã viết: “Sau khi đánh bại Trung Hoa, các thế lực Đế quốc xâm chiếm những nước chư hầu: NHẬT chiếm Cao Ly, Đài Loan, Ryukyu, Rescadores và Port Arthur. ANH chiếm Miến Điện, Boutan, Hồng Kông. Pháp chiếm Việt Nam.” Năm 1953, Trung Cộng xua quân tấn công và sát nhập Tây Tạng vào lãnh thổ Trung Hoa. Năm sau, họ in bản đồ quốc gia, trong đó lãnh thổ Trung Hoa không những bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam Á. Nhưng, tham vọng bành trướng của Trung Cộng và những tên kế thừa Mao không dừng lại ở đó mà còn lấn sang biên giới Liên Xô và Ấn Độ để thỏa mãn lòng tự ái dân tộc sau 100 bị các cường quốc phương Tây xâu xé và sĩ nhục bởi thua trận CHIẾN TRANH NHA PHIẾN vào năm 1840 với Đế quốc ANH. Nhật Bản xem người Tàu ngang hàng với chó. Tại các công viên dành cho người Nhật đều có treo bảng cấm: “NO DOGS AND CHINESE ALLOWED”.

ĐỐI VỚI LIÊN XÔ:

Trung Cộng và Liên Xô có chung chiều dài biên giới khoảng 4.300 km. Họ đã có một cuộc chiến đẫm máu vào năm 1969 giữa hai đồng minh ruột thịt vì Trung Cộng đã xua quân chiếm vùng sông AMUR của Liên Xô, mà họ cho là thuộc chủ quyền của họ. Liên Xô phải vùng đến hỏa tiển để tiêu diệt quân Trung Cộng. Sau đó, hai người bạn tiêu biểu cho thành trì XHCN đã ký một hiệp định về biên giới năm 1977. Nhưng, Trung Cộng vẫn lén lút cho quân đội lấp đá và dồn bao cát bỏ xuống bờ sông Amur bên phía Trung Cộng để lấn ranh Liên Xô.

Khi Liên Xô xin gia nhập vào cơ quan Mậu Dịch Thế Giới (WTO), Trung Cộng chỉ đặt điều kiện duy nhất để hỗ trợ Liên Xô đó là cho phép người lao động Trung Cộng được vào Liên Xô miễn chiếu khán nhập cảnh. Một khi họ đã vào được Liên Xô, họ dùng mọi cách để ở lại hợp pháp. Ông Andrei Chernenko, Vụ Trưởng vụ Di Trú Liên Xô đã phát biểu rằng: người Tàu dùng mọi hình thức để hợp thức hóa sự hiện diện của họ, chẳng hạn như kết hôn với người bản xứ hoặc kinh doanh để tạo sản nghiệp lớn để dễ dàng trong việc lưu trú vì tài sản lớn của họ.

Mặc dù đã ký hiệp định với Liên Xô, nhưng những vị lãnh đạo của Trung Cộng như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình vẫn khẳng định rằng vùng đất VLADIVOSTOK và KHABAROVSK vẫn là của họ và trong trường học vẫn tiếp tục dạy học sinh rằng Liên Xô đã dùng bạo lực chiếm những vùng đất trên của họ. Hơn thế nữa, họ đưa ra bằng cớ về Nhân Chủng Học để chứng minh rằng những bộ lạc Trung Hoa có mặt ở đó rất lâu trước khi người Nga tới. Sự di dân của người Hoa qua đường biên giới vẫn là nỗi ám ảnh của chánh quyền Nga. Theo ước tính của các chuyên gia thì đến năm 2010 dân số Trung Hoa tại vùng Cận Đông của Nga sẽ lên đến 10 triệu người (hiện tại 3, 26 triệu) và kiểm soát từ 30 đến 40 % nền kinh tế của vùng nầy. Vì vậy, gần đây ông Viktor Ishayev, Toàn Quyền vùng Khabarovsk quyết định không cấp quyền công dân cho người Trung Hoa dù đã kết hôn với người Nga tại địa phương, mặc dù người ngoại quốc khác được hưởng quyền nầy. Người Hoa ở Viễn Đông thường bị cảnh sát chận xét giấy tờ và nếu không có hộ chiếu kể như toi. Wei Zeze 42 tuổi, đã buôn bán ở Khabarovsk 10 năm nay, cho biết: “Kể cả có đủ giấy tờ, họ cũng đòi phạt từ 500 đến 2.000 rúp (16 tới 65 Mỹ kim).

Kim ngạch xuất khẩu của Nga sang Trung Cộng đang tăng. Giá trị hàng xuất khẩu, chỉ riêng tại cửa khẩu Khabarovsk tăng từ 82,4 triệu USD năm 1997, đã lên tới 628 triệu Mỹ kim. Hàng xuất khẩu của Nga chủ yếu là gỗ, dầu và nguyên liệu khô, khiến nhiều người Nga lo ngại Trung Cộng đang cướp bốc nguồn tài nguyên của họ.

Một số người Nga cay cú khi nhìn sang bên kia sông thấy những thành phố của Trung Cộng phát triển với những tòa cao ốc nguy nga và họ cho rằng người Tàu bên kia biên biên giới có được là nhờ ăn cắp tài nguyên của người Nga.

Alexei Mortsevm, một cựu thủy thủ, nói: “Trước kia, người Trung Hoa bị coi là những lao động rẻ mạt và các ông chủ Nga cố thuê được càng nhiều càng tốt. Nhưng, giờ đây người Nga lại biến thành những kẻ đi làm thuê cho họ.”

Lyudmila, một giáo viên về hưu, bất mãn, nói: “Người Tàu xử sự như thể họ là chủ ở đây vậy. Vì cớ gì mà chúng tôi lại phải chào đón họ. Họ đang phất trên đầu chúng tôi.” Bà cụ 65 tuổi e rằng những ngày Khabarovsk được coi là một thành phố của Nga chỉ còn đếm trên đầu ngón tay.

Slava, từng có 20 năm thâm niên trong ngành Hải quân, nói rằng: “Đã đến lúc người Nga phải hành động! Cần phải tống cổ họ đi, bởi miền đất nầy là của những chàng Ivan. Nếu không, chẳng mấy chốc, chính chúng ta sẽ biến thành dân nhập cư.”

ĐỐI VỚI ẤN ĐỘ:

Với Ấn Độ, bắt đầu từ năm 1950 đã có những sự căng thẳng giữa hai quốc gia. Nhất là vào năm 1956 - 1957 khi Trung Cộng xây dựng trục giao thông quân sự  trên vùng đất đang tranh chấp AKSAI, phía tây Tân Cương. Ấn Độ lên án Trung Cộng xâm lăng vùng đất nầy của họ. Tiếp theo là cuộc đàm phán giữa hai bên kéo dài trong 3 năm không mang lại kết quả nào.

Tháng 10 năm 1962, Trung Cộng đưa 9 sư đoàn chiếm đóng dọc biên giới dài 3.225 km vùng biên giới Hy Mã Lạp Sơn và Trung Cộng. Hai nước đã nổ ra một cuộc đụng độ về quân sự tại vùng biên giới rất khốc liệt. Kết quả là Trung Cộng đã đẩy lui Ấn Độ sâu 50 km vào vùng đất Aksai mà Ấn Độ cho là thuộc chủ quyền của họ và Trung Cộng đơn phương ngưng chiến.

12 năm sau khi ngưng chiến, một cuộc họp song phương cao cấp về biên giới giữa hai quốc gia được tổ chức tại Tân Đề Ly vào tháng 2 /1994. mở đầu giai đoạn mới về bang giao giữa hai nước bắt đầu , tuy nhiên vấn đề biên giới giữa hai nước vẫn xảy ra nhiều mâu thuẩn gay gắt.

Báo Times of India số ra ngày 23/ 4/ 2009 với bản tin “CHINA HITS OUT AT INDIA’S DECISION ON NAVAL SYMPOSIUM” (Trung Cộng chỉ trích quyết định của Ấn Độ về Hội Nghị Hải Quân). Theo tờ báo Global Times nhận định: Ấn Độ nghi ngờ về sức tăng trưởng kinh tế của Trung Cộng, khi bàn về quyết định của chánh phủ Ấn không cho Trung Cộng tham dự hội nghị “Indian Ocean Naval Symposium” năm 2009 vì lo ngại Trung Cộng vươn ra vùng biển khu vực Ấn Độ Dương mà Ấn Độ xem như “ao nhà” của mình.

Báo India Express số ra ngày 15/ 5/ 2009 vạch rõ sự lo ngại nầy của Ấn “PORT IN CHINA’ S STRING OF PEARLS’ WORRIES INDIA” (Một hải cảng trong xâu chuổi ngọc của Trung Cộng làm Ấn Độ lo ngại). Đó là cảng GWADAR của Pakistan. Hải cảng nầy rất quan trọng trong chiến lược bảo vệ tuyến hàng hải chuyên chở năng lượng từ Trung Đông tới biển phía Nam Trung Cộng. Việc xây cảng Gwadar đã gây lo ngại, chẳng những cho Ấn Độ mà cho cả Hoa Kỳ vì cảng nầy là một viên ngọc quan trọng trong chuổi ngọc rải rác từ Bangladesh, Miến Điện tới biển phía Nam Trung Cộng thành hình một vòng đai thép, theo dõi các hoạt động hải quân Hoa Kỳ ở Vịnh Ba Tư và hải quân Ấn Độ ở biển Á Rập.

Phản ứng của Ấn Độ là đồng minh với Hoa Kỳ trong chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ. Cuộc tập trận hải quân Hoa kỳ và Ấn Độ mang tên MALABAR 09 được thành hình do sáng kiến của Ấn Độ, được tổ chức lần đầu gần bờ biển Đài Loan và Trung Cộng kéo dài từ 26/ 4/ 2009 đến 03/ 5/ 2009 ở ngoài khơi Okinawa.

Phó Đô Đốc John Bird, Tư Lệnh Hạm Đội 7 nói: “Chúng tôi mong đợi cơ hội này để hợp tác với những lực lượng chuyên nghiệp nhất của hải quân ẤN ĐỘ & NHẬT.”

Bình luận gia Rajat Pandit của Ấn cho rằng: “Ấn Độ và các đồng minh đang có chiến lược xây dựng một trục hợp tác an ninh (security cooperation axis) ở châu Á Thái Bình Dương nhằm ngăn chận các “nguy cơ an ninh”. Rajat Pandit muốn ám chỉ “nguy cơ an ninh” đó là chánh sách di dân và lấn chiếm biên giới bọn rợ “Hán Cộng”.

Còn chủ tịch Hồ Cẩm Đào dịu vọng, nói: “Sự phát triển của hải quân Trung Quốc là vì “Đại dương hài hòa” không hề có mục tiêu bá quyền.” Vì hắn ta cũng thừa biết rằng, nếu Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật trở thành đồng minh chiến lược tại biển Đông, một mình Trung Cộng mà chọi với  ba thì “không chột cũng què”.

Điều đáng chú ý hơn nữa, sau chuyến thuyết giảng về “Giác ngộ” tại Nhật, Đức Đạt Lại Lạt Ma sẽ trở về Ấn Độ vào tháng 11 năm nay và sẽ đến hành hương ở bang ARUNACHAL PRADESH mà Trung Cộng coi là lãnh thổ cũa họ. Chuyến vận động cử tri của Thủ tướng Ấn MANMOHAN cũng đã đến tiểu bang nầy, đã bị bọn CS Bắc Kinh phản đối kịch liệt. Thật sự, nó đã thách thức chủ nghĩa bành trướng của rợ “Hán Cộng” nên chúng phải sủa, cũng chỉ để hù dọa mà thôi. Ngày nay, Ấn Độ cũng có mấy quả bom nguyên tử đấy. Mấy tên lãnh đạo bọn CS Bắc Kinh có uống mật gấu cũng không dám hó hé. Đánh võ mồm nghề của bọn rợ “Hán Cộng” chỉ hù dọa được những tên lãnh đạo CS Hà Nội độc tài, vô dụng, hèn nhát và ngu dốt không đủ khả năng lãnh đạo quốc gia nên phải BÁN NƯỚC CẦU VINH.

ĐỐI VỚI MÔNG CỔ:

Sau 11 năm làm chủ Hoa Lục. Năm 1960, Thủ tướng Chu Ân Lai thăm Ulanbato của Mông Cổ để bàn về hiệp định hợp tác song phương và cả hai bên đạt được một hiệp ước về biên giới. Trong buổi tiệc khoảng đãi lãnh đạo Mông cổ tại Bắc Kinh ngày 27/ 12/ 1960, Chu Ân Lai tuyên bố: “Sự nhanh chóng giải quyết êm đẹp về vấn đề biên giới giữa hai quốc gia, không những đánh dấu sự củng cố và phát triển tình hữu nghị giữa hai quốc gia mà còn tạo gương sáng trong mối quan hệ hai nước XHCN anh em”. Nhưng, tiếc thay kỷ nguyên hợp tác thân thiện nầy tồn tại không được lâu.

Mặc dù hiệp định về biên giới được ký kết chính thức năm 1962, nhưng mãi đến năm 1982 mới được thực hiện. Trong khoảng thời gian 20 năm đó, Trung Cộng luôn luôn tìm cách lấn biên giới và cho di dân sang Mông Cổ. Năm 1981, dấy lên phong trào đòi trục xuất người Trung Hoa ra khỏi Mông Cổ bùng nổ. Thêm vào đó, Liên Xô đã tố giác Trung Cộng vi phạm về hiệp định về biên giới với Mông Cổ tất cả hơn 400 lần chỉ riêng trong năm 1969.

Tờ New York Times ngày 27/5/ 1983 chạy trang đầu, tin Mông Cổ trục xuất nhiều ngàn công nhân người Hoa ra khỏi nước họ. Ngày 2/ 9/ 1964, tờ Pravda, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng CS Liên Xô loan tin rằng: “Mao Trạch Đông rất hối tiếc vì không tranh thủ được sự đồng tình của Liên Xô để Trung Cộng chiếm luôn Ngoại Mông.”

ĐỐI VỚI TÂY TẠNG:

Sau khi đánh chiếm được toàn bộ Hoa Lục vào năm 1949, nhà cầm quyền  Trung Cộng lập tức đòi Tây Tạng phải chấp nhận:

-Quốc phòng của Tây Tạng phải do Trung Cộng kiểm soát.

-Tây Tạng là một bộ phận của Trung Cộng.

Dĩ nhiên đề nghị phi lý nầy không được chấp nhận. Liền sau đó, ngày 7/10/1950, Trung Cộng xua 40.000 quân đánh chiếm Chamdo, thủ đô miền nam Tây Tạng. Mặc dù Ấn Độ, Hoa Kỳ, Anh Quốc cùng một số quốc gia khác đã phản đối quyết liệt. Nhưng, Trung Cộng không những làm ngơ mà còn thách thức Quốc tế bằng cách đưa thêm một quân đoàn tiến vào thủ đô Lhasa vào ngày 9/9/1951. Lần lượt các thành phố khác của Tây Tạng rơi vào tay Hồng quân Trung Cộng. Mặc dù dân tộc Tây Tạng đã anh dũng tạo ra hai cuộc khởi nghĩa vào các năm 1956 và 1959. Nhưng, tất cả đều bị Hồng Trung Cộng đè bẹp. Kết quả là hơn 20.000 người Tây Tạng bị giết, khoảng 80.000 người cùng Đức Dalai Lama phải lưu vong sang Ấn Độ.

Sau hơn hai thập niên bị thống trị bởi Trung Cộng, có khoảng 1,2 triệu người Tây Tạng, tức 20% dân số đã bỏ mình trong các trại tù hoặc các nông trường tập thể, hoặc bị thủ tiêu. Nhiều tù nhân bị bỏ đói đến chết. Hơn 6.000 cơ sở văn hóa, đền đài, chùa chiền, tu viện bị Hồng quân Trung Cộng đốt sạch, phá sạch cùng với những bộ kinh Phật vô cùng quý giá. Mức độ đàn áp Phật giáo ngày càng tinh vi và vô cùng khốc liệt như cưỡng bách các tu sinh hoàn tục, hạn chế dạy giáo lý. Trước năm 1950, thiền viện SERA 585 tuổi, chứa trên 5.000 tu sinh, bây giờ chỉ còn 500 người.

Để duy trì lực lượng thống trị tại Tây Tạng, có khoảng 300.000 binh lính và công an nên phần lớn lương thực bị chánh phủ thu mua để nuôi đạo quân đông đảo nầy, vì thế đã gây ra hai nạn đói vào các năm 1958 - 1961 và 1966 - 1976. Chánh sách di dân Hán đã cưỡng bách diệt sinh đối với phụ nữ Tây Tạng, hủy diệt tính thuần nhất chủng tộc.

Ho cũng đã đưa đến Tây Tạng khoảng 7, 5 triệu người Trung Hoa, vượt xa dân số Tây Tạng khoảng nửa triệu. Người Tây Tạng đã trở thành dân tộc thiểu số ngay trên chính quê hương của họ. Họ thống trị Tây Tạng không những về mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Tàu và tiếng Tây Tạng chỉ là ngôn ngữ địa phương.

Các nhân chứng kể rằng: Ngày thứ sáu 27 tháng 2 năm 2009, nhằm ngày mùng 3 Tết Truyền Thống của dân tộc Tây Tạng. Có khoảng 1.000 vị sư đã bị lính Trung Cộng cấm vào tu viện KIRTI ở huyện Aba, tỉnh Tứ Xuyên để tưởng niệm ngày lễ MONLAM là một lễ hội cầu nguyện truyền thống sau ngày LOSAR, tức TẾT TÂY TẠNG. Phản đối lệnh công an, các vị sư đã ngồi bên ngoài tu viện và bắt đầu đọc kinh cầu nguyện. Lúc 1 giờ trưa, theo lời khuyên của một vị sư già, họ tự động giải tán. Nhưng, một vị sư trẻ khoảng 20 tuổi tên TAPEY tách khỏi đám đông. Ông phất lá cờ Tây Tạng mà ông tự thiêu hình ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA đi ra khu chợ gần đó, tự tưới dầu lên người rồi tự thiêu lúc 1 giờ 40. Một tên công an Trung Cộng nã 3 phát đạn vào sư Tapey. Ngay phát đầu tiên, vị sư yêu nước nầy ngã xuống và sau đó, bọn công an  kéo vị sư nầy quăng lên xe chở đi. Sự kiện nầy đã nói lên cái bản chất tàn bạo, dã man, giết người vì thú tính của giống rợ “Hán Cộng”.

ĐỐI VỚI SẮC DÂN TÂN CƯƠNG

Vào thế kỷ thứ 8 và 9, Hồi Giáo từ Thổ Nhỉ Kỳ du nhập vào Tân Cương. Dân Đột Quyết theo Hồi Giáo, từ đó gọi là dân Đột Hồi. Miền Tây Bắc Trung Hoa bao gồm Tân Cương là nơi cư ngụ của trên 30 dân tộc thiểu số, gọi chung là Tây Vực. Hùng mạnh nhất là Mông Cổ, Khiết Đan, Đột Quyết, Hung Nô...

Năm 552, người Đột Quyết UIGHURS nỗi dậy lập nên nước Đột Quyết Hãn chiếm Tây Vực. Đó là nước Tây Đột Quyết Hản rất hùng mạnh vào thế kỷ thứ VIII (Trung Quốc Văn Hóa Sử). Các triều đại nhà Đường (960 - 1126), nhà Tống (960 - 1126) không đủ sức giữ Tây Vực, rồi đến khi Mông Cổ trỗi dậy với Thành Cát Tư Hãn chiếm Tây Vực rồi thôn tính luôn Trung Hoa, lập ra nhà Đại Nguyên (1206 – 1367). Tân Cương vẫn giữ riêng một cõi, ảnh hưởng Trung Hoa không đáng kể vì đạo HỒI là tôn giáo chủ thể ở Tân Cương. Dân Uighurs, Iran và Turkey theo đường Tơ - Lụa (Silkroad) vào Trung Nguyên buôn bán hương liệu. Lan Châu ngày nay là địa đầu biên giới Tân Cương và Hoa Lục.

Một sắc dân khác mà người Trung Hoa miệt thị là RỢ KIM - RỢ NỮ CHÂN - RỢ MÃN đã chinh phục Trung Hoa, lập ra nhà THANH và cai trị Trung Hoa suốt 268 năm (1644 - 1912). Vua Khang Hy cũng chỉ nhận quyền “Tôn Chủ” ở Tân Cương với diện tích 1.6 triệu km2 là vùng tự trị của dân Uighurs và chỉ đặt quan Tổng Trú Sứ Đại Thần ở Urumqi. Ngày nay, được biết vùng Tân Cương có nhiều quặng mỏ và tiềm năng dầu hỏa.

Như chúng ta đã biết, cuộc nỗi dậy ngày 5 tháng 7 năm 2009 mà Tân Hoa Xã và Nhân Dân Nhật Báo gọi là “Đêm Kinh Hoàng” ở Tân Cương vào ngày kỷ niệm 60 năm mất nước (1949 – 2009), Hồng Quân Mao tiến chiếm thủ phủ Urumqi, thành lập chánh quyền Trung Cộng ở Tân Cương và cải danh là “Khu Tự Trị Uighurs”. Năm 1989, phong trào Tân Cương phất lên, được Liên Xô ủng hộ ngầm từ thập niên 1970. Kỷ niệm 50 năm mất nước vào năm 1999, phong trào phát xuất từ KAZAKHSTAN một Cộng Hòa cũ của Liên Xô.

Cuộc nỗi dậy của người Uighurs bắt đầu vào ngày 5/7/2009 tại Urumqi bị lực lượng an ninh Trung Cộng đã ra tay đàn áp dã man, khiến khoảng 200 người thiệt mạng và gần 2.000 người bị thương, sau đó không biết con số chính xác có bao nhiêu người Uighurs bị tra tấn đến chết ở trong tù? Nhiều cửa hiệu, xe cộ bị đốt cháy.

Hai ngày sau đó, Hồ Cẩm Đào đã vội vã bỏ ngang cuộc họp thượng đỉnh G 8, khẩn cấp trở về Trung Cộng để giải quyết cuộc khủng khoảng, vì Hồ Cẩm Đào có rất nhiều kinh nghiệm chỉ huy các lực lượng an ninh đàn áp đẫm máu các cuộc nỗi dậy của dân Tây Tạng trong thời gian giữ chức vụ BÍ THƯ ĐẢNG điều hành KHU TỰ TRỊ TÂY TẠNG vào năm 1989.

Trung Cộng áp dụng chánh sách đồng hóa dân Đột Hồi giống như Tây Tạng. Trước đây, dân Đột Hồi chiếm đại đa số ở Tân Cương, nhưng ngày nay họ đã trở thành dân tộc thiểu số chỉ còn 9 triệu, trong khi dân Hán hơn 10 triệu. Kể từ năm 1949 đến nay, dân Hán ở Tân Cương tăng hơn 20 lần. Riêng tại thủ phủ Urumqi, dân Hán chiếm đại đa số. Năm 1966, Hồng quân Trung Cộng đập phá 151 đền thánh Hồi Giáo tại Kashgar, giáp biên giới với Kirghizie, và biến một thánh đường đẹp đẻ thành chuồng nuôi heo.

Tại “HỘI NGHỊ UIGHURS THẾ GIỚI” do bà REBYA KADEER làm Chủ Tịch đã nhiều lần lên tiếng tố cáo bọn CS Bắc Kinh đang từng bước theo đuổi chánh sách Hán hóa và diệt chủng dân Uighurs rất thâm độc. Kể từ năm 1949, trẻ em Uighurs bị chánh quyền địa phương bắt buộc bỏ đạo Hồi, đổi qua tên Hán. Dân Uighurs và các sắc dân thiểu số khác bị dồn vào những khu vực riêng biệt cũng như bị phân biệt đối xử.

MÔNG CỔ, TÂY TẠNG và TÂN CƯƠNG là những bài học xương máu cho bọn THÁI THÚ CS HÀ NỘI rút kinh nghiệm để bảo vệ nền ĐỘC LẬP & TỰ CHỦ của TỔ QUỐC & DÂN TỘC VIỆT NAM mà tổ tiên chúng ta đã kiên cường và bất khuất nhất định không làm nô lệ cho cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Lời nói bất khuất đầy hào hùng của ĐỨC TRẦN HƯNG ĐẠO đã thắp lên một ngọn đuốc thiêng bất diệt và sẽ mãi cháy sáng rực rở trong dân tộc Việt Nam:

“NẾU BỆ HẠ MUỐN HÀNG, XIN CHÉM ĐẦU TÔI TRƯỚC ĐÔ

QUAN HỆ GIỮA ĐỆ TAM QTCS – MAO TRẠCH ĐÔNG – HỒ CHÍ MINH QUA CÁI GỌI LÀ CUỘC “KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP 1945 – 1954”: .

Trong lịch sử đấu tranh oai hùng của Dân tộc Việt Nam chống kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc để tồn tại. Tổ tiên chúng ta đã kiên cường và bất khuất nhất định không làm nô lệ cho kẻ thù phương Bắc. Bao nhiêu thế hệ anh hùng dân tộc nối tiếp nhau từ các triều đại Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần - Nguyễn, tổ tiên chúng ta chỉ dựa vào sức mạnh vô địch của TÌNH ĐOÀN KẾT TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VIỆT NAM để  tự lực chiến đấu và chiến thắng quân xâm lược. Tổ tiên chúng ta đâu có cần cầu viện quân ngoại nhập hoặc dựa một thứ chủ nghĩa hay chủ thuyết ngoại lai vong bản nào đâu?  Biểu tượng vĩ đại nhất của tinh thần đoàn kết dân tộc là HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG. 

Quả thật, trong lịch sử chống ngoại xâm của Dân Tộc Việt Nam, không có cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc nào ngu xuẩn cho bằng hai cuộc “Kháng chiến chống thực Pháp” dưới sự lãnh đạo của HCM và cuộc “Chiến tranh chống Mỹ cứu nước” do HCM và Đảng CSVN lãnh đạo. Thật vậy, HCM đã hoàn toàn đi ngược lại tình đoàn kết truyền thống keo sơn gắn bó của tiền nhân bằng cách dùng thủ đoạn nham hiểm là gây chia rẽ, khủng bố, tàn sát người Việt Quốc Gia yêu nước để giành giựt chính quyền. Ông đã gián tiếp nối giáo cho giặc Pháp làm suy yếu tiềm lực chiến đấu của người Việt Quốc Gia. Bao nhiêu nhà ái quốc, các đảng phái cách mạng từ Nam ra Bắc, những anh hùng tử sĩ xả thân chiến đấu chống thực dân Pháp, họ không chết trước họng súng của quân xâm lược Pháp mà chết vì sự khủng bố tàn bạo do bọn sát thủ của Dương Bạch Mai, Trần văn Giàu, hung thần Chợ Đệm Nguyễn Trấn... theo lệnh của ông Hồ.

TẠI MIỀN NAM:

Các lãnh tụ chống lại Việt Minh đều bị chụp mũ Việt Gian đều bị giết. Trong đó có: Huỳnh văn Phương, Trần văn Thạch (thuộc Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất). Nhóm Đệ Tứ Quốc Tế đều bị sát hại gồm: Phan văn Hùm, Hồ văn Ngà, Tạ Thu Thâu, Phan văn Chánh, Trần văn Sĩ, Phan văn Hòa, Nguyễn văn Sổ, Huỳnh văn Soi, Nguyễn văn Bạch...Tại tỉnh Long xuyên, Việt Minh  đã tiến hành khủng bố ác liệt bằng nhiều hình thức giết người dã man như chặt đầu lột da, mổ bụng dồn trấu thả trôi sông, trấn nước, cho “mò tôm”, chôn sống...số người bị giết chết lên đến hàng chục ngàn người.

TẠI MIỀN TRUNG:

Nhiều nhà ái quốc không chịu tham gia Đệ Tam Quốc Tế đã bị thủ tiêu như cụ Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Ngô đình Nguyên, Võ Như Nguyên, Phan Thúc Ngô, Tôn Thất Đạt. Nguyễn Bá Trác...

TẠI MIỀN BẮC:

Các đảng viên cao cấp của Việt Nam Quốc Dân Đảng đều bị thủ tiêu như ông Nguyễn Thế Nghiệp, ông bà Nguyễn Ngọc Sơn, Đào Chu Khái, cụ Nguyễn Hải Thần. Hồ Chí Minh còn ra lệnh truy lùng, bắt các thành viên Việt Cách dọc theo biên giới Việt - Hoa, ai không theo Việt Minh đều bị mang vào rừng thủ tiêu không biết nhiêu mà kể.

NHỮNG SỰ PHẢN BỘI CỦA HCM BỊ LÊN ÁN VÀ NGUYỀN RỦA NHẤT:

* Năm 1948, ông Đào Trinh Nhất trong loạt bài đăng trên báo “Cải Tạo” đã viết rằng: Chính LÝ THỤY (Hồ Chí Minh) là thủ phạm bán đứng cụ PHAN BỘI CHÂU cho thực dân Pháp vào ngày 1/ 7/ 1925. Sử gia kiêm học giả Đài Loan là ông Tưởng Vĩnh Kính qua tác phẩm “Hồ Chí Minh tại Trung hoa” xuất bản năm 1972, cũng đã xác nhận chính LÂM ĐỨC THỤ (đại diện cụ PHAN tại Hương Cảng) và NGUYỄN ÁI QUỐC ( Lý Thụy – HCM) đã bán đứng cụ PHAN cho Pháp, rồi cả hai chia đôi số tiền thưởng là 100.000 quan. Sau đó THỤ & QUỐC còn hợp tác nhiều năm nữa, để bán đứng luôn những đồng chí của cụ PHAN cho Pháp.

Một sự kiện quan trọng khác do ông viết trong “Tự Phán”, đó là việc cụ Phan đã tiếp xúc với GRIGORIJ và VOITINSKY nhân viên cao cấp tại Tòa Đại Sứ Liên Xô tại Bắc Kinh nhờ giúp đở đưa du học sinh sang du học tại Liên Xô. Nhưng, sự việc không thành vì cụ PHAN  đã KHÔNG CHẤP NHẬN ĐIỀU KIỆN THEO CỘNG SẢN. Vì vậy, Lý Thụy một cán bộ Đệ Tam QTCS từ LX đến Trung Hoa đã ra tay triệt hạ cụ Phan và một số lãnh tụ Quốc Gia khác hoạt động tại hải ngoại.

* Trong Nam Bộ, ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ chủ trương đấu tranh BẤT BẠO ĐỘNG đã động viên hơn 4 triệu tín đồ HÒA HẢO và tất cả người Việt Quốc Gia không phân biệt tôn giáo, đảng phái, giai cấp... hưởng ứng nhiệt liệt. Đức Thầy nhận thấy bản chất của thực dân Pháp cực kỳ ngoan cố, khác hẳn với bản chất của thực dân ANH là “mềm nắn, rắn buông”. Đức Thầy thay đổi chiến lược đấu tranh là không hoàn toàn áp dụng “biểu tượng kháng cự” (résistance symbolique) bất bạo động của Thánh Gandhi mà thực hiện thêm chiến lược “bất bạo động thực tiễn” nghĩa là không loại trừ những cuộc xung đột võ trang xảy ra trong một vài trường hợp bất khả kháng, được thực hiện như là một “bạo động biểu tượng” (violence symbolique) chỉ mang tính cách “nghi thức hóa cuộc đấu tranh” (ritualiser la lutte).

Cũng như Thánh Gandhi, Đức Thầy quan niệm rằng: “Trọng tâm của mọi phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, muốn thoát khỏi ách đô hộ của thực dân ANH và PHÁP là phải dựa sức mạnh vô địch của sự ĐOÀN KẾT DÂN TỘC, chớ không phải dựa vào sự giúp đở ngoại bang. Bởi vì, Không có một ai yêu thương dân tộc mình, chỉ có dân tộc mình mới hết lòng yêu thương Tổ Quốc và Dân Tộc mình mà thôi. Quan niệm nầy cũng giống như quan điểm của cụ PHAN: “VỌNG NGOẠI TẮT TỬ”. Rõ ràng, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, HCM và Đảng CSVN không có công gì đối với Dân Tộc.

CHỦ NGHĨA MARXISM – LENINISM – ĐỆ TAM QTCS:

Trình độ văn hóa và kiến thức của Hồ hiểu biết được bao nhiêu về chủ nghĩa Marxism - Leninism?  Làm thế nào Hồ nhận thức nổi “Chiến lược chính trị” của Lenine viết trong tập tham luận “Về Các Vấn Đề Dân Tộc và Thuộc Địa”? Cái gọi là “Chiến tranh giải phóng Dân tộc” và “Đấu tranh giai cấp” chỉ là “LƯỠNG DIỆN” là phần ngọn. Hồ Chí Minh làm sao đủ thông minh thấy “ĐIỂM CHIẾN LƯỢC CHÍNH TRỊ” của Lenine và Staline là lần lượt giật sập toàn bộ hệ thống thuộc địa cũ của Đế Quốc Anh và Thực dân Pháp để biến nó trở thành hệ thống “thuộc địa kiểu mới”của ĐỆ TAM QUỐC TẾ CỘNG SẢN, đó mới chính là phần gốc của vấn đề. Vì thất học, thiếu kiến thức nên HCM lấy “DIỆN” của Lenin làm “ĐIỂM” của mình.

Chuyện kể lại rằng: khi HCM vớ được tài liệu về  của Chủ nghĩa Marxism - Leninism với mớ kiến thức của người có trình độ học vấn cấp tiểu học, không biết HCM hiểu biết được bao nhiêu phần trăm chủ nghĩa Cộng Sản, rồi một tối ông ta kêu toáng lên rằng: “Mặt trời đây rồi! Chân lý đây rồi!...” rồi ông ta bật khóc, khi cho rằng mình đã tìm được chân lý cứu  nước. Chính sự nhầm lẫn tai hại nầy của HCM - một tên lãnh đạo cải lương - đã gây nên một ĐẠI THẢM HỌA cho Dân Tộc Việt Nam cho đến mãi ngày hôm nay.

Lenine xây dựng quan niệm cách mạng hoàn toàn khác hẳn với Marx: Lenine không hứa với dân Nga hai chữ TỰ DO  mà kêu gọi trả thù và hòa bình. Với nông dân, Lenine không hứa tự do mà chỉ xúi giục rửa hận và ruộng đất. Với thợ thuyền, ông không hứa tự do mà gào thét báo oán và nắm chánh quyền. Điều nầy đã xác minh: cái yếu tố làm nên cuộc cách mạng là LÒNG CĂM THÙ được Lenine thổi bùng lên thành BẠO LỰC CÁCH MẠNG để phục vụ cho cái gọi là ĐẤU TRANH GIAI CẤP. Sau khi lật đổ được chế độ phong kiến của Tsar Hoàng, nắm được chánh quyền, Lenine dồn tất cả nổ lực vào việc xây dựng chế độ CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN (dictature du prolétariat). Nếu có ai đòi hỏi tự do. Lenine nói thẳng: “Nơi nào có Tự Do thì chỗ ấy không có nhà nước chuyên chính vô sản”.

Rõ ràng là giai cấp công nhân và nông dân Nga bị Lenine lợi dụng để phục vụ cho âm mưu chánh trị là lật đổ chế độ phong kiến của Tsar Hoàng, để dựng nên một đế chế mới, thay thế  cho chủ nghĩa Đế Quốc và Thực Dân Cũ bằng chủ nghĩa đế quốc mới mang tên ĐỆ TAM QUỐC TẾ CỘNG SẢN. Nhân danh MARX, Lenine, Sataline, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Fidel Castro, Hồ Chí Minh...và các lãnh tụ khối CS Đông Âu mưu đồ thiết lập các chế độ CỘNG SẢN độc đảng, độc tài toàn trị trên toàn thế giới. Chế độ Cộng Sản nầy còn khủng khiếp hơn bọn Nazi, dã man, tàn bạo hơn Phát xít. Có một thời, cổ máy xây thịt khổng lồ nầy đã ngốn hết của nhân loại trên 100 triệu con người.

Sự thật về cái gọi là “Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp” (1945 - 1954) là do Trung Cộng đã đóng vai trò quyết định đánh bại Thực Dân Pháp, chớ không phải do ông Hồ và Đảng CSVN lãnh đạo. Họ chỉ là những tên tay sai thừa hành lệnh của quan thầy Trung Cộng. Nói trắng ra là Hồ Chí Minh là tên THÁI THÚ của MAO TRẠCH ĐÔNG đặt ra để thực thi đường lối HÁN HÓA của Trung Cộng tại Việt Nam.

 Sau khi Trung Cộng chiếm toàn lục địa Trung Hoa năm 1949. Hồ cùng Trần đắc Ninh đi Bắc Kinh gặp Mao xin giúp đở. Hồ được Mao hứa giúp đở tận lực về mọi mặt: chính trị, quân sự, ngoại giao... Hồ gặp sự chống đối kịch liệt của Tướng NGUYỄN SƠN - Tư Lệnh Liên Khu Tư - Nguyễn Sơn từng tốt nghiệp trường võ bị Hoàng Phố là một trong 18 tướng Hồng Quân theo Mao trong cuộc trường chinh đến Diên An. Năm 1945, Nguyễn Sơn rời Hồng Quân Trung Cộng trở về Việt Nam và được bổ nhiệm Tư lệnh Liên Khu Tư, thay thế Lê Thiết Hùng. Tướng Nguyễn Sơn là người duy nhất dám công khai bài bác Hồ và coi thường Võ Nguyên Giáp. Tướng Nguyễn Sơn phản đối việc Hồ xin viện trợ của Trung Cộng vì ông biết quá rõ tham vọng bành trướng bá quyền của Trung Cộng nên tướng Nguyễn Sơn bị Hồ dèm pha với quan thầy Trung Cộng, nhưng không dám giết như trường hợp Tướng Nguyễn Bình ở trong Nam Bộ và gởi trả về Trung Cộng rồi chết ở đó.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đoàn chuyên gia quân sự (CMAG) do tướng Vi Quốc Thanh làm Trưởng phái đoàn cùng ra mặt trận, cùng làm việc bên cạnh Bộ Chỉ Huy chiến dịch do Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Các cố vấn Trung Cộng là người soạn thảo các kế hoạch hành quân, trực tiếp chỉ huy, điều động các lực lượng vũ trang Việt Minh (1950 - 1954). Họ đã đóng góp sự thành công trong “Chiến dịch biên giới Cao-Bắc-Lạng” (1950), kế đến là “Chiến dịch Tây Bắc” (1952 - 1953) và trận đánh quyết định “Điện Biên Phủ”, dứt điểm chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, chưa có một vị vua nào hoặc một lãnh tụ nào cầu viện quân ngoại nhập từ phương Bắc, ngoại trừ: Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Mặc Đăng Dung và Hồ Chí Minh. Trong 9 năm kháng chiến chống Thực Dân Pháp (1945 – 1954), Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã hy sinh trên 2.000.000 chiến sĩ và đồng bào chết tức tưởi vì chiêu bài bịp bợm và gian trá: “Kháng chiến chống Thực Dân Pháp”. HCM và Đảng CSVN đã nhìn mục tiêu ĐỘC LẬP QUỐC GIA chỉ là một chặng đường trên lộ trình VÔ SẢN HÓA THẾ GIỚI. Dân tộc VN đã tham gia cách mạng, hy sinh xương máu vì chủ quyền ĐỘC LẬP DÂN TỘC. Lòng yêu nước của họ đã bị HCM và Đảng CSVN lợi dụng để phục vụ cho âm mưu bành trướng lãnh thổ của Đế quốc Liên Xô và Trung Cộng xuống vùng Đông Nam Á.

Sau thế chiến Thứ II chấm dứt, phong trào giải đế bài thực đã trở thành xu hướng chung của nhân loại. Lần lượt những nước thuộc địa được các Đế Quốc trao trả độc lập mà không cần dùng đến hình thức “chiến tranh giải phóng” và “đấu tranh giai cấp” như ông Hồ, vì nó sẽ gây đổ máu, chết chóc, tang thương đổ nát vô ích, không cần thiết cho đất nước của họ.

Tại Á CHÂU: Các thuộc địa Anh, Pháp, Hòa Lan...đều lần lượt thu hồi nền độc lập như Ấn Độ (1947), Miến Điện (1948), Tích Lan (1948), Phi luật Tân (1946), Nam Dương (1949), Mã Lai (1957), Singapore (1959)...

Tại PHI CHÂU: Có khoảng 30 quốc gia đều trở thành độc lập như Algérie, Maroc...

Đêm 20 rạng 21/7/1954, Việt Minh bắt tay với Pháp ký Hiệp Định Genève chia cắt đất nước, chia đôi dân tộc. Phía Bắc vĩ tuyến 17 thuộc Việt Minh Cộng Sản. HCM và tập đoàn lãnh đạo Đảng CSVN cúi đầu vâng theo lệnh của Mao như những những tên tay sai, ngoan ngoãn chờ Mao dạy bảo. Hồ và Trường Chinh đã mất hết nhân tính, điên cuồng giết chết hằng trăm ngàn đồng bào ruột thịt qua chiến dịch “Cải cách ruộng đất” kinh hoàng. Giết người bừa bãi như HCM vì “thú tính” hơn là vì “nhu yếu chính trị”. Nói theo Machiavel gọi là sự tàn ác điên rồ (cruautés malpratiquées).

Tội ác to lớn nhất của Hồ Chí Minh là phá nát nền “Văn hóa truyền thống Dân Tộc” dựa trên Khổng thuyết lấy “tam cương”, ngũ thường”, “tam tòng”, tứ đức”...để dựng nước và giữ nước và xây dựng một xã hội có tôn ti trật tự và đạo đức. Khổng giáo đã ăn sâu vào lòng dân tộc Việt hàng ngàn năm, đặt sự “hiếu thảo” lên hàng trăm nết tốt gọi là “bách hạnh”. Ông Hồ đã thay vào đó bằng nền “VĂN HÓA XƯỞNG ĐẺ” từ vô thần tiến đến đỉnh cao của nó là vô luân . HCM lý luận: “Tam cương, ngũ thường nhằm bảo vệ tôn ti trật tự của các chế độ phong kiến. Đó là hệ thống tư tưởng cũ cần phải thay đổi 180 độ. Nếu cần phải đấu tố cha mẹ, phản lại người ân để phục vụ Đảng và xây dựng chế độ vô sản chuyên chính thì chúng ta phải làm triệt để.”

Trường Chinh đã đem mớ lý luận cực kỳ vô luân của HCM, áp dụng một cách triệt để vào chiến dịch “cải cách ruộng đất”. Để làm gương, Trường Chinh đã gông cổ cha mẹ già, kéo lê ra sân đình như kéo hai con chó già, rồi bắt quì gối xuống đất cho dân đấu tố, đánh đập dã man và ném đá cho đến chết. Con giết cha, giết mẹ là tội ác quá khủng khiếp và ghê tởm “trời không dung, đất không tha”. Vậy mà, HCM và những người cộng sản vô thần gọi đó là “đạo đức cách mạng”.

Theo nhà sử học MICHAEL LIND viết trong cuốn “Vietnam, the Necessary War”. Xin trích một đoạn: “...Hồ Chí Minh bắt chước mọi thứ của những nhân vật Lenine, Staline và Mao Trạch Đông. Dù cho lúc còn sống hay đã chết, HCM chỉ là kẻ dập khuôn hạng kém (a minor clone) của các bạo chúa CS hàng đầu (major communist tyrants). Ngay cả những chi tiết nhỏ nhất của chánh quyền, HCM đều bắt chước theo LX hay tuân lệnh Mao. Vào thập niên 1950, Mao đã cóp theo kiểu chiến tranh của Staline chống lại nông dân Nga và phái các cố vấn Trung Cộng sang giúp HCM khủng bố nhân dân miền Bắc XHCN, khiến họ phải khuất phục chính quyền độc tài toàn trị CSVN...(ngưng trích)”. Đó là cuộc CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT máu đổ thịt rơi, đã xảy ra tại miền Bắc XHCN vào những năm 1955 - 1956.

Trong cuốn “Tôi bỏ Đảng” trang 31 & 32, ông Hoàng Hữu Quýnh là chứng nhân viết: “Theo sự chỉ đạo của TBT Trường Chinh và Hồ Viết Thanh, Trưởng ban CCRĐ T.Ư, con số tối thiểu dành cho những bản án tử hình phải tăng từ 1 đến 5 người cho mỗi xã. Ở Nghệ An, thực tế mỗi xã có tới 6,7 địa chủ bị xử tử hình. Họ dấy lên “thà giết lầm hơn bỏ sót”. Con số địa chủ tự tử và bị giam đói chết cao hơn cả số tử hình. Cho tới nay ngay chính Đảng CSVN tìm ra con số chính thức người chết trong phong trào cải cách ruộng đất là bao nhiêu. Nhưng người ta nghĩ đến một con số đáng ghê sợ. Một nguồn tin cho biết cuộc tàn sát tập thể nầy lên đến mấy trăm ngàn người. Số người chết trong chiến dịch long trời lở đất nầy nhiều đến độ mà khắp miền Bắc vào lúc ấy đi đâu người ta cũng thấy vành tang trắng để tang cho thân nhân bị đấu tố. Số người bị gọi là địa chủ chết đã nhiều, thế nhưng chưa thấm vào đâu so với thân nhân của địa chủ bị chết đói vì “bao vây kinh tế” của Trường Chinh: “Thà giết mười người vô tội, còn hơn bỏ sót một kẻ thù”. Mỗi chiến dịch giảm tô và CCRĐ đều được thực hiện bằng 5 đợt liên tiếp theo chiến dịch vết dầu loang...Đợt nào cũng có các chuyên gia người Trung Quốc giúp sức cả.”

Nhà sử học Michael Lind đã dí dỏm gọi HCM là “a minor clone” của các bạo chúa đương thời . Nhưng theo tôi, hình tượng HCM được rập khuôn bằng chất thải của Mao Trạch Đông thoát ra từ “cửa hậu” nên chất lượng vừa tồi, vừa thối ! Vào thập niên 1950, có lần HCM đứng trước ảnh của Staline và Mao Trạch Đông, rồi nói với Thủ tướng Phạm văn Đồng rằng: “Bác là người có khuyết điểm, chớ hai vị nầy là người trong suốt như pha lê, hoàn toàn không có tì vết. Vậy, chúng ta hãy lấy tư tưởng của người đưa vào hiến pháp làm nền tảng tư tưởng chỉ đạo.”

 HCM đâu có biết rằng: kể từ năm 1956, Lưu Thiếu Kỳ và toàn Bộ Chánh Trị Đảng CS Trung Hoa đã sửa đổi điều lệ Đảng và hủy bỏ câu: “Lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm tư tưởng chỉ đạo trong toàn Đảng CS Trung Hoa.” Lý do, tư tưởng của Mao rất thiếu thực tế và sống trên mây. Nên nhớ rằng, những tay lý thuyết gia, viết bài vở đặc sắc mà Tưởng Giới Thạch rất khâm phục chính là Chu Ân Lai và Lưu Thiếu Kỳ chớ không phải Mao Trạch Đông. 

André Gide lập lại ngôn từ của Thoreau, tôi dùng để đánh giá HCM trong trường hợp nầy rất chính xác: “THE WORST THING IS BEING THE SLAVE DEALER OF ONE’S SOUL.” (Cái tồi tệ nhất là tự thỏa thuận nô lệ trong tâm hồn con người.)

Trong khi đó từ phía Nam vĩ tuyến 17. Ngay từ tháng 7/1954, chánh phủ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đặt trọng tâm thương thuyết với Pháp, buộc thực dân Pháp phải trao trả ngay chủ quyền Quốc Gia mà không cần đổ máu. Ngày 26 tháng 10 năm 1955 là Ngày Quốc Khánh, mở đầu kỷ nguyên nước VIỆT NAM CỘNG HÒA do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Suốt 9 năm cầm quyền, chánh phủ VNCH do ông lãnh đạo đã được trên 80 quốc gia trên thế giới công nhận và được gia nhập Đại hội đồng LHQ. Trong những năm đầu cầm quyền, Tổng Thống Ngô Đình Diệm không tán thành sự can thiệp trực tiếp của quân đội Hoa Kỳ vào MNVN vì ông cho rằng phía Quốc Gia đủ sức  đối phó với CSBV nếu được viện trợ đầy đủ vũ khí, tài chánh. Chính vì đức tính cương trực, bất nhân nhượng với đồng minh Hoa kỳ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đó là một trong những nguyên nhân đưa đến vụ đảo chánh Tháng 11, 1963. Ông và bào đệ Ngô Đình Nhu bị bức tử.

Ngày 4 tháng 9 năm 1958, khi Trung Cộng ngang ngược tuyên bố lãnh hải “Lưỡi rồng” chạy dọc bờ biển VN xuống Nam Dương rồi vòng lên phía đông, chạy dọc theo bờ biển Phi Luật Tân và tất cả các đảo trên biển Đông, kể cả Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc chủ quyền của Trung Cộng. Để đền ơn Trung Cộng cho mua chịu 20 tỉ Mỹ kim vũ khí, bom đạn... để phục vụ cho cái gọi là kháng chiến và giết người Việt Quốc Gia,

Hồ chí Minh đã muối mặt, chỉ thị cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhân danh chính phủ VNDCCH đặt bút ký công hàm đề ngày 14/9/1958 gởi Thủ tướng Trung Cộng là Chu Ân Lai: “Ghi nhận và tán thành bản tuyên bố của chánh phủ nước CHND Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

Nếu chiếu theo điều 73 Lê Triều Hình Luật thì cái tội phản bội tổ quốc bằng cách cấu kết với ngoại bang  xâm phạm chủ quyền của Quốc Gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc, Hồ  Chí Minh phải bị bêu đầu trên cọc nhọn để làm gương: ĐIỀU 73 LÊ TRIỀU HÌNH LUẬT: “Ai bán ruộng đất nơi biên cương cho người nước ngoài thì bị chém.” (Chư mại biên cương điền thổ dữ ngoại quốc nhơn trảm.)

Để biện minh cho hành động bán nước cực kỳ ngu xuẩn của Hồ Chí Minh và Phạm văn Đồng, các cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng CSVN đã viết bằng một luận điệu cực kỳ vong bản:

- Vào tháng 5/1976, báo Sài Gòn Giải Phóng viết: “ Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi!”.

- Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng CSVN, trong số ra ngày 26/4/1988 đã viết: “Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thì Việt Nam phải tranh thủ sự gắn bó của Trung Quốc, và ngăn chận Hoa Kỳ sử dụng 2 quần đảo nói trên”.

Rõ ràng, Hồ Chí Minh đã đặt quyền lợi của Đệ Tam QTCS lên trên quyền lợi của Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam. Nếu như, chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Cộng cũng vậy thôi. Thế còn đất nước Việt Nam thì sao? Thuộc chủ quyền của Dân Tộc Việt Nam hay trở thành một quận, huyện của Trung Cộng như Tây Tạng cũng vậy thôi phải không?

Hiện nay, các quốc gia như Philippines, Malaysia, Đài Loan, Trung Cộng và Việt Nam đều đòi hỏi chủ quyền của mình trên quần đảo Trường Sa. Nhưng, Trung Cộng chỉ chịu thương thuyết song phương (bilateral discussion) riêng rẽ với từng nước Philippines, Malaysia, và Trung Cộng không đồng ý thương thuyết đa phương (multilateral discussion) trong đó có  Việt Nam. Đây là hậu quả vô cùng tai hại do việc HCM và  Phạm văn Đồng đã ký giao vùng biển bao la nầy, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng bởi công hàm đề ngày 14/9/1958. Chắc chúng ta chưa quên lời tuyên bố của Ung văn Khiêm - Ngoại trưởng chánh phủ VNDCCH - vào năm 1956: “Hà Nội nhìn nhận chủ quyền của Trung Hoa với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà Trung Hoa gọi là Tây Sa và Nam Sa.”. Nếu không có sự đồng ý ngầm của Hồ thì làm sao Ung văn Khiêm dám tuyên bố lếu láo và Phạm văn Đồng dám đặt bút ký cái công hàm bán nước kể trên?

HỒ CHÍ MINH CỐNG DÂNG QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM CHO TRUNG CỘNG:
Bây giờ, nếu muốn đòi lại chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa....Đảng và nhà nước CSVN phải dựa vào những chứng liệu lịch sử cận đại và những văn kiện vững chắc về mặt pháp lý của chánh phủ VNCH vẫn còn đó, để xác nhận chủ quyền và sự toàn vẹn và lãnh hải trên vùng biển Đông là của Việt Nam. Nhưng thật nhục nhả! Đảng và nhà nước VNCS thà để mất chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về tay Trung Cộng, chớ không dùng đến những văn kiện liệt kê dưới đây, có phải chăng vì mang mặc cảm tội lổi bán nước?

Quần đảo Hoàng Sa gồm 2 nhóm: nhóm An Vĩnh (Group AMPHITRITE) và nhóm Thượng Huyền (Group CROISSANT). Địa danh Amphitrite do người Pháp đặt ra để kỹ niệm chiến hạm Amphitrite lần đầu tiên đi vào quần đảo Hoàng Sa năm 1701. Một nhà truyền giáo quá giang tàu nầy, có viết trong tập hồi ký “Lettres Edifiantes et Curieuses. Vol.III” : “Hoàng Sa là một quần đảo thuộc chủ quyền của vương quốc Annam”.

Trong cuốn “An Nam Đại Quốc”, họa đồ của Đức Giám Mục TABERT vẽ vào năm 1838 có vẽ quần đảo Hoàng Sa có ghi chú là Paracel (Cát vàng). Vua Gia Long đã long trọng trương lá cờ, xác nhận chủ quyền quần đảo Hoàng Sa là của Hoàng Triều vào năm 1816.

Trong tác phẩm “Mémoire sur la Cochinchine” (Hồi ký Đông Dương), ông Jean Baptiste Chaigneau (1769 - 1825) có đề cập đến quần đảo Paracels: “gồm nhiều hải đảo không có người ở, vua Gia Long đã chiếm lĩnh từ năm 1816...”

Bộ Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ năm 1851 là bộ điển chế của triều Nguyễn. Đặc biệt quý giá là những châu bản của các vua nhà Nguyễn có liên quan đến Hoàng Sa. Những văn bản gốc nầy với lời phê duyệt của nhà vua đã thể hiện quyền lực của quốc gia. Điễn hình là nhà vua phê vào phúc tấu của Bộ Công ngày 12 / 2 năm Minh Mạng thứ XVII (1836). Vua viết: “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm mộc bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước ta, rộng 5 tấc, khắc vào hàng chữ “Năm Bính Thân Minh Mạng thứ 17 và họ tên biền binh thủy sư Phạm Hữu Nhật , khâm phái tại Hoàng Sa để lại dấu tích muôn đời và công tác nầy được tiếp diễn hàng năm”.

Vào thời Pháp thuộc, thực dân Pháp cho binh lính khai thác phân chim (phosphate), thu hoạch hàng trăm tấn/ năm.

Năm 1925, Hải Học Viện Nha Trang đã đưa tàu De Lanessan và đoàn chuyên viên ra nghiên cứu quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và xác nhận Hoàng Sa là thuộc chủ quyền của VN vì dính liền với thềm lục địa Việt Nam.

Ngày 15/6/1932, Phủ Toàn Quyền Pháp ở Đông Dương ban hành sắc lệnh số 156-SL đặt quần đảo Hoàng Sa thành một đơn vị hành chánh “Đại Lý Hành Chánh Hoàng Sa” (Délégation de l’ Archipel Pareacels).

Ngày 30 / 3 / 1938, Phủ Toàn Quyền Đông Dương ký sắc lệnh số 10, quyết định sát nhập quần đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Thừa Thiên. Đồng thời gởi quân đội trú phòng, thường trực đến quần đảo Hoàng Sa.

Vào năm 1947, thực dân Pháp dựng bia chủ quyền của Miền Nam Việt Nam trên đảo Hoàng Sa (Pattle).

Tại hội nghị quốc tế họp tại San Francisco (Hoa Kỳ) vào ngày 7/9/1951 do Liên Hiệp Quốc triệu tập gồm 51 quốc gia tham dự, để ký kết “HIỆP ƯỚC HÒA BÌNH” (San Francisco Peace Treaty 1951). Chiếu theo điều 2 Hiệp Ước, Nhật Bản chính thức trao trả lại tất cả lãnh thổ chiếm đóng bằng võ lực trong thời gian chiến tranh. Tiếp nhận việc trao trả quần đảo Hoàng Sa, nhân dịp nầy Thủ tướng TRẦN VĂN HỮU - Trưởng phái đoàn Việt Nam - long trọng tuyên bố : “...We declare our rights over the Spratley and Paracels, which from time immemorial have formed part of VietNam...” (...Chúng tôi tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phần đất từ thuở xa xưa đã thống thuộc lãnh thổ Việt Nam...). Tất cả 51 quốc gia tham dự hội nghị ghi nhận lời tuyên bố trên của Thủ tướng Trần văn Hữu và không một đại biểu nào, kể cả Trung Hoa Dân Quốc lên tiếng phản đối.

Thời Đệ nhất VNCH, theo sắc lệnh số 174-NR đặt quần đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam, với một đơn vị hành chánh tân lập: xã Định Hải, thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Thời đệ nhị VNCH, theo sắc lệnh số 709-BNV-HC ngày 21/6/1969 xã Định Hải sát nhập chung với xã Hòa Long, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Các chánh phủ nước Việt Nam kế tiếp nhau liên tục từ 1950 – 1975 khẳng định chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đã hành xử trọn vẹn chủ quyền ấy bằng sự có mặt thật sự (Occupation effective) vừa đúng theo thực tế lịch sử vừa đúng theo luật lệ quốc tế về biển cả (Droit international de la mer) .

Sau khi nắm trong tay công hàm bán nước do Thủ tướng Phạm văn Đồng ký vào ngày 14/9/1958. Nhà cầm quyền Bắc Kinh chờ đến khi công ty Mobil tuyên bố đã tìm thấy mỏ dầu Rose 9 và Coconut 11 tại thềm lục địa Việt Nam vào tháng 10/1973, mới ngang ngược tuyên bố chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa thuộc về Trung Cộng.

Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU cực lực phản đối và tổ chức lễ đốt đuốc Quốc Khánh VNCH tại sân Cộng Hòa tháng 11/1973 để tuyên bố trước đông đảo đồng bào, giới truyền thông trong và ngoài nước: “Việt Nam đã có mỏ dầu và Việt Nam toàn hoàn có chủ quyền trên biển Đông tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.”

Kế đến ngày 16/1/1974, Ngoại trưởng chánh phủ VNCH Vương văn Bắc đã long trọng truyên bố chủ quyền của VNCH trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên đài phát thanh Sài Gòn và các thông tấn xã ngoại quốc. Cùng ngày nầy, Trung Cộng mang hai chiến hạm 402 và 407 cùng nhiều tàu vũ trang đổ bộ lên đảo Cam Tuyền. Ngày 17/1/1974, đích thân Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu bay ra BTL/HQ vùng I Chiến Thuật, ra chỉ thị Phó đề đốc Hồ văn Kỳ Thoại - Tư lệnh HQ / Vùng I CT - chuẩn bị trận hải chiến Hoàng Sa với hải quân Trung Cộng để bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ.

Trận hải chiến Hoàng Sa thật sự bùng nổ vào lúc 10 giờ 20 ngày 19/1/1974. Trong lúc cuộc giao tranh còn đang tiếp diễn và đang gây thiệt về nhân mạng cho cả đôi bên TUYÊN CÁO CỦA BỘ NGOẠI GIAO VIỆT NAM CỘNG HÒA VỀ NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN CỦA TRUNG CỘNG TRONG KHU VỰC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA (ngày 19/1/1974), Đoạn cuối của Tuyên cáo đã nói lên ý chí sắt đá của chánh phủ VNCH: “...Trong suốt lịch sử, dân tộc Việt Nam đã đánh bại nhiều cuộc ngoại xâm. Ngày nay, Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa cũng nhất định bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ Quốc gia”.

Kết quả trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19/1/1974 như sau:

HẢI QUÂN VIỆT NAM CỘNG HÒA:

•        Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ 10 bị bắn chìm xuống đáy biển.

•        HQ 16 bị hư hại nặng.

•        HQ 4 và HQ 5 bị hư hại nhẹ.

•        Hạm trưởng HQ 10 là Hải quân Thiếu Tá Ngụy văn Thà chết theo tàu theo truyền thống Hải Quân.

•        50 chiến sĩ Hải quân bị tử thương.

HẢI QUÂN TRUNG CỘNG:

•        Soái hạm Kronstadt 271 bị tuần dương hạm HQ.5 loại khỏi vòng chiến. Hạm trưởng là Đại Tá Vương Kỳ Uy tử thương.

•        Hộ tống hạm Kronstadt 274, hạm trưởng là Đại tá Quan Đức và toàn bộ tham mưu đi trên chiến hạm nầy, gồm có Đô đốc Phương Quang Kinh, 4 HQ Đại Tá, 6 HQ Trung Tá, 2 HQ Thiếu Tá và 7 sĩ quan cấp úy đều bị tử thương.

•        Trục lôi hạm số 389, hạm trưởng là Trung tá Triệu Quát bị tử thương.

•        Trục lôi hạm số 396, hạm trưởng là Đại tá Diệp Mạnh Hải bị tử thương.

Ngay sau đó, Trung Cộng huy động một lực lượng hùng hậu gồm Hải-Lục-Không Quân với 42 chiến hạm và hai tiềm thủy đỉnh đổ bộ tràn ngập lên đảo Hoàng Sa và các đảo kế cận. Trung đội ĐPQ và toán đặc nhiệm của Quân đoàn I phân tán vào khu rừng thưa, tiếp tục chiến đấu đến viên đạn cuối cùng.

Nếu như năm 1883, trong trận chiến tại cửa biển Thuận An, có Phó Phòng Luyện LÂM HOẰNG trúng đạn cạnh pháo đài vẫn hiên ngang điều khiển ba quân, chết uy nghi, lẫm liệt như một trang dũng sĩ trung liệt . Hơn 100 năm sau trên quần đảo Hoàng Sa có HQ Thiếu tá NGỤY VĂN THÀ,  Hạm trưởng HQ 10, mặc dù bị thương nặng, vẫn hiên ngang chỉ huy thủy thủ đoàn quyết chiến với tàu Trung Cộng. Nhưng rồi, cuối cùng ông ra lệnh cho hạm phó Nguyễn thành Trí bị trọng thương cùng thủy thủ đoàn rời tàu. HQ Thiếu tá NGỤY VĂN THÀ cương quyết ở lại cùng chiến hạm HQ 10. Tàu chìm,  hạm trưởng phải ở lại với con tàu, chấp nhận hy sinh đền ơn nước. Trận hải chiến Hoàng Sa đã đi vào lịch sử chống ngoại xâm, vang  danh muôn đời.

Người lính thuộc QLVNCH được khai sinh để chiến đấu với một lời thề son sắt: bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc đến giọt máu cuối cùng... Họ vừa chiến đấu trực tiếp với quân xâm lược CSBV và Trung Cộng trong một cuộc chiến bất cân xứng, vừa đối đầu gián tiếp với cả khối Đệ Tam QTCS. Đó là sự khác biệt về bản chất giữa QLVNCH và QĐND. Chế độ chánh trị nào thì quân đội ấy, một chế độ bán nước do Hồ Chí Minh và Đảng CSVN lãnh đạo thì  chỉ đẻ ra cái QĐND dùng để đánh thuê cho bọn Đệ Tam QTCS và bảo vệ cho bọn Thái thú CS Hà Nội mà thôi.

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ thiêng liêng của Dân Tộc và Tổ Quốc Việt Nam, chớ không phải riêng của tên Thái thú Hồ Chí Minh và Đảng CSVN muốn đem mặc cả hoặc dâng hiến cho ai cũng được. Tôi thách thức BCT/TƯ/ Đảng CSVN,  hãy cố mà bào chữa cái tội bán nước tày trời của Hồ Chí Minh  đi!   

QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG CS LIÊN XÔ – TRUNG HOA VÀ VIỆT NAM QUA CÁI GỌI LÀ CUỘC “CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC”:

Mỗi khi đi tìm nguyên nhân các cuộc chiến tranh, các nhà phân tách gia Hoa kỳ thường căn cứ vào 5 nguyên tắc, viết tắt là 5 P (Five P’s): 1. Power (quyền lực), 2. Prestige (uy tín), 3. Principles (nguyên tắc), 4. Profit (quyền lợi), 5. Protection (bảo vệ).

Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai 1965 - 1975 đã hội đủ 5 nguyên tắc nầy. Đó là cuộc “CHIẾN TRANH ỦY NHIỆM” (war by proxy). Người Cộng Sản đã từng lý luận: “Chiến tranh giải phóng dân tộc là hình thức cao nhất của đấu tranh giai cấp. Ranh giới giữa nội chiến trộn lẫn vào cuộc tranh chấp giữa các thế lực quốc tế. Tranh chấp quốc tế dũi dài vào nội chiến. Nội chiến liên quan đến tranh chấp quốc tế. Mọi xung đột xã hội được khơi lên thành đấu tranh vũ trang, gây thành nội chiến. Từ nội chiến chĩa mũi dùi  vào tranh chấp quốc tế...”

Cái gọi là “Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước” là một loại chiến tranh vượt ra những nguyên tắc của trận mạc về chiến lược và chiến thuật cổ điển. Nó là những hành vi chính trị tinh vi cùng với hoạt động xã hội phức tạp. Nó kết hợp bởi nhiều loại chiến tranh: chiến tranh tư tưởng (ideological war), ngoại giao (diplomatic), văn hóa (Cultural), kinh tế (Economic), tuyên truyền (publicity), gián điệp (intelligence)...

Dĩ nhiên tiêu chuẩn chiến thắng của loại chiến tranh nầy cũng biến đổi hẳn: Chiến thắng không hoàn toàn đặt trên vấn đề tiêu diệt được bộ máy chiến tranh của chánh phủ VNCH hay chưa? mà phải đặt lên trên một tầng cao hơn nữa là uy thế chính trị của VNCH đã bị tiêu diệt hết chưa? Nếu uy thế chính trị còn thì bộ máy chiến tranh tạm thời yếu đi. Và một ngày nào đó, chiến tranh lại dấy lên dưới một dạng khác để tục giải quyết vấn đề QUỐC - CỘNG còn bỏ dở.

VIỆT NAM CỘNG HÒA & ĐỒNG MINH:

Lực lượng Hoa kỳ, Nam Triều Tiên, Tân Tây Lan, Úc, Phi Luật Tân và Thái Lan trực  tiếp tham chiến bên cạnh Quân lực VNCH trong cuộc chiến tranh VỆ QUỐC VĨ ĐẠI của Quân, Dân, Cán, Chính của Miền Nam Việt Nam.

CSBV & ĐỒNG MINH:

Liên Xô, Trung Cộng, Khối CS Đông Âu, Bắc Triều Tiên, Cuba.

Từ năm 1965 đến 1968, Trung Cộng cung cấp yểm trợ lớn lao cho CSBV về vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng... với hình thức bán chịu lên đến 20 tỉ USD, thời giá lúc bấy giờ cho 2 cuộc chiến Đông Dương. Theo lời yêu cầu của CSBV, Trung Cộng đã tăng phái nhiều toán pháo binh phòng không chống lại các cuộc không tập của Hoa Kỳ, các toán công binh sửa chửa và nới rộng hệ thống hỏa xa của Hà Nội. Các toán quân Trung cộng còn giúp quân CSBV chuyển các đồ tiếp liệu xuống đường mòn HCM.

Từ tháng 6/1965 đến cuối năm 1969, các đạo quân TC đã xây dựng xong 39 cây cầu mới, sửa chữa xong 362 km đường xe lửa cũ, 117 km đường sắt mới, 14 đường hầm...

Tổng cộng, Trung Cộng đã gởi đi 327.000 quân tới giúp Bắc Việt. Theo nhà sử học Trần Kiến (Chen Jian) nhận xét trong cuốn “China’s Involvement, pp. 327 - 380”: “mặc dù sự yểm trợ của Bắc Kinh không đúng theo mong đợi của Hà Nội, nhưng không có sự yểm trợ nầy, lịch sử và ngay cả các thành quả của cuộc Chiến Tranh VN sẽ khác đi”.

Vào tháng 10/1966, Lê Duẩn sang Bắc Kinh hội đàm với các nhà lãnh đạo Trung Cộng.  Chu Ân Lai  thúc dục CSBV phải tiếp tục chiến tranh tối thiểu tới năm 1968.

Tháng 4/1967, Phạm văn Đồng và Võ Nguyên Giáp dẫn một phái đoàn qua Moscow cầu viện. Các ông trùm trong điện Cẩm Linh chấp thuận tái tiếp tế để ngăn chận ảnh hưởng của Trung Cộng đối với CSBV. Thật vậy, Liên Xô vượt trội Trung Cộng như là nhà thầu cung cấp quân sự lớn nhất cho CSBV. Hà nội đã mua chịu vũ khí, bom đạn của Liên Xô để giết người Việt Quốc Gia lên đến 17 tỷ USD, cho đến giờ đây dân Việt Nam còn phải è cổ trả nợ trong nhiều thế hệ nữa.

Thời gian từ năm 1964 tới 1974, Liên Xô cung cấp các loại mặt hàng quân sự cho CSBV lên đến 50% và phần còn lại dành để trợ giúp cho cho Cuba và Bắc Triều Tiên.

Từ năm 1965 đến 1968, có tới 3.000 cố vấn Liên Xô tham chiến bên cạnh quân CSBV và huấn luyện họ cách sử dụng các chiến cụ do Liên Xô cung cấp “Ramesh Thakur & Carlyle A. Thayer, Soviet Relations with India & VN” (London: Macmillan, 1992, p. 117). Cựu Đại Tá  Liên Xô ALEXEI VINOGRADOV đã viết rằng: “Người Mỹ đã biết rõ rằng các máy bay Bắc Việt kiểu Liên Xô thường do các phi công Liên Xô lái”. Chánh quyền Hoa Kỳ  biết rõ, nhưng vẫn giữ bí mật để dân Mỹ không làm áp lực về giới hạn cuộc chiến tranh ủy nhiệm nầy.

Hà Nội đã thành công khi kiếm được sự trợ giúp quân sự và cam kết từ Moscow. Hồ và Đảng Lao Động dự trù kế hoạch tổng nổi dậy, tấn công Miền Nam vào dịp Tết Mậu Thân 1968. Nhưng, kế hoạch nầy đi ngược lại với chủ trương của Trung Cộng là dùng chiến tranh du kích, trường kỳ kháng chiến để kéo dài cuộc chiến, càng lâu dài càng có lợi cho Trung Cộng. Ý đồ thâm độc của Trung Cộng trong sách lược “ĐÁNH MỸ ĐẾN NGƯỜI VIỆT NAM CUỐI CÙNG” và “DĨ VIỆT CHẾ VIỆT” (dùng người Việt, chế ngự người Việt) làm cho VIỆT NAM KIỆT QUỆ HOÀN TOÀN về nhân lực, tài lực và hủy diệt nền VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC, từ đó dễ bề thôn tính và Hán hóa Việt Nam, làm bàn đạp bành trướng xuống vùng Đông Nam Á, làm chủ tình hình Biển Đông, nuốt chững toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. 

Như mọi người đã biết, quân chính quy CSBV và MTGPMNVN đã hoàn toàn thất bại trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân năm 1968 đều khắp lãnh thổ Miền Nam, họ bị QLVNCH và đồng minh Hoa Kỳ đánh bại sau 3 tuần lễ tàn phá khắp nơi. Riêng tại Huế, người ta tìm thấy gần 5.000 tử thi thường dân vô tội bị tra tấn, chôn sống trong các mồ chôn tập thể bởi quân Việt Cộng khát máu. Cuộc tổng công kích Mậu Thân thất bại, nhưng Hà Nội đã thành công tạo nên sự rối loạn chính trị tại Hoa Thinh Đốn và từ đó dẫn đến việc ký kết HIỆP ĐỊNH PARIS vào ngày 27/1/ 1973.

Ngày 29/3/1973, các đơn vị cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh ủy nhiệm nầy, Hoa Kỳ bị tổn thất 58.000 quân, cao hơn chiến tranh Cao Ly 56.000 quân. Nhưng, Hoa Kỳ đã để lại 10.000 quân Nam Triều Tiên để ngăn chận làn sóng đỏ từ Bắc Triều Tiên. Nhưng Hoa Kỳ đã không làm điều nầy đối với Miền Nam Việt Nam.

CUỘC CHIẾN TRANH VỆ QUỐC VĨ ĐẠI CỦA QUÂN LỰC VNCH:

Năm 1974, viện trợ quân sự cho VNCH chỉ còn 1 tỷ USD, một khẩu đại bác 105 ly, 155 ly chỉ được bắn 3 quả đạn/1 ngày, một trực thăng chỉ có đủ xăng bay một, hai giờ. Từ đầu năm 1975, số viện trợ quân sự chỉ còn 700 triệu USD. Trong khi đó, Moscow bán chịu cho Hà Nội chiến cụ nặng như: phản lực MiG, chiến xa T54, đại pháo, hỏa tiển...Bắc Kinh cung cấp cho Hà Nội sung trường AK 47, súng cối, đại bác không giật, sơn pháo, quân trang, quân dụng... theo thể thức: xài trước trả nợ sau. Và số nợ mua chịu vũ khí, bom đạn của Liên Xô và Trung Quốc lên đến 37 tỷ USD (thời giá lúc bấy giờ) Nếu không có sự yểm trợ vô giới hạn nầy làm sao quân CSBV có thể xăm lăng được MNVN?

Theo nhận xét của ký giả người Úc tên GREG SHERIDAN viết trên tờ nhật báo Australian số ra ngày 24/4/ 2000. Xin tóm lược:

“Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến  đầy chính nghĩa, một cuộc chiến đáng lẽ phe Tự Do phải thắng. Về phương diện đạo đức và chiến lược mà nói, Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi đã hoàn toàn có lý khi tham chiến ở Việt Nam. Sau cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, tổ chức VC đã gần như bị tiêu diệt gần hết và cho đến năm 1971 thì quân đội CSBV cũng gần như bị đánh tan hoang. Năm 1972 chẳng hạn, khi chỉ còn khoảng 20.000 quân đồng minh Hoa Kỳ và muơi ngàn quân Úc hoạt động ở Việt Nam. Trong khi đó, vẫn còn 300.000 quân Trung Cộng có mặt ở Bắc Việt. Quân lực VNCH đã bẻ gẫy một đợt tổng tấn công của quân CSBV từ bên kia Bến Hải tràn vô 3 mặt trận chính: Quảng Trị, Kontum - Pleiku và Bình Long - An Lộc. Năm 1972, QL/VNCH đã chứng tỏ là những chiến binh can trường và thiện chiến không kém gì quân đội Hoa Kỳ và quân CSBV. Nhưng, tại sao QLVNCH đã thất bại trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của họ?  Tôi ( Greg Sheridan) chỉ thấy một lý do duy nhất là từ năm 1972 trở đi Hoa Kỳ và các nước đồng minh của họ không ngừng cắt bớt viện trợ quân sự và kinh tế cho chánh phủ VNCH và gần như bỏ rơi MNVN. Trong khi đó thì Liên xô và Trung Cộng đã đổ không biết bao nhiêu viện trợ quân sự cho Hà Nội.

Nếu Hoa Kỳ tiếp tục cho Không Lực yểm trợ QLVNCH thì tôi tin chắc rằng chánh phủ VNCH không cần sự giúp đở của bộ binh Đồng minh. Nhưng nếu vẫn được viện trợ quân sự và kinh tế thì chánh phủ VNCH đã tiếp tục đứng vững như Nam Triều Tiên và Đài Loan trước sự hăm dọa của Bắc Triều Tiên và Hoa Lục. Và nếu chế độ VNCH còn tiếp tục tồn tại cho đến bây giờ thì rất có thể MIỀN NAM VIỆT NAM cũng có thể phát triển theo đường hướng ghi nhận ở Nam Hàn và Đài Loan và đã trở nên giàu có, dân chủ và tự do như như hai nước kia...”

Trước năm 1960, VIỆT NAM CỘNG HÒA dưới sự lãnh đạo của TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH ĐIỆM, lợi tức đầu người / 1 năm: Hoa Kỳ 1.959 USD, Nhật  245 USD, VNCH 141 USD, Đài Loan 121 USD, Thái Lan 64.2 USD, Ấn Độ 55 USD, Đại Hàn lúc bấy giờ còn quá nghèo chưa đáng kể. Đồng bạc VNCH rất có giá: 37$ ăn 1 USD. Sự giàu có của VNCH vào những năm 1955 - 1956 được ghi nhận: tư nhân ký thác vào ngân hàng từ 5 đến 6 tỷ đồng. Trong khi đó Hoa Kiều chỉ có  18% hay 631 triệu trên tổng số ký thác “The economic situation in VN - Asian Culture, Vol II, No. 2- 1960 trang 17- 62”.

Miền Nam Việt Nam đang thịnh vượng và giàu có được ghi nhận như là một thời THÁI BÌNH THỊNH TRỊ sau 100 năm bị thực dân Pháp đô hộ thì tai họa ập đến từ 2 phía:

•        Hồ Chí Minh quyết tâm nhuộm đỏ MNVN trước và các quốc gia Đông Nam Á sau, theo lệnh của bọn Đệ Tam CSQT và Mao Trạch Đông trực tiếp đe dọa đến chiến lược sinh tồn của Hoa Kỳ và Anh Quốc và khối Anglo Saxons ở Úc và New Zeland.

•        Hoa Kỳ quyết tâm xây dựng một tiền đồn ngăn chận làn sóng đỏ tại MNVN để bảo vệ quyền lợi của họ tại ĐÔNG NAM Á CHÂU và khu vực Thái Bình Dương theo học thuyết DOMINO.

Rõ ràng điều đó đã chứng minh: Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã gây ra cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn vì quyền lợi của bọn Đệ Tam QTCS và Trung Cộng. Lê Duẫn đã nói thẳng: “TA ĐÁNH MỸ CHO LIÊN XÔ VÀ TRUNG QUỐC.” Cùng với Hồ Chí Minh, Lê Duẫn đã đi vào lịch sử thế giới: “NHỮNG TÊN LÃNH TỤ THẤT HỌC NGU NGỐC VÀ  ĐẦN ĐỘN NHẤT THẾ GIỚI.”

Ngày 16/6/1997, Thông tấn Xã CSVN công bố con số thiệt hại qua 2 cuộc chiến vô ích nầy đã làm 3 triệu triệu chết (nhưng theo ký giả Satya Sivaraman, CSBV đã hy sinh đến 4.1 triệu người chết) 4,4 triệu thương tật, 2 triệu người bị nhiễm chất độc hóa học. Mười năm sau 1975, có 5 triệu trẻ em dị dạng ra đời. Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng...những tên Thái Thú của Trung Cộng thực hiện SÁCH LƯỢC HÁN HÓA CỦA MAO TRẠCH ĐÔNG đã xóa sạch nguyên cả thế hệ thanh niên Việt Nam để phục sự tham vọng bành trướng lãnh thổ  của Trung Cộng .

Kẻ chiến thắng trong cái gọi là cuộc “CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC” do Hồ Chí Minh lãnh đạo và những tên kế tục sự nghiệp ngu xuẩn của ông ta, chính là Liên Xô và Trung Cộng. Các nhà lãnh đạo Xô Viết chỉ giành được quyền lãnh đạo Cách Mạng Thế Giới từ tay Mao Trạch Đông, chặn đứng Trung Cộng tại biên giới phía nam, và tạm thời làm Hoa Kỳ rút lui vào chủ nghĩa cô lập “isolationism”.

Còn Trung Cộng thu được mối lợi khổng lồ hơn nhiều. Làm thế nào bọn đầu nậu Bắc Bộ Phủ trả cho xong số nợ khổng lồ 20 tỷ USD mua chịu bom đạn của Trung Cộng để gây nên cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn khốc liệt trong suốt 30 năm, qua 2 cuộc chiến tranh Đông Dương vô ích? Phải dâng lãnh thổ và lãnh hải của Tổ Tiên cho Trung Cộng để trừ nợ, đồng thời nhờ Trung Cộng bảo hộ Đảng CSVN củng cố và duy trì quyền lực thống trị tại Việt Nam.

Bọn THÁI THÚ CS HÀ NỘI từ HCM cho đến Duẫn, Chinh, Mười, Anh, Phiêu, Lương cho đến Mạnh, Triết, Dũng, Trọng, Rứa...là những tên tội đồ của Tổ Quốc và Dân tộc Việt Nam đã hiến đất, dâng biển cho TC đến con số làm ai cũng phải đau lòng xót xa:

•        Đã nhượng cho Trung Cộng một dãy đất từ 2 km đến 12 km dọc theo biên giới dài khoảng 13.000 km. Như vậy, tổng cộng diện tích đã mất có thể từ 2.600 km2 đến 15.000 km2

•        Với lằn ranh trung tuyến mới áp dụng tại Vịnh Bắc Việt thay thế cho đường Brévié thì vùng biển bị mất có thể ước tính được từ 10% đến 16%, khoảng 12.000 đến 20.000 km2

•        Sau cuộc chiến tranh Hoa - Việt từ 17/2/ 1979 kéo dài đến 16/3 /1979, Trung Cộng chiếm thêm một số đất đai nữa và để lại nhiều đơn vị chính quy bám trụ trên những đỉnh cao chiến lược. Như vậy, Trung Cộng đã chiếm lĩnh và kiểm soát hầu hết các cao điểm chiến lược miền Thượng Du Bắc Việt.

•        Uất hận lên đến cực điểm, lòng dân sôi sục căm thù khi bọn Thái thú CS Hà Nội dâng nốt  CAO NGUYÊN TRUNG PHẦN cho quan thầy Trung Cộng qua DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE chuẩn bị khai tử Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam.

There was never a war (WW II) in all history easier to prevent by timely action...but no one would listen...we surely must not let that happen again.” (Thế chiến thứ II đã không bao giờ xảy ra trong lịch sử nếu có những hành động ngăn chận đúng lúc...nhưng không một ai muốn lắng nghe...chúng ta phải chắc chắn điều nầy không tái diễn.)

 WINSTON CHURCHILL (1946)

NHỮNG TÍN HIỆU CHIẾN TRANH CỦA TRUNG CỘNG GỞI ĐẾN HOA KỲ VỚI THAM VỌNG MUỐN LÃNH ĐẠO THẾ GIỚI VÀO THẾ KỶ 21:

Vào cuối thế kỷ thứ 20, Trung Cộng đã hai lần tuyên bố rằng HOA KỲ LÀ ĐẠI ĐỊCH (main enemy) của họ. Năm 1994, một tướng lãnh cao cấp Trung Cộng nói: “Hoa Kỳ muốn làm bá chủ sự bang giao quốc tế của ta... và muốn lật đổ guồng máy XHCN, chúng ta cần phải củng cố quân đội cho hùng mạnh hơn.”

Kế đó vào năm 1998, Bạch Thư của Bộ Quốc Phòng Trung Cộng trâng tráo nói rằng: “TRUNG CỘNG PHẢI LÃNH ĐẠO THẾ GIỚI VÀO THẾ KỶ 21.”

Bước sang thế kỷ thứ 21, vào mùa thu năm 2000, Ông YAN XUETONG, chuyên gia về AN NINH QUỐC TẾ của trường Đại học nổi tiếng BẮC KINH, đã nhấn mạnh rằng: “TRUNG QUỐC chuẩn bị đối phó với HOA KỲ? Câu trả lời của tôi là đúng vậy.” Điều đó chứng tỏ rằng, Trung Cộng luôn xem Hoa Kỳ là kẻ thù số 1 thế giới và đang thực hiện sách lược KHAI THÁC TỐI ĐA ƯU ĐIỂM CỦA HOA KỲ, ĐỂ LÀM CHO TRUNG QUỐC HÙNG MẠNH HƠN KẺ THÙ. Vào giữa tháng 10, năm 2000. quân đội Trung Cộng đã biểu dương lực lượng, sẵn sàng hành động tại 4 địa điểm miền Bắc Trung Hoa.

Tất cả chỉ vì vấn đề Đài Loan. Dưới con mắt của các lãnh đạo Bắc Kinh đánh giá Hoa Kỳ là thế lực thù nghịch, ngăn chận việc họ muốn thực hiện ý đồ thu hồi Đài Loan về với Trung Hoa Lục Địa nhằm cô lập và phong tỏa Nhật Bản và Nam Hàn ở phía Bắc Á Châu. Với sự yểm trợ của Hoa Kỳ cho Đài Loan đã làm cho các giới quân sự Trung Cộng hình dung những tình huống xấu nhất.

Theo các chuyên gia Tây phương. Kể từ năm 2000, Bắc Kinh đã gia tăng ngân sách sách quốc phòng hằng năm để đuổi kịp Hoa Kỳ. Quân đội Trung Cộng nghiên cứu các kỷ thuật của Serbia, đã ngụy trang các giàn hỏa tiển địa không do Nga sản xuất, phối trí dọc bờ biển và tối tân hóa các giàn phòng không tại những thành phố lớn của Hoa Lục. Tuy nhiên vào thời điểm nầy, những nổ lực của Trung Cộng không thể so sánh được với sức mạnh về quân sự của Hoa Kỳ. Ông Robert Karniol - Chủ bút tạp chí quốc phòng JANE’ S - tóm lược: “Một hố sâu to lớn. Họ (Trung Cộng) không thể đơn giản so sánh với lực lượng quân sự Hoa Kỳ”.

Ngày 14/7/2005, một tướng lãnh cao cấp của Trung Cộng là Trì Hạo Điền lại tiếp tục hăm dọa Hoa Kỳ bằng vũ khí nguyên tử, nếu Hoa Kỳ vẫn giữ lập trường, hứa sẽ bảo vệ Đài Loan khi bị Trung Cộng tấn công: “Chúng ta sẽ đáp ứng lại Hoa Kỳ bằng vũ khí nguyên tử. Người dân Mỹ phải chuẩn bị cho sự tiêu diệt hàng trăm thành phố bởi nước Trung Hoa.”

Vì vậy, đầu năm 2005, Ngũ Giác Đài báo cáo chi phí quốc phòng của Trung Cộng gia tăng 3 lần với công bố chính thức là 30 tỷ Mỹ Kim. Ông Bộ trưởng Quốc Phòng lúc bấy giờ là Donald Rumsfeld đặt dấu hỏi: “Khi không có quốc gia nào đe dọa Trung Hoa,  tại sao gia tăng đầu tư vào nó? Tại sao phải tiếp tục mở rộng lãnh vực quân sự và mua thật nhiều vũ khí?”

Tưởng cũng nên nhắc lại rằng:

Trên tờ báo The Washington Times số ra ngày 19/4/2001 có đăng nguyên một trang thư của ông Howard Phillips – PRESIDENT THE CONSERVATIVE CAUCUS FOUNDATION – gởi Tổng Thống Bush một bản phúc trình tập trung vào vấn đề thực tế về Trung Hoa Đỏ (Red China) sẽ ảnh hưởng đến nền an ninh và quốc phòng tương lai của Hoa Kỳ. Bản phúc trình nầy có tựa đề: “ADDRESSING THE INCREASE OF COMMUNIST CHINA’ S WAR FIGHTING CAPABILITIES” với trên 30 đề tài nóng bỏng. (The conservative Caucus Foundation, Inc. 450 Maple Avenue East. Vienna, VA 22180).

Ông Michael Scroccaro – Giám đốc Sterling Communication – có viết bài bình luận COMMENTARY: CHINA SIGNALS WAR, WILL THE WORLD LEARN FROM HISTORY? Với phần mở đầu là lời phát biểu của ông Rudolph Giuliani nói ngày 27/1/2003 như sau: “Năm 1930, HITLER nói cho chúng ta biết những tham vọng của ông ta. Nhưng, chúng ta phớt lờ đi từ năm nầy qua năm khác. Năm 1990, khủng bố cho chúng ta biết ý đồ của chúng và chúng ta cũng phớt lờ.”

Và trong phần kết luận, ông Michael Scroccaro đặt câu hỏi: “Tại sao phương Tây đang tiếp tục làm ngơ trước những tín hiệu và bài học của lịch sử nữa chăng? Có phải vì những tin tức từ trong Trung Hoa lục địa không rõ ràng, không đủ sức thuyết phục để chúng ta lưu tâm sao? (So, why is the West ignoring the signs and lessons of history yet again? Could it be that news out of China is not clear or compelling enough to grasp our attention?).

CHIẾN LƯỢC “PHÁT TRIỂN HÒA BÌNH” CỦA HỒ CẨM ĐÀO: NÓI MỘT ĐÀNG LÀM MỘT NẺO.

Hai thập niên trước, Đặng Tiểu Bình đã cảnh giác các nhà lãnh đạo Bắc Kinh, những tên kế thừa sự nghiệp của ông ta với 3 nguyên tắc để xây dựng lực lượng chờ thời cơ:

-BẤT DƯƠNG KỲ (Chớ phất lá cờ của mình)

-BẤT ĐƯƠNG ĐẦU (Đừng dính vào tranh chấp)

-THAO QUANG DƯỠNG HUY (Dấu năng lực và chờ đợi thời gian)

Những nguyên tắc chiến lược của họ Đặng đã gây tranh luận trong nội bộ Đảng CS Trung Hoa về vấn đề đối ngoại, vì nó phải đòi hỏi phải một thời gian khá dài. Nhưng, Giang Trạch Dâng là người đã phá vỡ nguyên tắc nầy và đã gây căng thẳng giữa cộng đồng quốc tế và đặc biệt là Hoa Kỳ. Họ Giang vì nôn nóng, muốn đốt giai đoạn, đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải xem Trung Cộng như một cường quốc trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương ít ra trong lúc nầy và sẽ thay thế Hoa Kỳ trong vị trí siêu cường lãnh đạo thế giới vào thế kỷ thứ 21. Những tín hiệu chiến tranh ồn ào gởi đến Hoa Kỳ và khống chế Biển Đông và Châu Á Thái Bình Dương được Đảng CS Trung Hoa chủ quan, đánh giá cao như một sự “trổi dậy” của Trung Hoa,“tiếp sinh khí” (revitalization) để làm cho Trung Hoa “trẻ lại” (revitalization).

Nói theo dịch lý, Giang Trạch Dâng đã lâm vào thế “Kháng long hữu hối”. Con rồng bay quá cao chỉ còn chờ có nước rơi xuống đất thành con rồng đất. Nói theo ngôn từ Thiers: “Làm chánh trị không thành công quá mức” (En politique, il ne faut pas trop réussir). Nếu không đủ khả năng và tài thao lược thì chẳng khác vì con rồng non mà đã cuộn mình bay lên cao, vượt quá khả năng của nó. Hitler là một thí dụ điển hình. Thất bại của ông ta là kết quả của những thắng lợi quá nhanh của ông. Sự lớn mạnh của Hitler như sự trổi dậy nhanh chóng của một cây trứng cá, tàn tuy rậm rạp, nhưng chỉ có rễ chùm bám tràn lan trên mặt đất và thiếu rễ cái để bám sâu trong lòng đất để chống lại những cơn giông bão vì Trung Cộng còn phải đối diện với nhiều nan đề trong nước như vấn đề chủng tộc, sự giàu nghèo giữa giai cấp lãnh đạo và giai cấp công, nông dân, giữa thành thị với nông thôn và nhất là sự tranh giành quyền lực trong nội bộ Đãng CS Trung Hoa... Hitler chỉ biết thừa thắng xông lên phía trước, mà không biết củng cố những thắng lợi vừa đoạt được, nên đã lâm vào thế “kháng long hưu hối”. Lối gào thét của Hitler dọa nạt chỉ thắng lợi thời gian đầu, về sau bị cả thế giới thù ghét.

Nếu như cuộc đời chánh trị của Đặng Tiểu Bình mang một vết nhơ là ra lệnh điều động xe thiết giáp, đàn áp đẩm máu phong trào sinh viên xuống đường đòi dân chủ ở Thiên An Môn vào tháng 6/1989 thì sự nghiệp chánh trị của Giang Trạch Dân cũng mang ba vết nhơ:

- Trước khi xảy ra vụ thảm sát Thiên An Môn, họ Giang đã tích cực ủng hộ chánh quyền và đã bí mật trao cho Đặng Tiểu Bình một lá thư với nội dung: yêu cầu phải có “biện pháp đúng đắn”  để triệt hạ nhóm sinh viên học sinh tiến bộ; nếu không, thì sẽ đưa quốc gia vào cơn biến loạn.

- Lợi dụng Đảng CS Trung Hoa, họ Giang dùng tất cả mọi thủ đoạn tàn bạo, dã man với tất cả xảo thuật tuyên truyền để phát động chánh sách khủng bố toàn diện, đàn áp Pháp Luân Công từ năm 1999 kéo dài cho đến tận bây giờ... Các học viên Pháp Luân Công đã bị tra tấn, đánh đập cho đến chết, bị đưa đến các bệnh tâm thần và bị cưỡng hiếp. Nhiều nạn nhân bị mổ sống để lấy nội tạng bán trên thị trường chợ đen.

- Giang Trạch Dân và Lý Bằng phải trả lời về tội ác chống nhân loại đối với dân tộc Tây Tạng.

Chủ nghĩa CS Trung Hoa dưới triều đại Giang Trạch Dân dưới cái nhìn thiếu thiện cảm của Cộng Đồng Thế Giới vì bản chất độc tài, tàn bạo, sắt máu của CHỦ NGHĨA CS TRUNG HOA = CHỦ NGHĨA THỰC DÂN + PHÁT XÍT và bị thế giới lên án là xuất cảng tội ác sang Phi Châu, Trung Đông, Pakistan... Đặc biệt tại lục địa đen Phi Châu nơi có một nửa dân số sống trong nghèo khổ.  

Vì thế, Hồ Cẩm Đào cần phải tân trang bộ mặt của Đảng CS Trung Hoa. Bằng thái độ khiêm cung hòa nhã, ông ta đã đặt tên cho chiến lược mới của Trung Hoa là “PHÁT TRIỂN HÒA BÌNH” (Peaceful Development).

Hồ Cẩm Đào đã gởi tín hiệu hòa bình đến Cộng Đồng Thế Giới là Đảng CS Trung Hoa tránh lập lại những kinh nghiệm trong quá khứ của những cường quốc lúc bấy giờ là Đức Quốc Xã và Nhật Bản đã gây nên Thế Chiến thứ II? Nhưng sự thật, Hồ Cẩm Đào nói một đàng làm một nẽo, cũng ồn ào và tham vọng không kém gì Hitler trước đây. Sở dĩ Hitler thất bại vì phạm vào lỗi “Quan dĩnh tự cầu khẩu thực” (hãy đo miệng mà nuốt mồi). Tuy rằng lúc đó lực lượng chính trị và quân sự của Đức Quốc Xã chưa đủ để thực hiện tham vọng của y. Nhưng, Hitler không biết tự lượng sức mà tung hoành. Chung quanh những chiến thắng dồn dập lúc ban đầu là những nguy biến đang rình rập, làm Thế Chiến Thứ II bùng nổ. Hitler như con trăn quấn và nuốt được con heo rừng, chính lúc đó là lúc con trăn yếu nhất. Nhật vào Trung Hoa thật dễ dàng với chiến thắng như chẻ tre lúc ban đầu, nhưng rồi chính Nhật sa lầy ở đó. Hồ Cẩm Đào kế thừa tham vọng khống chế biển Đông của những tên lãnh tiền nhiệm và chắc chắn không chống thì chầy, con rồng Trung Hoa sẽ chết đuối tại biển Đông vì lổi “không biết đo miệng mà nuốt mồi”, tham vọng của Trung Cộng thì quá lớn mà khả năng còn rất hạn chế.

SÁCH LƯỢC KHỐNG CHẾ TOÀN BỘ  BIỂN ĐÔNG VÀ ĐÔNG NAM Á CHÂU CỦA TRUNG CỘNG:

Biển Đông là một biển phụ của Thái Bình Dương, rộng khoảng 3,5 triệu km2. Bao bọc Biển Đông gồm các quốc gia: Trung Cộng, Việt Nam, Philippines, Indonesia, Malaysia, Singapore, Brunei, Thai Lan, Kampuchea và Đài Loan. Biển Đông có hàng trăm quần đảo lớn nhỏ, giàu tài nguyên dầu hỏa, khoáng sản và thủy sản...

Biển Đông còn là một vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất ở Châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng, một tuyến hàng hải quốc tế quan trọng giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, đặc biệt là eo biển Malacca vào Ấn Độ Dương, nó ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của khoảng 300 triệu dân cư tại các quốc gia kể trên. Vì thế, Biển Đông đã trở thành đầu mối tranh chấp chủ quyền rất căng thẳng từ khi Trung Cộng tuyên bố về chủ quyền với biển Đông.

Tại buổi hội thảo quốc tế về Biển Đông tại Hà Nội từ ngày 26/ 11/ 2009 vừa qua, Trung Cộng có yêu sách chủ quyền lớn nhất với 80% diện tích trong 3,5 triệu km2 thông qua đường LƯỠI BÒ hay chử U chín đoạn với ý đồ khống chế toàn bộ biển Đông, đã bị một số học giả phê phán là KHÔNG CÓ CƠ SỞ PHÁP LÝ (xin tóm tắt):

GS MARK J. VALENCIA (Mỹ): Tuyên Bố của Trung Cộng về chủ quyền với Biển Đông rất mập mờ, không giải thích rõ ràng, thực ra đường CHỮ U đó là gì?

GS RAMSES AMER (Thụy Điển): Về mặt tư liệu, Trung Cộng dù có chuẩn bị tốt hơn. Nhưng, thềm lục địa thì không thể chỉ căn cứ trên văn bản mà là THỰC ĐỊA. Dù Trung Cộng có tuyên bố bao nhiêu vùng biển thuộc chủ quyền của mình thì đó cũng chỉ LỜI TUYÊN BỐ. Ông cho rằng: Chính các học giả Trung Cộng cũng không am tường thực sự đường lưỡi bò thể hiện điều gì.

GS LOKSHIN G. MIKHAILOVICH (Nga): Trung Cộng muốn biến Biển Đông thành hồ của Trung Cộng là KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC. Rõ ràng, quan điểm của họ là hết sức thiếu nghiêm túc, chỉ mang tính tuyên truyền hơn là dựa trên cơ sở pháp lý. Chánh sách BA KHÔNG của Trung Cộng:

-Nói KHÔNG với Quốc Tế Hóa vấn đề Biển Đông.

-Nói KHÔNG với đối thoại đa phương.

-Nói KHÔNG với bất kỳ cơ quan thứ ba nào can dự giải quyết v/đ Biển Đông.

Chánh sách đối ngoại ba không nầy, khiến cho xung đột Biển Đông không có hướng giải quyết. Điều nầy làm nước Nga lo ngại vì nước Nga cũng có lợi ích ở Biển Đông, vì là thành viên của khu vực lớn hơn là Châu Á - Thái Bình Dương nên chúng tôi muốn khu vực ổn định và hòa bình, bảo đảm tự do thông thương, vận chuyển và an ninh khu vực.

GS IAN TOWNSED GAULT (Canada): Các nước không cần phải lo ngại về đường lưỡi bò, vì khi Trung Cộng phê chuẩn CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN của LHQ (UNCLOS) và đường lưỡi bò đó trở nên VÔ GIÁ TRỊ, vì theo công ước chủ quyền quốc gia được tính từ đường cơ sở ven biển vươn ra bao nhiêu hải lý đã được quy định rõ. Hơn nữa, đường lưỡi bò mà Trung Cộng vẽ KHÔNG ĐƯỢC GIỚI LUẬT GIA CÔNG NHẬN. UNCLOS là một văn bản hiện đại. Một khi phê chuẩn có nghĩa là Trung Cộng phải từ bỏ việc đòi hỏi chủ quyền trong đường lưỡi bò.

NAZERY KHALID (Mã Lai): Từ góc độ pháp lý, yêu sách của Trung Cộng không phù hợp với bất kỳ quy định nào của UNCLOS.

TƯỚNG DANIEL SCHAEFFER (Pháp): Trong các bản đồ của Trung Cộng có in đường 9 đoạn nầy và họ luôn bảo vệ những gì mà nước nầy đã yêu sách chủ quyền Biển Đông trong khu vực bao quanh bởi 9 đoạn nầy. Cho đến nay, chánh quyền Trung Cộng chưa bao giờ đưa ra bất kỳ văn bản pháp lý chính thức nào khi tuyên bố chủ quyền của Trung Cộng ở khu vực được khoanh vùng bởi 9 đoạn nầy. Vì thế bản đồ nầy HOÀN TOÀN KHÔNG HỢP LỆ.

GIÁO SƯ JI GUOXING thuộc ĐẠI HỌC JIAOTONG (Thượng Hải) trình bày quan điểm của Trung Cộng diễn ra theo 3 phương hướng:

-Tranh chấp chủ quyền trên các hòn đảo.

-Xác nhận vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

-Quyền tự do hàng hải.

Theo GS Ji, Trung Cộng đã nhiều lần khẳng định với các nước trung khu vực rằng: họ sẽ tôn trọng quyền tự do và an toàn hàng hải qua Biển Đông như Nhật, Hàn Quốc và nhất là Hoa Kỳ trước sự gia tăng mạnh mẽ sức mạnh hải quân của Trung Cộng.

Rõ ràng, đây chỉ là chiến thuật “MỘT BƯỚC LÙI HAI BƯỚC TIẾN” trong chiến lược dài hạn của Trung Cộng. Chiến lược đó rất rõ, Trung Cộng không bao giờ từ bỏ mộng làm bá chủ Biển Đông, ban đầu gián tiếp về sau trực tiếp, mặc dù đường lưỡi bò vô giá trị đối với UNCLOS.

HAI TUYẾN PHÒNG THỦ CỦA TRUNG CỘNG TRÊN BIỂN ĐÔNG:

Trung Cộng không che đậy kế hoạch thiết lập hai vòng đai phòng thủ đảo biển, bao gồm toàn bộ Biển Đông và khu vực Đông Nam Á:

VÒNG THỨ NHẤT: Chạy từ Đài Loan qua quần đảo Trường Sa tới Singapore ở cuối bán đảo Malaysia, trong đó có các đảo nhỏ thuộc Nhật Bản, Okinawa, Philippines và Brunei. Bắc Kinh nói sẽ giành quyền kiểm soát vào năm 2010 (gần rồi, nhắm làm nổi không hay chỉ đánh võ mồm?)

VÒNG THỨ HAI: mở rộng đến tận Australia. Bắc Kinh nói sẽ giành quyền kiểm soát vào năm 2040. (liệu chế độ Cộng sản Trung Hoa có còn tồn tại đến năm 2040 để thực hiện tham vọng nầy?)

Theo Trương Thiệu Trung, - Giám đốc cơ quan Giáo dục Khoa học và Kỷ thuật Quân Sự thuộc Học viện Quốc Phòng - phát biểu rằng: 

ĐÔNG NAM Á:  Philippines, vịnh Cam Ranh của Việt Nam và eo biển Malacca đi qua Singapore tạo thành một tam giác chiến lược và các quốc gia nằm trong phòng thủ thứ nhất mang ý nghĩa địa lý chánh trị quan trọng vì eo biển Malacca ảnh hưởng đến sự sống còn và phát triển của Trung Cộng.

ĐÔNG BẮC Á: bao gồm  Đài Loan, Nhật Bản và Nam Hàn cũng không kém phần quan trọng. Cả hai tam giác chiến lược nầy đều chế ngự cửa ngõ ra vào Thái Bình Dương và là địa bàn quan tâm chủ chốt của Hoa Kỳ. Cùng với Nhật Bản luôn coi Thái Bình Dương là sân chơi riêng của họ và không muốn thấy Trung Cộng vươn ra khỏi vòng đai phòng thủ thứ nhất.

GS Trương nhận định rằng: Quan hệ Hoa Kỳ và Trung Quốc tuy phát triển mạnh và tích cực trong các lĩnh vực chánh trị, kinh tế, ngoại giao, nhưng trong lãnh vực quân sự, Hoa Kỳ không hề thay đổi lập trường. Sự ganh đua giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc về quân sự vẫn còn đó.

Tóm lại, Hoa kỳ tin chắc rằng một số dữ kiện về khả năng quân sự, những vũ khí mới hiện đại... của Trung Cộng được thổi phồng lên trở thành con “ngáo ộp” để hù dọa các nước nhược tiểu trong khu vực Đông Nam Á đặc biệt đối với VN. Với chánh trị người ta không thể quên thủ đoạn nầy: “Deception is a major weapon of the enemy” (Lừa dối là vũ khí chính yếu của địch). Chính Hoa Kỳ đã bị một cú lừa ngoạn mục của Liên Xô trước đây:

Năm 1952, Liên Xô thao diễn quân đội, mời các đại biểu Tây Phương đến dự. Liên Xô cho trình diễn loại oanh tạc cơ khổng lồ BISONS. Lúc đó, Liên Xô chỉ có 9 chiếc, nhưng cho làm giả tới 50 chiếc và dùng gián điệp bắn tin là sang năm 1954 là LX sẽ có tới 500 chiếc BISONS. Hoa Kỳ phát hoảng, Quốc Hội bàn cãi đả kích chánh phủ. Vì vậy, chánh phủ Hoa Kỳ vội vàng cho cấp tốc sản xuất loại oanh tạc cơ chiến lược khổng lồ B52 đã sử dụng trong chiến tranh Việt Nam trước đây. Sau khi biết Hoa Kỳ bị mắc lừa. Liên Xô bỏ kế hoạch sản xuất Bisons, dồn mọi nổ lực vào việc nghiên cứu hỏa tiển không gian. Vì vậy, năm 1961. Liên Xô đã phóng thành công phi thuyền VOSTOK 1, đưa phi hành gia YURI GAGARIN  lên quỷ đạo trái đất trước Hoa Kỳ.

BÀI HỌC VỀ TINH THẦN DÂN TỘC CỦA INDONESIA:

Chỉ một tuần, trước khi Hạ viện Indonesia sửa đổi “LUẬT THỦY SẢN” cho phép tàu tuần tra khai hỏa và đánh chìm các tàu đánh cá nước ngoài, đánh bắt hải sản trái phép trong vùng biển của Indonesia. Tàu hải quân Indonesia đã nã đạn vào một tàu đánh cá của TRUNG CỘNG, gây tử thương cho một thủy thủ và 2 người khác trên tàu bị thương. Trước đó, chánh phủ Indonesia cũng đã bắt giữ 8 tàu đánh cá và 75 ngư dân, khiến cho bọn CS Bắc Kinh phải chánh thức lên tiếng, đòi trả tự do cho những ngư dân nầy. Phía Indonesia khẳng định các tàu đánh cá nầy hoạt động trong khu vực ĐẶC QUYỀN KINH TẾ của Indonesia trên Biển Đông. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Cộng lên tiếng rằng: “Chúng tôi không hài lòng với chánh quyền Indonesia và đòi hỏi chánh quyền Indonesia thả ngay các ngư phủ và trả lại các tàu đánh cá.”

BÀI HỌC VỀ TINH THẦN DÂN TỘC CỦA PHILIPPINES:

Ngay sau khi Trung Cộng tự ý ra lệnh cấm đánh bắt cá ngay trong vùng lãnh hải của Việt Nam trong thời điểm từ 16/5 đến 1/8/2009 vừa qua đã khiến cho ngư dân vùng biển VN ở Khánh Hòa, Quảng Nam, Phú Yên vô cùng phẩn nộ, nhất là khi Trung Cộng bác bỏ đề nghị của VN van xin Trung Cộng bãi bỏ lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm. Nhưng, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung Cộng, tên Tần Cương còn ngang ngược tuyên bố đây là vấn đề “KHÔNG THỂ TRANH CÃI”.

Cách đây 10 năm, đối với Philippines, Trung Cộng cũng ra lệnh cấm ngư dân Philippines đánh bắt cá trên Biển Đông trong vòng 2 tháng. Và ngay lập tức, chánh phủ Philippines phản ứng quyết liệt rằng: “Lệnh cấm nầy của Trung Cộng hoàn toàn không có hiệu lực đối với ngư dân Philippines”. Bộ Trưởng Quốc Phòng Philippines lúc đó, cũng đã nhấn mạnh rằng: “Chúng tôi đánh bắt cá trong vùng lãnh hải của chúng tôi. Họ (Trung Cộng) mới chính là người xâm phạm lãnh hải của chúng tôi.” Trong quá trình lịch sử, Hải Quân Philippines cũng có nhiều thành tích trong việc đánh đuổi tàu đánh cá Trung Cộng ra khỏi vùng Đặc Quyền Kinh Tế của Philippines.

Tinh thần dân tộc của Indonesia và Philippines là những nước có nền Tự Do - Dân Chủ cao, đã động viên được lòng yêu nước vô bờ bến của cả dân tộc, quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia, làm tham vọng bành trướng, bá quyền Biển Đông của Trung Cộng phải chùn bước. Thật đáng khâm phục! Mong rằng, đây cũng là những bài học khôn, rất đáng giá cho bọn CS Hà Nội suy ngẫm...     
Một dân tộc chỉ có sinh mệnh chính trị thật sự, khi nào tự nó với cái nhu yếu sống còn mà nhận thức ai là kẻ thù, tùy theo tình trạng thực tiễn mà nó phải đương đầu....Nếu dân tộc ấy phải chấp nhận kẻ thù do một thế lực ngoại bang chỉ định, để chiến đấu hay không chiến đấu, thì dân tộc ấy không còn là một dân tộc còn quyền tự do chính trị nữa, nó đã bị cuốn hút vào một hệ thống chính trị khác rồi.

Carl Schmitt

THỜI THẾ MỚI, PHƯƠNG PHÁP ĐẤU TRANH MỚI ĐỂ BẢO VỆ TỔ QUỐC:

Tại Việt Nam hiện nay, phong trào vận động quần chúng thay hình đổi dạng từ “Vận động Tôn Giáo”, kết hợp với phong trào “Vận động Dân Oan khiếu kiện”, biến thành phong trào “Vận động người Việt Nam yêu Tổ Quốc” đang trổi dậy mãnh liệt và cuồng nhiệt trong lòng Dân Tộc, đặc biệt ở giới trí thức, sinh viên học sinh trước sự hưng vong của đất nước. Bạo quyền CS Hà Nội suy yếu vì không còn nội lực Dân Tộc, chỉ biết dùng bạo lực đàn áp các phong trào vận động quần chúng. Bạo quyền càng ra sức đàn áp, phong trào càng phất lên dữ dội. Sở dĩ, phong trào vận động quần chúng càng ngày càng lớn mạnh là vì quần chúng muốn thay đổi chế độ XHCN vì nó bóp chết tự do của con người và bần cùng hóa xã hội và nhất là sự bất lực của bọn lảnh đạo CS Hà Nội quá thua thiệt trước sự chèn ép quá đáng của bọn côn đồ, tham lam, hiếu chiến Trung Cộng có nguy cơ mất nước.

Phân tách tình hình chính trị hiện nay tại Việt Nam đã xuất hiện hai thế đấu tranh chánh trị, quan hệ mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau:

TIỂU THỂ CHÁNH TRỊ (micropolitique):

 Là sự kết hợp của khối người Việt Nam yêu nước tại hải ngoại (chớ không yêu XHCN) và các phong trào vận động quần chúng tự phát ở trong nước, đang đấu tranh trực diện quyết liệt với bộ máy đàn áp dã man, tàn bạo của bọn Thái thú CS Hà Nội, đang từng bước bán đứng Tổ quốc cho bọn CS Bắc Kinh, rước voi về dày xéo mả tổ ở Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam qua dự án cho Trung Cộng khai thác BAUXITE. Và những cuộc đấu tranh tự phát nầy cũng mong muốn tập đoàn lãnh đạo Hà Nội sớm thức tỉnh, đứng về phía dân tộc để cùng nhau chống giặc ngoại xâm Trung Cộng. Cuộc đấu tranh trực diện của các phong trào quần chúng đối với Đảng và nhà nước CSVN chỉ là tiểu thể chánh trị, có thể giải quyết bằng đường lối hòa bình, tránh đổ máu vô ích chỉ có lợi cho bọn Rợ Hán Cộng.

ĐẠI THỂ CHÁNH TRỊ (macropolitique):

Những người lãnh đạo Đảng CSVN hiện nay không có con đường lựa chọn nào khác hơn là PHẢI ĐỨNG VỀ PHÍA TỔ QUỐC & DÂN TỘC càng sớm càng tốt để làm “Đại Thể Chánh Trị” là tiếp nối sự ngiệp của tổ tiên, chống lại kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc để giữ vững nền ĐỘC LẬP DÂN TỘC và BẢO VỆ SỰ TOÀN VẸN LÃNH THỔ TỔ QUỐC mà tổ tiên chúng ta phải duy trì bằng máu từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, hàng hàng lớp lớp người nằm xuống, hàng hàng lớp lớp người đứng lên theo gương tiền nhân ra tiền tuyến giữ nước.

SỐ PHẬN CỦA QĐNDVN VÀ NHỮNG TÊN THÁI THÚ CS HÀ NỘI, TAY SAI CỦA BỌN CS BẮC KINH:

SỐ PHẬN CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM:

Mỗi chế độ chánh trị đều có quân đội riêng của nó (une armée pour sa politique). Người lính tự vẽ nên chân dung của chế độ. Quân đội Nhân Dân vốn thường tự hào nào là “Thành đồng bảo vệ Tổ Quốc”, “khó khăn nào cũng vượt qua”, “kẻ thù nào cũng đánh thắng”...Có thể nào QĐND có truyền thống tốt đẹp như thế lại tự làm ô uế thanh danh của mình, khi hạ mình đi bằng bốn cẳng như lũ chó săn công an, mật vụ hung dữ, muối mặt làm công cụ cho bọn Thái thú CS Hà Nội dùng để đàn áp dã man và vô cùng tàn bạo đối với nhân dân? Đã đến lúc người lính Quân Đội Nhân Dân phải thức tỉnh, trả lời dứt khoát với chế độ XHCN kinh dị, ngoại lai vong bản rằng: “QĐNDVN LÀ THÀNH ĐỒNG BẢO VỆ TỔ QUỐC, CHỚ KHÔNG PHẢI BẢO VỆ BỌN THÁI THÚ CS HÀ NỘI, MỘT LŨ BƯNG BÔ CHO RỢ HÁN”.

Nếu người lính QĐNDVN không dám đứng lên làm nhiệm vụ đó ngày hôm nay, thì sau nầy, người lính QĐNDVN sẽ trở thành những tên lính xung kích cho Rợ Hán, các bạn sẽ đi mở đường cho chủ nghĩa bành trướng của Tàu Cộng xuống vùng ĐÔNG NAM Á CHÂU. Bọn Cộng Sản Bắc Kinh thâm độc sẽ mượn tay quân đội THÁI LAN, MÃ LAI, NAM DƯƠNG... tiêu diệt các bạn dùm cho chúng, các bạn sẽ chiến đấu đơn độc, không được tiếp vũ khí, quân trang, quân dụng, lương thực... các bạn không chết vì bom đạn của quân đội bản xứ thì cũng chết vì đói lạnh, lúc đó các bạn có hối thì đã muộn. Các bạn sẽ chết bỏ thây xứ người thay cho lính Tàu Cộng, chết càng nhiều càng tốt, bọn Trung Cộng sẽ đem dân Tàu di dân ồ ạt xuống Việt Nam, chiếm tất cả đất đai, nhà cửa, ruộng vườn, tài sản của các bạn. Vợ con của các bạn từ đây sẽ mang họ Địch, họ Tống, họ Tần, họ Hán, họ Tiêu...và sẽ được bọn CS Bắc Kinh đưa vợ con của các bạn vào nhà Thổ lưu động để làm hộ lý cho quân đội viễn chinh Trung Cộng sau nầy. Những thiếu nữ VN còn xuân sắc sẽ bị ép buộc lấy dân Tàu để lai giống; nếu không, sẽ bị triệt sản để hạn chế sinh sản. Cũng giống như dân Tây Tạng, Tân Cương, người dân Việt Nam sẽ trở thành dân tộc thiểu số ngay trên quê hương của chính mình.

SỐ PHẬN CỦA BỌN THÁI THÚ CS HÀ NỘI:

Số phận của bọn THÁI THÚ CS HÀ NỘI như Đổ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Phan văn Khải, Nông Đức Mạnh, Triết, Dũng, Trọng, Rứa... thì sao? Bọn CS Bắc Kinh có để yên cho quí vị sống an hưởng tuổi già, sống vinh hoa, phú quý trong các biệt thự nguy nga tráng lệ hay không? Câu trả lời khẳng định nhất là KHÔNG. Ngay sau khi quân Trung Cộng tiến chiếm được Hà Nội, gia đình vợ con của quý vị sẽ trở thành con tin, áp lực quý vị đem tất cả hiện kim và hiện vật mà quý vị đã bốc lột,  vơ vét được của nhân dân Việt Nam giao nạp cho bọn CS Bắc Kinh để chuộc mạng: “CỦA THIÊN TRẢ ĐỊA”

Tôi muốn nhắc độc chiêu nầy của người Trung Hoa để quí vị để thức tỉnh. Đó là chiêu “QUÁ KIỀU TRỪU BẢN” nghĩa đen của nó là “QUA CẦU RỒI PHÁ CẦU”. Số phận của quý vị đã được bọn lãnh đạo CS Bắc Kinh an bài qua “12 CHỮ VÀNG” từ khuya rồi, mà quý vị có hay biết con mẹ gì đâu: “PHI ĐIỂU TẬN LƯƠNG CUNG TÀNG, GIẢO THỎ TỬ CẨU PHANH THÂY” (chim chết cất cung, thỏ chết giết chó). Vã lại, dưới tầm mắt của bọn Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo, quý vị chẳng qua là những tên ngu ngốc PHẢN QUỐC, MÃI QUỐC CẦU VINH, họ chỉ dùng quý vị trong một giai đoạn nhất định nào đó thôi, giống như xài một lũ chó săn trong một mùa săn thú, thì làm sao chúng nó tin dùng được chứ? Uổng sát công thần hầu như là một thứ định luật chính trị tàn nhẫn trong lịch sử cổ kim Trung Hoa. Khi mùa săn đã qua, lũ chó săn sẽ bị phanh thây trước để khỏi phải nuôi dưỡng tốn cơm, đôi khi nó còn phản chủ, cắn lại mình.

Ngay từ đầu, Phạm Lãi đã nhìn thấu ruột gan của Việt vương Câu Tiễn. Vì vậy, khi thành công, Phạm Lãi phải từ quan, tìm cách trốn, đổi tên họ, ngao du ngũ hồ mới sống được đến già. Đường Thái Tôn tuy được dân Trung Hoa tôn vinh là vị minh quân, nhưng cũng là tay sát thủ công thần nhiều nhất.

Lưu Bang nổi danh trong lịch sử là người sử dụng chiêu “Quá Kiều Trừu Bản” nhiều nhất. Lúc còn là một tên đình trưởng tầm thường, chuyên đi ăn trộm gà làm kế sinh nhai. Nhưng, đến lấy được thiên hạ, dựng nên cơ nghiệp rồi thì người thứ nhất được lôi ra chém đầu là Hàn Tín, lần lượt đến Bành Việt, Anh Bố. Còn Tiêu Hà, Phàn Khoái, Trần Hi thì bị tống vào ngục chết rũ trong tù. Chỉ có Trương Lương là thức thời, nhanh chân bỏ lên núi tu tiên nên thoát nạn.

Trong lịch sử Trung Hoa cận đại, Mao Trạch Đông chưa bao giờ chỉ huy một mặt trận nào cho ra hồn. Những danh tướng như Cao Cương (người sáng lập chiến khu Thiểm Bắc chống với quân Tưởng) Chu Đức, Lâm Bưu, Bành Hoành, Trần Văn, Dương Thượng Côn, La Vinh Hoàng, Bành Đức Hoài (người sáng tạo chiến thuật BIỂN NGƯỜI trong những trận đánh với quân đội Hoa Kỳ tại mặt trận Triều Tiên) đều bị Mao giết sạch, chết thê thảm. Xin kể vài trường hợp điển hình:

•        Ngày 12/11/1969 lúc 6 giờ sáng. LƯU THIẾU KỲ - nguyên Chủ tịch nước CHND Trung Hoa - chết tại nhà lao Khai Phong, tỉnh Hải Nam. Lưu Thiếu Kỳ sống trong nhà lao nầy, hàng ngày bò lết đến khung cửa sắt nhà giam mà nhận một nắm cơm trộn bột mì cứng ngắt, vì hai chân bị nhóm Hồng Vệ Binh đánh gãy lìa từ lâu, bị ung thối có giòi, còn cánh tay mặt bị bẻ lọi lúc Hồng Vệ Binh hỏi cung tại nhà riêng ở Trung Nam Hải, sát bên nhà Mao trong khu vực của các lãnh tụ Đảng CS Trung Hoa.

Trước đó, ngày 18/7/1967. Toàn thể gia đình của Lưu Thiếu Kỳ bị cúp điện nước, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Không ai được đi chợ mua thực phẩm vì nhóm cảnh vệ ngăn cản, nên gia đình Lưu Thiếu Kỳ rất cùng quẫn. Toàn thể gia đình 16 người phải đi múc từng gáo nước dơ bẩn trong những cống rãnh quanh tư dinh mà đem về uống và nấu ăn. Có 4 nhân viên nhà bếp phải tự tử chết.

•        Ngày 18/3/1966, Đại Tướng LA THỤY KHANH - nguyên Tổng Tham Mưu Trưởng QĐCHND Trung Hoa - nhân lúc giữa đêm khuya, ông nhảy từ tầng lầu cao nhất của trại giam để tự tử, nhưng không chết, chỉ bị gãy lìa xương đùi trái, được đưa vào bệnh viện, rồi bị cưa đứt luôn. Đại Tướng La Thụy Khanh bị tàn phế và cấp trên không cho dùng nạng của bệnh viện. Nên ông ta phải dùng một cành cây gãy, lượm được gần cầu tiêu làm gậy chống. Vì vết thương đã bắt đầu mọc xương nhọn đâm vào da thịt. Hàng đêm, Đại tướng La Thụy Khanh la hét vì vết thương hành, những tiếng thét kinh người, dựng tóc gáy. Rồi 7 tuần lễ sau đó, nhóm Hồng Vệ Binh nhét ông vào cái rọ heo, kéo ông ra vận động trường đấu tố. La Thụy Khanh chết vài giờ sau đó, chung quanh cái rọ dán toàn giấy đỏ: “ĐỒ PHẢN QUỐC”.

•        Còn Bành Đức Hoài, người gầy dựng cho Mao Trạch Đông thành một thánh nhân như viết lại lịch sử cho Mao. Lâm Bưu bị truy sát, trên con đường trốn chạy khỏi Tân Cương, phi cơ chở họ Lâm bị bắn hạ và toàn quốc được tuyên truyền, xem họ Lâm là tên phản bội lại Mao Trạch Đông.

Đây cũng là số phận mà bọn lãnh đạo CS Bắc Kinh sẽ dành cho bọn Thái thú CS Hà Nội Mạnh, Triết, Dũng, Trọng, Rứa... để làm tấm gương soi trong nội bộ Đảng CS Trung Hoa: tội “PHẢN QUỐC” sẽ bị trừng trị như thế đó và cái chết thê thảm của quý vị sẽ để xoa dịu nhất thời lòng căm phẩn của dân Việt Nam đối với Đảng và nhà nước CSVN. Bản chất của những tên lãnh đạo Trung Nam Hải vô cùng xảo quyệt và thâm độc, đã đặt quý vị lãnh đạo Đảng CS Hà Nội trong cái thế “CỠI LƯNG CỌP”, tấn thoái lưỡng nan, để dễ điều khiển quý vị như đã từng điều khiển tên HCM trước đây.

Xin kể lại một câu chuyện của Trang Tử để cho quý vị lãnh đạo CS Hà Nội sớm tỉnh ngộ, trước khi quá muộn:

“Có một con heo sắp bị đem đi tế thần, nó sợ quá kêu la ầm ỷ. Người phụ trách việc tế lễ dỗ ngọt nó rằng: “Heo ơi, mày không có gì phải lo lắng kêu la ầm ỷ thế kia. Tao đưa mầy về đây để vỗ béo, mặc sức ăn uống no nê. Trước khi đem mầy đi tế thần, tao  tắm rửa mầy sạch sẽ, mặc cho mầy thứ áo màu sặc sỡ, cắm lên tai mầy hai bông hoa, rồi đặt lên mầy lên bàn sơn son thếp vàng để bốn người kính cẩn khiêng đi.” Con heo bùi tay, khoái quá, ve vẫy cái đuôi vào máng ăn no nê, rồi quay ra ngủ không kêu rên gì nữa.”

Những tên lãnh đạo Trung Nam Hải thừa biết rằng, bọn lãnh đạo CS Hà Nội đang trong thế cùng lực kiệt vì không tạo được sự đoàn kết dân tộc, thống nhất quốc gia, khi mà hệ thống tham nhũng đã trở thành quốc sách, vững chắc như thành đồng từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở. Những tên lãnh đạo chóp bu như Mười, Anh, Phiêu, Khải, Lương, Mạnh, Triết và nhất là Dũng trở thành những tên “tỷ phú đô la”.

Nắm được nhược điểm của bọn cầm quyền Hà Nội phải dựa vào bọn lãnh đạo CS Bắc Kinh để duy quyền lực nên họ được đằng chân lân đằng đầu, đặt bọn CS Hà Nội trước hai đường phải lựa chọn:

•        Theo TRUNG CỘNG: Nước Việt Nam sẽ mất, Đảng CSVN sẽ còn.

•        Theo HOA KỲ: Nước Việt Nam sẽ còn, nhưng Đảng CSVN sẽ mất.

Với quan niệm sai lầm chiến lược đó, nên bọn CS Hà Nội hăm hở đã dứt khoát lựa chọn con đường thứ nhất, đặt quyền lợi Đảng CSVN lên trên quyền lợi Tổ Quốc và Dân Tộc, bán nước cầu vinh để bám lấy quyền lực thống trị, hầu bảo vệ tài sản kết sù lên đến hằng chục tỷ Mỹ kim. Đảng CSVN không ngần ngại hiến đất, dâng biển cho Trung Cộng.

Những tên lãnh đạo Trung Nam Hải ranh ma tiên đoán rằng:

Phát xuất từ những nguyên nhân tồi tệ của chế độ XHCNVN kinh dị hiện nay, khi mà giai cấp công nông dân bị bốc lột tàn tệ bởi chế độ độc tài, độc Đảng hà khắc với luật lệ rừng rú. Chế độ đương thời không đáp ứng được với nguyện vọng của người dân, những thứ tự do căn bản như: tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do đi lại...nhất là khi quần chúng không được chánh quyền thỏa mãn những dục cầu căn bản như được cơm no, áo ấm, con cái được học hành...tức nước sẽ vỡ bờ. Một cuộc CÁCH MẠNG XÃ HỘI (la révolution social) chắc chắn sẽ nổ ra, nó sẽ tấn công thẳng vào những cơ cấu xã hội đó, đã gây biết bao nhiêu tệ đoan làm ung thối xã hội do bạo quyền CS gây nên. Và cuộc cách mạng nầy sẽ được toàn dân hưỡng ứng.

Chừng đó, QĐNDVN sẽ hành động như Quân đội ROMANIA, đứng về phía nhân dân, quay súng chống lại chế độ của tên độc tài khét tiếng NICOLAE CEAUSESCU. Sau 24 năm cầm quyền, Ceausescu bị cáo buộc đã thảm sát hơn 60.000 người dân. Ngày lễ Giáng sinh năm 1989, vợ chồng nhà độc tài Ceausescu và Elena bị xử tử bởi một tiểu đội hành quyết để đền tội ác.

Khi một cuộc mạng xã hội bùng nổ, chắc chắn bọn Thái thú CS Hà Nội sẽ hành động như tên phản thần NGÔ TAM QUẾ đời nhà Minh, dẫn quân Mãn Thanh do Đa Nhỉ Cổn lãnh đạo vào Trung Nguyên để diệt Lý Tự Thành. Nhưng, sau khi Lý Tự Thành thua trận, bỏ chạy trốn. Đa Nhỉ Cổn thừa thế chiếm luôn giang sơn xã tắc Trung Hoa đều lọt vào tay giống Mãn Thanh. Lịch sử sẽ tái diễn tại Việt Nam, bọn CS Bắc Kinh sẽ thừa cơ hội nầy, xua quân Trung Cộng tràn qua biên giới thì Việt Nam sẽ mất chủ quyền và số phận của bọn Thái thú CS Hà Nội kể như đã được an bài qua 12 CHỮ VÀNG như tôi đã trình bày.

ĐẢNG CSVN PHẢI ĐỨNG VỀ PHÍA TỔ QUỐC & DÂN TỘC VÀ TÌM LIÊN MINH CHIẾN LƯỢC ĐỂ TỒN TẠI:

Nhân đọc bài CHIẾN LƯỢC DÀI HẠN CỦA TRUNG CỘNG của GS VLADIMIR KOLOTOV nói chuyện với BBC từ Đại Học Quốc Gia St. Petersburg vào tháng 5/2009. Ông nói rằng: “...Nhưng bây giờ là thời đại toàn cầu hóa, Việt Nam có thể tìm liên minh, vấn đề là tìm ai. Giữa Mỹ và Trung Cộng, cả hai đều nói là “bạn” của Việt Nam. Theo Trung Cộng thì mất chủ quyền, theo Mỹ cũng thế. (nếu theo Nga thì sẽ OK?)

Tôi hoàn toàn không đồng ý với quan điểm của GS Vladimir Kolotov vì theo quan điểm của tôi:

•        Theo TRUNG CỘNG: nước VIỆT NAM sẽ mất. ĐẢNG CSVN sẽ mất mà tánh mạng của những tên Thái thú CS Hà Nội hiện nay, chưa chắc sống còn.

•        Liên minh với HOA KỲ: Nước VIỆT NAM còn. ĐẢNG CSVN sẽ còn tồn tại.

Tôi nói điều nầy có vẻ hơi trái khuáy. Tại sao liên minh với Hoa Kỳ và các nước thuộc khu vực ĐNÁ thì nước Việt Nam còn và Đảng CSVN sẽ còn tồn tại trong lịch sử như một đảng chánh trị, ít ra trong thời điểm nầy. Kinh nghiệm đó đã xảy ra tại Hungary:

Trước sự đấu tranh kiên trì và quyết liệt của các tầng lớp trí thức, sinh viên học sinh, công nhân, nông dân khiến Đảng CS Hungary từng bước thối lui, từng bước nhượng bộ. Ngày 20/8/1988, nhân kỷ niệm ngày lập quốc, Đảng CS Hungary đã phải chấp nhận phục hồi danh dự cho những người bị kết án trong cuộc nổi dậy năm 1956.

Ngày 3/5/1989, chánh quyền cắt điện hàng rào thép trên biên giới giữa Hung và Áo. Năm ngày sau, trùm CS là DÁKÁR bị loại ra khỏi Trung ương Đảng. Cũng trong tháng 6 năm đó, nhân dân Hungary đã giật sập bức tượng Lenine, tiêu biểu cho chế độ CS tại Budapest. Hành động thức thời của đảng CS Hungary là vào ngày 7/9/1989, Đảng CS Hungary đã từ bỏ vai trò độc quyền lãnh đạo, đồng thời giải tán để trở thành Đảng Xã Hội Hungary, chỉ BIẾN THỂ nhưng không GIẢI THỂ.

Tháng 10 năm đó, sau khi giải tán các lực lượng dân, quân tự vệ của đảng, ông MÁTYÁS SZROS được cử làm Tổng Thống lâm thời và tuyên bố CỘNG HÒA HUNGARY ra đời. Đương nhiên, thành quả cách mạng phần lớn là do sự đấu tranh của nhân dân Hungary, nhưng cũng phải kể đến vai trò rất quan trọng của những thành phần yêu nước trong Đảng CS Hungary đang cầm quyền tại đất nước nầy ĐÃ KHÔNG YÊU CẦU SỰ CAN THIỆP CỦA ĐẾ QUỐC LIÊN XÔ VÀO NỘI BỘ HUNGARY lúc bấy giờ.

Bài học Hungary là bài học vô giá để giới lãnh đạo Đảng CS Hà Nội thức tỉnh. Chỉ có một con đường hạ cánh an toàn là ĐỨNG VỀ PHÍA TỔ QUỐC VÀ NHÂN DÂN VIỆT NAM cùng đoàn kết làm ĐẠI THỂ CHÁNH TRỊ lo chống giặc Rợ Hán Cộng. Còn theo HOA KỲ, NHẬT BẢN, ẤN ĐỘ...chỉ là giải pháp tạm thời. Lời dạy của cụ PHAN vẫn còn vang vọng trong tâm thức chúng ta: “VỌNG NGOẠI TẮT TỬ”.

Trước khi tạm chấm dứt bài nầy, xin kể lại một câu chuyện cổ của MẠNH TỬ để thay cho lời kết và để quý vị trong giới lãnh đạo Đảng CSVN suy ngẫm:

VĂN CÔNG nước TỀ hỏi thầy MẠNH TỬ rằng:

- “Nước ĐẰNG ta là nước nhỏ, ở vào khoảng giữa TỀ và SỞ  là hai nước lớn. Kể phận thì phải chiều cả hai nước. Nhưng, kể sức thì không thể chiều được cả hai. Chiều nước Tề chăng? Chiều nước Sở chăng? Ta thực không biết nên nương tựa vào nước nào cho nước ta được yên nhà. Thầy tính hộ cho ta.”

Thầy Mạnh Tử thưa:

- “Phàm mà cứ trông cây vào người thì không thể chắc được. Chiều Tề thì Sở giận. Chiều Sở thì Tề giận; mưu ấy tôi không nghĩ kịp. Xin nói chỉ một cách là TỰ GIỮ LẤY NƯỚC, đào hào cho sâu, đắp thành cho cao, cai trị một cách CỐ KẾT LÒNG DÂN để cùng DÂN giữ nước. Hoặc như có biến cố gì xảy ra, vua liều chết để giữ nước thì chắc dân cũng liều chết để giữ nước, không thể bỏ vua. Thế là dùng cái LÒNG DÂN để giữ lấy nước. TỰ CƯỜNG mà lo toan lấy việc nước. Còn chiều Tề hay Sở thì tôi không thể quyết được.
7.
“Hãy cho đi! Hãy nhường tất cả đi! Rồi bạn sẽ dành được tủi nhục, nghèo đói và làm tên nộ lệ khốn khổ nhất.”

Nhà thơ VOLOSHIN

SÁCH LƯỢC BẢO VỆ BIỂN ĐÔNG CỦA ÔNG LƯU VĂN LỢI: ...

Bài viết trên báo Tuần Việt Nam, đăng ngày 8/ 9/ 2009 với tựa đề: “Dân tộc hóa cuộc đấu tranh giữ chủ quyền biển đảo” của Hoàng Phương. Ông Lưu Văn lợi - nguyên Trưởng ban Biên Giới thuộc Hội Đồng Bộ Trưởng - phát biểu rằng: “Cuộc tranh chấp về Hoàng Sa - Trường Sa chỉ có thể giải quyết trên cơ sở DÂN TỘC HÓA cuộc đấu tranh và QUỐC TẾ HÓA vấn đề tranh chấp”.

Như vậy, lời phát biểu của ông Lưu văn Lợi đang trở thành một sách lược chánh thức của Việt Nam về biển Đông. Sách lược nầy, tạm coi là sách lược “LƯU VĂN LỢI” gồm hai bước song song là:

•        Dân tộc hóa cuộc đấu tranh.

•        Quốc tế hóa vấn đề tranh chấp.

QUỐC TẾ HÓA VẤN ĐỀ TRANH CHẤP:

Theo báo chí trong nước, nồng cốt của dự luật nầy được tổ chức thành các đơn vị gồm dân quân tự vệ cơ động, dân quân tự vệ tại chỗ, dân quân tự vệ binh chủng và cuối cùng mới đi đến tự vệ biển. Nhưng, đại biểu Nguyễn Đăng Trừng kiến nghị sắp xếp lại thứ tự, phải đưa dân quân tự vệ biển lên vị trí đầu tiên trong lực lượng dân quân tự vệ nồng cốt.

Theo đa số Đại Biểu Quốc Hội đều tán thành việc, nâng pháp lệnh về dân quân tự vệ lên thành luật và “Dự Án Luật” sẽ được Quốc Hội biểu quyết thông qua vào ngày 23/11/ 2009. Quốc Hội đề nghị tăng ngân sách cho BQP.

Vì thế, các cấp lãnh đạo Đảng CS Hà Nội đã lần lượt đi du thuyết các cường quốc trên thế giới để mua sắm vũ khí và tìm thế liên minh chiến lược để chuẩn bị chống chủ nghĩa bành trướng, bá quyền Trung Cộng tại biển Đông?

•        Đại Tướng Phùng Quang Thanh - Bộ Trưởng BQP - sang Hoa Kỳ và Pháp từ ngày 10 đến 20/12/2009 để thương lượng mua vũ khí. Tại Hoa kỳ, Tướng Thanh tiếp xúc với TNS Webb và McCain và Bộ Trưởng QP Robert Gates cùng ngày. Sau cuộc viếng thăm Hoa Kỳ, Tướng Thanh tuyên bố tại quốc nội rằng: “Chánh sách ngoại giao và quốc phòng Việt Nam vẫn là độc lập, đa diện, do đó đã tạo ra việc bình thường hóa tương quan giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và đẩy mạnh liên hệ kinh tế song phương.”  Và Phó Đô Đốc Jeffrey Wieringa - Chủ tịch Cơ Quan An Ninh Quốc Phòng Hoa Kỳ - đang duyệt xét kế hoạch bán võ khí cho VN và những cơ phận rời để tân trang lại kho vũ khí cũ của QLVNCH bỏ lại sau ngày 30/4/ 1975 như thiết vận xa, trực thăng, phản lực F5...

Tại Pháp, Tướng Thanh ký thỏa hiệp “Hợp tác Quốc Phòng” với Bộ Trưởng Herve Morin. Trong đó, Pháp sẽ giúp VN đào tạo cán bộ ngành Quân Y, bán cho VN phi cơ vận tải quân sự, một số thiết bị thuộc công nghệ quốc phòng và đặc biệt là loại trực thăng võ trang tấn công hiệu “Tiger” do Pháp sản xuất liên doanh với Đức, giá di động từ 35 đến 39 triệu USD một chiếc tùy theo trang bị, hiện được quân đội Pháp xử dụng ở chiến trường Afghanistan. 

•        Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu - Thứ trưởng BQP - sang Nam Hàn thăm viếng xưởng đóng tàu Daewoo và công ty sản xuất trang bị điện tử quốc phòng LIG Next1.

•        Thủ tướng VC Nguyễn Tấn Dũng sang Nga vào ngày 15 và 16/ 12/ 2009 đã ký hợp đồng trị giá 1,8 tỷ USD bao gồm việc đóng 6 tàu ngầm KILO chạy bằng dầu Diesel ít gây tiếng ồn nhất và có trang bị hỏa tiễn Club S hiện đại và các khóa huấn luyện cho thủy thủ đoàn. Xưởng đóng tàu Admiralteiskiye Verfi tại St Peterburg sẽ thực hiện hợp đồng, mỗi năm giao cho VN một chiếc và sẽ hoàn tất hợp đồng vào năm 2015.

Mua 8 chiếc chiến đấu cơ Sukhoi Su - 30MK2 trị giá 600 triệu USD và một số trực thăng Mi 17 và các loại vũ khí khác trị giá 400 triệu USD.

Ngoài ra, Dũng còn nhờ Nga xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Ninh Thuận đã được Quốc Hội bù nhìn thông qua vào tháng 10/2009.

•        Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sang Ý, Spain và Slovakia.

•        Tổng Bí Thư Đảng Nông Đức Mạnh sang Campuchia.

VIỆT NAM CÓ THỰC SỰ THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG ĐỂ CHỐNG TRUNG CỘNG?

Theo quan điểm của giáo sư CARLYLE THAYER - chuyên gia nghiên cứu Việt Nam của Học viện Quốc Phòng Úc Châu - có nhận định về quan hệ quốc phòng của Việt Nam với các nước như sau:

•        Ngân sách quốc phòng của Việt Nam cho tới năm 2010 vẫn còn quá khiêm nhượng để có thể mua tàu ngầm và chiến đấu cơ của Nga, cũng như từ Pháp và Hoa Kỳ.

•        Nếu Việt Nam có được số vũ khí nầy thì tiếng nói của Việt Nam trong các vùng  biển đang tranh chấp tại Biển Đông sẽ có trọng lượng hơn.

Một vài quan điểm khác: nếu chiến tranh Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Cộng bùng nổ. Với số tàu ngầm, chiến đấu cơ, phi cơ trực thăng “Tiger”... mua được của Nga, Mỹ, Pháp liệu có thể chống được với lực lượng hải quân hùng hậu của Trung Cộng hay không? Ai cũng biết là Việt Nam không phải là địch thủ của Trung Cộng, ngoại trừ Hoa Kỳ và đồng minh.

Một cách nhìn khác, cho đây là việc bình thường để thay thế kho vũ khí cũ kỹ đã lỗi thời, để bắt kịp tốc độ chạy đua vũ trang của toàn vùng Đông Nam Á. Và nó chỉ nhằm ngăn cản hoặc có tánh cách răn đe, chứ chưa sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh thực sự vì phải cần nhiều thời gian để huấn luyện các chuyên viên kỷ thuật.

Nhưng, theo cách nhìn của riêng tôi, thì diễn tiến của sự việc nầy đều do bọn CS Bắc Kinh dàn dựng và đạo diễn cả. Việt Nam mua số vũ khí nầy để làm gì? Chắc chắn là không phải dùng để bảo vệ Biển Đông mà nhằm vào những mục tiêu sau đây:

•        Trấn an một số sĩ quan cao cấp lão thành và thành phần sĩ quan trẻ trong QĐND còn có tinh thần dân tộc, bất mãn trước sự khiếp nhược của bọn CS Hà Nội đi bằng đầu gối trước hành động hiếu chiến, lưu manh, côn đồ quá đáng của bọn lãnh tụ Trung Nam Hải ở Biển Đông như: ngang ngược cấm đánh bắt cá, bắn giết bừa bãi, đụng chìm các tàu đánh cá đang hoạt động trong vùng lãnh hải của VN, bắt cóc ngư dân đòi tiền chuộc giống như bọn hải tặc Somalia. Xem thường chủ quyền lãnh hải của VN, ngang nhiên thăm dò và khai thác các tài nguyên về dầu khí trên thềm lục địa của VN...

•        Xoa dịu làn sóng căm phẫn của nhân dân trong nước và hải ngoại, đặc biệt là trong giới trí thức, sinh viên học sinh yêu nước.

Trước khi các tên Thái thú CS Hà Nội được bọn CS Bắc Kinh cấp giấy phép đi du thuyết và mua vũ khí chiến lược tại Hoa Kỳ, Nga, Pháp... Bọn Thái thú CS Hà Nội cho trình diễn màn công bố BẠCH THƯ QUỐC PHÒNG 2010 đúng vào dịp lễ kỷ niệm thứ 65 ngày thành lập QĐND.

Có thể nói, tất cả bi kịch đã và đang xảy ra tại Biển Đông đều do bọn CS Bắc Kinh dàn dựng với sự đồng lõa của bọn Thái thú CS Hà Nội để cho các tàu chiến Trung Cộng nổ súng và đâm chìm các tàu đánh cá và tàn sát ngư phủ Việt Nam lên đến hàng trăm vụ, để chuẩn bị cho bọn Thái thú CS có lý do trình diễn sách lược về Biển Đông là “DÂN TỘC HÓA CUỘC ĐẤU TRANH” & “QUỐC TẾ HÓA VẤN ĐỀ TRANH CHẤP”.

Sau màn trình diễn công bố BẠCH THƯ QUỐC PHÒNG 2010 vào ngày 8/ 12/ 2009 tại Hà Nội, bọn Thái thú CS Hà Nội chia nhau đi du thuyết các cường quốc phương Tây nhằm quốc tế hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông và mua các vũ khí chiến lược hiện đại để đối phó với chủ nghĩa bành trướng, bá quyền của Trung Cộng.

Nhưng, sự thật không phải vậy: số vũ khí chiến lược hiện mà bọn Thái thú CS Hà Nội đặt mua KHÔNG PHẢI DÙNG ĐỂ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG CỦA VIỆT NAM mà làm LỰC LƯỢNG XUNG KÍCH TRÊN BIỂN ĐÔNG CHO TRUNG CỘNG mà mục tiêu chiến lược của nó là PHILIPPINES và IDONESIA.

Việt Nam cũng không phải là tiền đồn chống chủ nghĩa bành trướng, bá quyền của Trung Cộng như bọn Thái thú CS Hà Nội đi rêu rao để đánh lừa dư luận thế giới, đồng bào trong và ngoài nước. Việt Nam trước hay sau vẫn là tiền đồn của Trung Cộng phục vụ cho sách lược “VIỄN GIAO CẬN CÔNG” (gần thì đánh, xa thì thân thiện) của Trung Cộng, từ đó mở rộng chiến tranh xâm lược để bành trướng lãnh hải và lãnh thổ xuống vùng Đông Nam Á Châu.

CÁC QUỐC GIA NẰM TRONG SÁCH LƯỢC VIỄN GIAO CẬN CÔNG CỦA TRUNG CỘNG:

MALAYSIA:

Quan hệ giữa Trung Cộng và Malaysia bị trục trặc vì xung đột quyền lợi giữa hai phía tại khu vực Biển Đông, khi Malaysia tuyên bố chủ quyền tại một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa, trong đó có đảo Layang Layang, gần Sabah tại miền Đông nước nầy. Theo nhận định của tờ Trung Quốc Báo rằng: nguồn lợi dầu mỏ dồi dào của Biển Đông nằm trong tầm quan hệ song phương giữa Trung Cộng và Malaysia. Và nếu vấn đề Biển Đông chưa giải quyết thì sẽ không thể có tình hữu nghị thực sự giữa hai nước.

INDONESIA:

5 năm trước đây, Hồ Cẩm Đào thực hiện chuyến công du quan trọng qua hai nước Philippines và Indonesia vào ngày 26 và 27/ 4/ 2005 và Thủ tướng Ôn Gia bảo qua nước Pakistan và Ấn Độ để lôi kéo hai nước nầy vào trong quỹ đạo của Trung Cộng đã cho thấy mưu đồ của Trung Cộng đang áp dụng sách  lược 3 mũi giáp công: KINH TẾ + CHÍNH TRỊ+ QUÂN SỰ để mở gọng kềm chiến lược từ Bắc Á xuống Đông Nam Á Châu để xác định vị thế của mình trước hai đại kình địch Hoa Kỳ và Nhật Bản tại Á Châu Thái Bình Dương.

Đến Indonesia vào ngày 26/4/2005, Hồ Cẩm Đào được Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono trải thảm đỏ đón tiếp long trọng. Trung Cộng ký 9 thỏa hiệp song phương với Indonesia, đầu tư 10 tỷ USD đầu tư vào các lãnh vực hạ tầng cơ sở và nông nghiệp được Tổng thống Yudhoyono đã vội vàng tâng bốc Hồ Cẩm Đào: “Sự lớn mạnh của Trung Cộng là cơ may phát triển cho Indonesia và các nước trong khu vực Đông Nam Á Châu.”

Họ Hồ phấn khởi, lạc quan tưởng đã nắm được Indonesia, một nước Hồi Giáo đông dân số và nhiều tiềm năng về tài nguyên về dầu hỏa, quặng mỏ chưa khai thác để giải quyết cơn khát năng lượng của Hoa Lục.

PHILIPPINES:

Rời Indonesia, họ Hồ tới Manila được Tổng thống Gloria Arroyo đón tiếp long trọng và được dành cho danh dự đọc đọc diễn văn tại lưỡng viện quốc hội Philippines. Hồ đã ký 14 thỏa hiệp  viện trợ và đầu tư cho Phi phát triển hệ thống hỏa xa và đầu tư khai thác mỏ kền.

Sau những chuyến công du kể trên vào năm 2005, Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo lạc quan, đánh giá cao là thắng lợi đột phá về ba mặt kinh tế, chính trị và quốc phòng đã biến cựu thù Ấn Độ thành thị lớn tiêu thụ hàng hóa thặng dư của Hoa Lục vào thời điểm đó.

Nhưng, những bài học về TINH THẦN DÂN TỘC của  Indonesia và Philippineslà hai nước không nhượng bộ Trung Cộng trong vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh hải trên Biển Đông, nhất là từ khi Indonesia cho sửa đổi LUẬT THỦY SẢN như đã trình bày trước đây, đã làm cho phía Trung Cộng phẫn nộ. Làm thế nào để dạy cho Indonesia và Philippines bài học (như đã từng dạy cho Việt Nam vào năm 1979) mà không làm ảnh hưởng đến QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CẨM ĐÀO TRONG THỜI ĐẠI MỚI (Hu Jintao’s Viewpoints about the times) do Zhang Xiaotong – một lý thuyết gia của Hoa Lục – đăng trên tờ Outlook Weekly là cơ quan ngôn luận của Trung Cộng, số cuối tháng 11/ 2009 mà hai quan đểm chính yếu là: “XÂY DỰNG THẾ GIỚI HÀI HÒA” & “CÙNG NHAU PHÁT TRIỂN”.

Vì thế, bọn Trung Nam Hải không thể đích thân ra tay dùng bạo lực để dạy cho Indonesia và Philippines một bài học mà phải dùng đến bọn tay sai Thái thú CS Hà Nội làm thay. Đó là độc chiêu “Tá đao sát nhân”, nghĩa đen của nó là mượn dao giết người.

Trong chánh trị của Trung Hoa có một quy luật rất tàn bạo là “NGHỊCH NGÃ GIẢ VONG” (ai chống ta sẽ phải chết). Thông minh, quỷ quyệt như Tào Tháo chẳng bao giờ đích thân ra tay giết kẻ chống lại mình. Tào Tháo mượn Lưu Biểu giết Nễ Hành. Mượn lòng quân giết Dương Tu rồi giả vờ làm mèo già khóc chuột. Chữ “mượn” không phải đơn giản chỉ mượn dao giết người mà mượn nhiều thứ khác nữa như: Mượn lực lượng người khác để chiếm mục tiêu, mượn cớ, mượn danh nghĩa, mượn khẩu hiệu... xin kể vài trường hợp điển hình:

•        Tên Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã nhìn mục tiêu độc lập quốc gia, chỉ là một chặng đường trên tiến trình vô sản hóa thế giới, do đó tên HCM phải mượn danh nghĩa “Kháng chiến chống thực dân Pháp” rồi đến “Chống Mỹ cứu nước” để hoàn thành mục tiêu tối hậu của Đệ Tam QTCS và Trung Cộng.

•        Lê Duẫn đưa quân sang Kampuchea, phải mượn danh nghĩa làm “Nghĩa vụ Quốc Tế” để nhờ lực lượng Khmer Đỏ tiêu diệt trên 50.000 ngàn cán binh MTGPMNVN để trừ hậu họa sau nầy.

•        Nhưng, cao thủ sử dụng tuyệt chiêu “Tá đao sát nhân” phải là Mao Trạch Đông. Mao mượn tay tên lãnh tụ thất học, ngu ngốc HCM và Đảng CSVN đã hy sinh trên 4 triệu người, xóa sạch nguyên cả thế hế hệ thanh niên Việt Nam trong sách lược “ĐÁNH MỸ ĐẾN NGƯỜI VIỆT NAM CUỐI CÙNG” thay cho  Trung Cộng.

•        Năm Canh Dần 1950, sở dĩ Trung Cộng thôn tính và đặt ách thống trị lên toàn cõi Tây Tạng là nhờ tên gian thần NGABO lấy danh nghĩa quan đại thần do nội các KASHAG phái đi Bắc Kinh thương thuyết. Hắn đã tự ý ký THỎA ƯỚC 17 ĐIỂM của Trung Cộng đưa ra mà không thông báo cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Thỏa ước được công bố ngày 23/5/1951 qua đài phát thanh. Tại Yatung, Đức Đạt Lại Lạt Ma và nội các Kashag bàng hoàng, kết luận: “Từ đây, nhân dân Tây Tạng sẽ trở thành một dân tộc nô lệ dưới ách thống trị của CHND Trung Quốc.” Sau đó, tên đại gian thần Ngabo biến mất khỏi hành tinh. Ngày nay, bọn Thái thú CS Hà Nội đang tái diễn lại tấn tuồng bán nước bỉ ổi của Ngabo! Hãy nhìn kỹ đi, không bao giờ bọn Trung Nam Hải sử dụng bọn “thái thú bản xứ” cai trị các nước thuộc địa đâu. Đừng hòng...

VIỆT NAM:

Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam. Khi các chế độ phong kiến Trung Hoa xây dựng được một đế chế hùng mạnh, lần nào cũng là vấn đề rất cho Việt Nam. Bây giờ cũng là thời điểm như thế vì Việt Nam nằm trong vị thế “cận công” của kẻ thù phương Bắc; vì thế, lịch sử của dân tộc chúng ta được viết bằng máu, ghi đậm nhiều chiến công oanh liệt và hiển hách của tiền nhân. Sự trổi dậy mạnh mẽ của Trung Cộng là đe dọa trực tiếp cho an ninh cho Việt Nam nói riêng và cả các nước Đông Nam Á Châu nói chung. Sau khi các quốc gia Đông Dương: Việt Nam, Campuchia và Lào đều lần lượt rơi vào quỷ đạo của Trung Cộng. Bọn Trung Nam Hải chưa công khai ra mặt trực tiếp cai trị mà tạm thời thông qua bọn Thái thú bản xứ Mạnh, Triết, Dũng...và Camphuchia Hun Sen.

Trung Cộng toan tính gì khi đưa cựu Thủ tướng Thái LanThaksin Shinawatra - Thái gốc Hẹ - về làm cố vấn kinh tế cho Thủ tướng Campuchia Hun Sen. Cuộc gặp gỡ tay ba mới đây giữa Hun Sen, Thaksin và Nông Đức Mạnh - Việt gốc Tàu - tại Nam Vang, chắc chắn là chuẩn bị lên kế hoạch xăm lăng Thái Lan trong tương lai và người lính QĐNDVN sẽ hợp đồng chiến đấu với QĐ Campuchia làm mũi nhọn xung kích, chết thay cho lính Trung Cộng khi cuộc chiến tranh biên giới nổ ra giữa Thái Lan và Campuchia.

BÀN VỀ SÁCH LƯỢC “DÂN TỘC HÓA CUỘC ĐẤU TRANH” CỦA ÔNG LƯU VĂN LỢI:

Qua báo chí, tôi được biết ông Lưu văn Lợi được nhiều người ở trong nước biết như là một học giả uy tín và là một nhà ngoại giao có kinh nghiệm. Vì vậy, tôi xin phép đặt một câu hỏi, để làm sáng tỏ vấn đề nầy.

Bối cảnh chánh trị hiện nay ở trong nước, nhân dân Việt Nam đang đối đầu trực diện và quyết liệt với hai kẻ thù:

NỘI THÙ: bọn Thái thú CS Hà Nội và 3 triệu đảng viên CS đa số là lực lượng CAND bảo vệ chính trị, bộ máy đàn áp nhân dân ác liệt nhất của Đảng CSVN.

NGOẠI THÙ: quân xâm lược, bành trướng bá quyền Trung Cộng.

Bản chất của hai kẻ thù đều nham hiểm, thâm độc và tàn bạo như nhau. Vì thế, ông nói rằng, phải “DÂN TỘC HÓA CUỘC ĐẤU TRANH”. Trước hết, tôi xin mạn phép giải thích những danh từ “dân tộc hóa”, “chiến tranh” và “đấu tranh” theo sự hiểu biết giới hạn của tôi.

DÂN TỘC HÓA: là toàn dân được vũ trang toàn diện về tinh thần lẫn phương tiện chiến đấu, mỗi người dân là một chiến sĩ bất kể thành phần công nhân, nông dân, trí thức, sinh viên, học, nam nữ thanh niên. Mỗi làng xã, mỗi khu phố là một cứ điểm quân sự, mỗi tổ chức khu phố, thôn xã là một ban tham mưu nhỏ, phối hợp chặc chẻ lẫn nhau để bảo vệ hạ tầng cơ sở...  

CHIẾN TRANH (guerre combat): giải thích theo Quincy Wright “Xung đột giữa hai lực lượng vũ trang của hai nền văn hóa khác nhau.” Chỉ cần đứng dưới một màu cờ, mặc bộ quân phục cùng màu là bạn thù phân biệt rõ rệt. Trong thời chiến tranh Việt Nam, chỉ cần nhìn bộ quân phục của người lính VNCH và bộ quân phục của người lính CSBV là quần chúng phân biệt được ngay.

ĐẤU TRANH (guerre lutte): thường xảy ra dưới 2 hình thức “bạo động” và “bất bạo động”. Theo Kamarowsky định nghĩa: “Những cuộc đấu tranh giữa những đảng chính trị” (Luttes armées des parties organiséùs politiquement). Vì thế, đấu tranh là tìm kết thúc thắng lợi để biến đổi thể chế chánh trị (transformation politique) như đã xảy ra bên Đông Âu và Liên Xô trước đây, nó đã làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu, thể chế của xã hội cũ, giống như một cuộc cách mạng có ý nghĩa hẹp bên trong (la révolution au sens etroit), đơn giản chỉ thay đổi quyền lực chánh trị của một đảng phái đang cầm quyền để thổi luồn sinh khí mới, tạo một vận hội mới cho dân tộc.

Làm thế nào có thể “DÂN TỘC HÓA CUỘC ĐẤU TRANH” khi người dân yêu nước vừa mới chỉ lên tiếng vấn đề HOÀNG SA & TRƯỜNG SA thuộc chủ quyền  của Việt Nam thì bị bắt ngay. Ngay cả những thanh niên, sinh viên, học sinh mặc áo màu xanh, phản đối dự án để cho Trung Cộng khai thác “bauxite” ở Cao nguyên Trung Phần hoặc những ai mặc áo màu xanh dương với hàng chữ Hoàng Sa & Trường Sa của Việt Nam cũng bị CAND cảnh cáo và bắt giam. Tại sao vậy?

Trong tháng 8/ 2009, bọn Thái thú CS Hà Nội liên tục ra lệnh bắt giam những người dân Việt yêu nước và có tinh thần chống bọn Trung Cộng bành trướng, bá quyền lên đến 27 người. Trong số nầy, có ký giả Đoan Trang vì cô đã tiết lộ tin Tham tán Kinh tế Trung Cộng tên Hồ Tỏa Cẩm “lên lớp” báo chí Việt Nam không “hữu hảo” với Trung Cộng. Tên Hồ Tỏa Cẩm đề nghị phía CS Hà Nội kỷ luật các tờ báo đã cho đăng bài của bà Phạm Chi Lan và Nguyễn Minh Phong được nhiều báo điện tử và diễn đàn thông tin hải ngoại khai thác.

Những hành động của bọn Thái thú CS Hà Nội bắt bớ, tù đày đối với những người Việt Nam yêu nước kể trên, chẳng khác gì “XIỀNG XÍCH HÓA DÂN TỘC”, rồi trao vũ khí cho họ, đẩy họ đi làm tự vệ biển, thì làm sao họ chiến đấu được chứ?  Tôi thật sự không biết, ông Lưu văn Lợi dựa vào cơ sở nào để viết thành sách lược “Dân tộc hóa cuộc đấu tranh” kể trên? Rất mong được ông trả lời trên diễn đàn nầy.

Tôi xin kể một đoạn trong “Ngô Tử Binh Pháp” để thay cho lời kết:

Ngày xưa, muốn mưu đồ chuyện quốc gia đại sự, trước hết phải dạy trăm họ mà THÂN MUÔN DÂN. Có 4 điều bất hòa phải tránh:

•        Bất hòa ở trong nước thì không thể ra quân.
•        Bất hòa ở trong quân thì không thể ra trận.
•        Bất hòa ở trong trận thì không thể tiến chiến.
•        Bất hòa ở chiến thì không thể quyết thắng.

Bởi thế, vị chúa có đạo sắp dùng đến dân, trước PHẢI HÒAVỚI DÂN để cùng mưu việc lớn...

BIẾT NGƯỜI BIẾT TA, TRĂM TRẬN TRĂM THẮNG - TÔN TỬ

CHIẾN LƯỢC DÀI HẠN CỦA TRUNG CỘNG BÀNH TRƯỚNG XUỐNG VÙNG ĐÔNG NAM Á CHÂU NHƯ THẾ NÀO? ....

HƯ TRƯƠNG THANH THẾ:

Nghĩa đen của nó là thổi phồng thanh thế để cho địch thủ hoảng hốt, giống như con cáo đội lốt hổ trong các truyện ngụ ngôn. Nguyên tắc căn bản của chiêu hư trương thanh thế thường được sử dụng vào hai mục tiêu:

•        Chính trị: áp dụng trong chánh sách tuyên truyền để lừa địch giống như vụ Hoa Kỳ bị Liên Xô lừa trong vụ chế tạo phi cơ khổng lồ Bisons. Bài học nầy được bọn Trung Cộng lập lại bằng cách cho gián điệp thổi phồng lên quá đáng về chiến lược biển của Trung Cộng, vũ khí hiện đại, căn cứ tàu ngầm nguyên tử của Trung Cộng tại Yulin (Sanya) trên đảo Hải Nam...

•        Quân sự: Đảng Quốc Xã đã làm cho đối thủ của Hitler phải hoảng sợ bằng những cuộc diễn hành vĩ đại với sự tham dự quân đội cùng với phương tiện chiến tranh như xe tăng, đại pháo, hỏa tiển... và âm nhạc hùng tráng.

Vào thế kỷ 21, Trung Cộng cũng bắt chước chiêu nầy, biểu dương lực lượng hùng hậu vào ngày Lễ kỷ niệm 60 năm ngày Cộng Hòa Nhân Dân ra đời (1949 – 2009) làm thế giới chóa mắt với sự tham gia trên 200.000 người diễn hành, 8.000 xe ô tô, những dàn hỏa tiển, đại pháo, xe thiết giáp...diễn tả 60 năm thăng trầm lịch sử của Trung Hoa. Nhưng, tất cả chỉ là sự “hư trương thanh thế” của Trung Cộng, nhằm che đậy những nan đề của họ, ít ra cũng để hù dọa, bắt chẹt được mấy con “vịt đẹt” trong  Bắc Bộ Phủ. Nếu như Trung Cộng có sức mạnh thực sự, chắc chắn họ sẽ không nhượng bộ trong việc tranh chấp chủ quyền đảo san hô OKINOTORI với diện tích khoảng 1 km2 với Nhật Bản (cách Tokyo khoảng 1700 km). Bọn Trung Nam Hải nuốt nhục, không dám hó hé mà cũng  không dám làm điều gì khác là phản ứng bằng mồm. Bọn Tàu Cộng xỏ lá thừa biết rằng chánh phủ Nhật Bản không dễ gì bắt nạt như  bọn thái thú CS Hà Nội đê hèn, khiếp nhược.

Hán tộc không phải là một dân tộc anh hùng như họ thường vỗ ngực tự hào là “Đại Hán” hoặc “Đường Huynh” (Thoòng Dành). Theo Lỗ Tấn thì dân tộc Hán “Tàn bạo như hổ báo, xảo quyệt như hồ ly và nhát gan như thỏ đế”. Nhân loại đang ở vào thế kỷ thứ 21 và trên thế giới ngày chỉ còn có dân tộc Đại Hán còn giữ phong tục man rợ là ĂN THỊT NGƯỜI. Nay mai, các “ cửa hàng ăn uống” tại Hoa Lục sẽ có thêm món ăn đặc biệt để phục vụ sex là CANH THAI NHI HẦM THUỐC BẮC. Trung Cộng sẽ chẳng bao giờ là một siêu cường lãnh đạo thế giới theo trí tưởng tượng của nhiều người...

Trong thế chiến thứ hai, người sử dụng chiêu “Hư trương thanh thế” đến mức tuyệt đỉnh là Tướng ERWIN ROMMEL – nguyên Tư Lệnh Sư đoàn Thiết giáp số 7 của Đức.

Tháng 2 năm 1941, Tướng Rommel được Hitler bổ nhiệm làm Tổng Tư Lệnh liên quân Đức & Ý tại mặt trận Bắc Phi. Lúc bấy giờ, quân Anh đang làm chủ tình hình vùng Địa Trung Hải, gây khó khăn cho quân Đức về mặt vận chuyển đường biển. Nhưng, Bá Linh ra lệnh cho Tướng Rommel là không được sử dụng Sư đoàn 25 Thiết giáp tấn công địch mà phải chờ chi viện.

Qua tinh tức tình báo, Tướng Rommel được biết toàn bộ quân Anh được điều động sang Ai Cập để dưỡng quân và huấn luyện chờ nhập trận. Lợi dụng cơ hội đó, Tướng Rommel quyết định tấn công táo bạo. Rommel ra lệnh dùng xe ô tô ngụy trang thành xe thiết giáp, lúc ẩn, lúc hiện tiến ào ạt về hướng khu vực quân Anh chiếm đóng, tung bụi mịt mù. Quân Anh hoảng loạn  vì không ngờ Đức có nhiều xe thiết giáp đến thế. Bấy giờ, Rommel mới xua các đơn vị thiết giáp thật tấn công và mở toang cánh cửa sa mạc Bắc Phi. Toàn bộ lực lượng Anh tan rã phải rút chạy về vùng Libye gần biên giới Ai Cập...

CHIẾN LƯỢC TẤN CÔNG GIÁN TIẾP CỦA TRUNG CỘNG:

Ý nghĩa của chiến lược TẤN CÔNG GIÁN TIẾP (indirect approach): Muốn khống chế vùng Đông Nam Á Châu phải đi vòng qua ngã Việt - Miên - Lào, vào Thái Lan, xuống Malaysia, qua Indonesia, rồi Philippines. Sau khi đặt ách thống trị toàn vùng Đông Nam Á Châu, tham vọng của Trung Cộng chắc chắn không dừng lại ở đó và sẽ vói tay xuống Australia và New Zealand là đồng minh của Hoa Kỳ.

Nhà chiến lược quân sự LIDDELL HART mô tả chiến lược “tấn công gián tiếp” như sau: “Lịch sử chiến tranh, trên căn bản là ghi nhận sự tiến hóa của lối ứng chiến gián tiếp. Sau khi đã tìm hiểu trong nhiều chiến dịch, tôi nhận thấy rằng “tính gián tiếp” hơn hẳn”tính trực tiếp” (direct approach) đối với chiến tranh là một điều không thể chối cải được. Bởi vạây, tôi lấy tính gián tiếp làm ánh sáng cho những tìm tòi về chiến lược. Thật vậy, tính gián tiếp từ ngàn xưa vẫn thường được áp dụng rất nhiều ở mọi cuộc chiến tranh, từ chiến lược đến chiến thuật đều có mặt lối “tấn công gián tiếp” và nó đã xây dựng nên nghệ thuật cao cho khoa học quân sự.”
Xin kể một vài thí dụ điển hình:

•        Năm 1814, trên đường trở về Paris, Napoléon đã đi vòng qua dãy núi Alpes chớ không vào vùng Rhône, bởi vì vùng Alpes có nhiều người theo Cộng Hòa, còn vùng Rhône thì khu vực của phe bảo hoàng.

•        Trotsky sửa soạn tổng phản công Denikine, phải chờ Denikine đến vùng Donetz mới dánh, chứ không đánh ở Kouban. Lý do, Kouban là vùng dân Cô-Giắc đang chống chế độ Xô Viết mà Donetz là nơi phong trào Xô Viết phất lên mạnh nhất.

Tình hình hiện nay tại vùng biên giới Thái Lan và Campuchia ngày càng rõ nét. Thái Lan đang lâm vào thế thù trong, giặc ngoài: Tin tức từ Phnom Penh (RFA) ngày 12/1/2010, đài Á Châu Tự Do đưa tin: Thủ tướng Hun Sen của Campuchia cho rằng chính phủ Thái Lan khó tồn tại và kết án Ngoại Trưởng Thái là khủng bố. Bang giao giữa Thái - Campuchia trong tình trạng khủng khoảng, sau khi Hun Sen mời Thaksin làm cố vấn Kinh tế cho chánh phủ Campuchia làm công luận Thái Lan nỗi giận và đòi chánh phủ Bangkok cắt đứt bang giao giữa hai nước. Campuchia cũng bác bỏ yêu cầu dẫn độ của Thủ tướng Thái Lan.

PHÂN TÍCH CHÍNH TRƯỜNG THÁI LAN ĐỂ THẤY RÕ ÂM MƯU BÀNH TRƯỚNG CỦA TRUNG CỘNG:

Hơn 3 năm qua, tình hình chánh trị Thái Lan luôn bị xáo trộn bởi cuộc khủng khoảng chính trị làm tê liệt đất nước, vô số cuộc biểu tình xảy ra giữa những người ủng hộ và chống cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra bị quân đội Hoàng gia Thái Lan lật đổ vào tháng 9/2006.

Khi người lãnh đạo của Đảng Dân Chủ là ông Abhisit Vejjajiva được chọn làm thủ tướng vào ngày 15/12/2008, người dân Thái hy vọng cuộc biểu tình cuối cùng cũng đi đến hồi kết thúc. Tuy nhiên cuộc khủng khoảng vẫn còn rất lâu nữa mới đi đến hồi kết thúc.

PHE ỦNG HỘ THAKSIN:

Ông Thaksin vẫn giữ được sự ủng hộ rộng khắp của những người nghèo ở vùng nông thôn phía Bắc như Chang Mai, Chang Rai, Nông Khai, Udon... những người đã được nhận lợi ích từ chánh sách dân túy mà ông đã đưa ra trong suốt 5 năm cầm quyền. Những người ủng hộ Thaksin tự gọi mình là “Mặt Trận Dân Chủ Chống Độc Tài” (UDD) và luôn mặc áo màu đỏ.

UDD nói rằng Thủ tướng Abhisit Vejjajiva lên cầm quyền không hợp pháp và chỉ là con rối của quân đội. Họ muốn ông từ chức và kêu gọi cuộc bầu cử mới. Họ áp dụng chiến thuật tương tự đã dẫn tới sự thay đổi trong chính quyền Thái Lan của những người biểu tình chống Thaksin hồi năm ngoái.

Kể từ tháng 3/2009, phe áo đỏ đã tổ chức những cuộc biểu tình ngồi ngay bên ngoài các cơ quan chính phủ và đôi lúc ngăn cản Nội Các nhóm hợp. Họ đã buộc cuộc họp thượng đỉnh của “Hiệp hội các nước Đông Nam Á” (ASEAN) vào tháng 4 phải hoãn lại. UDD tấn công địa điểm tổ chức họp ở khu biển nghỉ mát nổi tiếng Pattaya, gây khó khăn cho chánh phủ. Một ngày sau đó, họ tấn công luôn Bộ Nội Vụ và chặn các con đường đông đúc ở Bangkok và hàng ngàn người cắm trại bên ngoài tòa nhà chính phủ.

Sau cuộc họp thượng đỉnh, Thủ tướng Abhisit tuyên bố tình trạng khẩn cấp và hứa hẹn khôi phục lại trật tự .

PHE CHỐNG LẠI THAKSIN:

Những người phản đối Thaksin tự gọi mình là “Liên minh Nhân dân vì Dân Chủ” (PAD) và mặc áo màu vàng để khẳng định quan điểm ủng hộ chế độ Quân Chủ Lập Hiến. Họ mặc áo màu vàng để bày tỏ lòng trung thành tuyệt đối với vua của họ.

PAD thuộc thành phần trung lưu, trí thức ở thủ đô Bangkok và thành thị được lãnh đạo bởi ông trùm truyền thông Sondhi Limthongkul và Chamlong Srimuang, cựu tướng có quan hệ thân thiết với cố cao cấp của vua là tướng Prem Tinsulanonda.

PAD buộc tội Thaksin đã tham nhũng và ưu đãi họ hàng trong thời gian đang nắm quyền. Họ tổ chức biểu tình liên tiếp vào năm 2008 để chống lại đảng đang giữ chánh quyền vào thời gian đó là đảng “Sức mạnh của nhân dân” (PPP) được coi là biến thể của đảng Thai Rak Thai của Thaksin.

PAD đã tổ chức biểu tình chiếm giữ tòa nhà chính phủ suốt 3 tháng và vây hãm 2 sân bay quốc tế của Bangkok suốt một tuần vào tháng 12, làm ảnh hưởng đến nền công nghiệp Thái Lan. Cùng với phán quyết của tòa án, PAD đã lật đổ hai Thủ tướng Samak Sundaravej và Somchai Wongsawat là em rể của Thaksin.

Cựu Thủ tướng Thaksin là người Thái gốc Hẹ, tham vọng của ông ta là muốn lật đổ vương quyền để thành lập nước Cộng Hòa Thái Lan và đặt Thái Lan vào trong quỹ đạo của Trung Cộng, nên đã bị quân đội Hoàng gia Thái trung thành với vua, làm một cuộc đảo chánh không đổ máu. Sau khi bị lật đổ, Thaksin đã từng xuất hiện ở Hoa Lục. Việc Thủ tướng Campuchia Hun Sen mời Thaksin về làm cố vấn kinh tế cho chánh phủ, nhất định phải có bàn tay lông lá của Trung Cộng sắp xếp để gây chia rẽ và khuynh đảo chính trường Thái Lan.

Trung Cộng đã dàn xếp cho bộ ba Hun Sen, Thaksin (Thái gốc Hẹ) và Nông Đức Mạnh (Việt gốc Zhuang) gặp nhau để tiếp tay với Thaksin gây chia rẽ dân tộc Thái, đó cuộc chiến giữa hai màu áo đỏ và vàng (The war of color). Hun Sen bịa ra một “văn bản bí mật” của chánh phủ Thái Lan, trong đó có kế hoạch đảo chánh của Thái Lan ở Campuchia. Văn bản đó đã trình lên Quốc vương Norodom Sihamoni. Hun Sen còn tuyên bố: “Họ (Thái Lan) đã vạch sẵn những tình huống xấu với Campuchia, trong đó có cả việc gây chiến tranh với Campuchia.”

Ngay sau đó, Phó Thủ tướng Thái Lan ông Suthep Thaugsuban - phụ trách an  ninh - bác bỏ lời tuyên bố Thủ tướng Hun Sen là vô căn cứ và nhấn mạnh rằng: “Chánh phủ Thái Lan không bao giờ can thiệp vào công việc chánh trị của Campuchia.”

Tất cả cuộc chiến tranh nào cũng mở màn bằng trận đấu bằng võ mồm giữa đôi bên, trước khi điều động binh lực ra biên giới giữa hai nước. Điều muốn nói ở đây là sự gian giảo, quỷ quyệt và vô cùng thâm độc của bọn lãnh đạo Trung Nam Hải - những tên thừa kế sự nghiệp của Mao, Đặng - trong cuộc chiến tranh xâm lược, thôn tính các quốc vùng Đông Nam Á Châu hiện nay.

Thái Lan là một đồng minh trung thành với Hoa Kỳ, được Hoa Kỳ trang bị đến tận răng, đó không phải là một miếng mồi dễ nuốt. Vì vậy, Trung Cộng tránh đụng độ trực tiếp với quân đội Hoàng gia Thái Lan, có thể dẫn đến cuộc đụng độ trực tiếp với quân đội Hoa Kỳ như đã từng đụng độ trực tiếp với quân đội đó tại mặt trận Triều Tiên năm 1950, khi Mao Trạch Đông quyết định xua Hồng quân vượt sông Yalu river (sông Áp Lục) vào tháng 11 năm đó. Cuộc chiến tranh Triều Tiên chấm dứt vào tháng 7 năm 1953. Có khoảng 900.000 quân lính Trung Cộng tử trận vì chiến thuật “Biển người”.

Rút kinh nghiệm cuộc chiến tranh Triều Tiên để tránh độ trực tiếp với quân đội Mỹ nên Mao Trạch Đông đã sử dụng tên thái thú Hồ Chí Minh và cái Đảng CSVN ăn hại đái nát vừa thực thi đường lối Hán hóa, vừa xua người lính QĐNDVN xâm lăng MNVN với sự yểm trợ vô giới hạn của Trung - Xô và cả khối cộng sản Đông Âu để trực tiếp đối đầu với Quân đội VNCH và Hoa Kỳ gây nên cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn.

Kết quả thảm khốc là tên Hồ Chí Minh và những lãnh tụ kế tục sự nghiệp ngu xuẩn của ông ta đã nướng sạch nguyên một thế hệ Việt Nam trên BỐN TRIỆU THANH NIÊN và tiêu diệt nền VĂN HÓA CỔ TRUYỀN DÂN TỘC để phục vụ chiến lược CHỐNG MỸ ĐẾN NGƯỜI VIỆT NAM CUỐI CÙNG và dễ dàng cho việc hiện sách lược HÁN HÓA VIỆT NAM của Trung Cộng sau nầy, như chúng ta đã thấy rồi đó!

Điều nầy đã chứng minh được cái bản chất chủ nghĩa THỰC DÂN MỚI TRUNG CỘNG đầy mưu mô xảo quyệt, thâm độc và tàn ác gấp nhiều lần hơn CHỦ NGHĨA THỰC DÂN CŨ. Điểm khác biệt ở chỗ là Trung Cộng không cần phải đưa lực lượng quân sự trực tiếp xăm lược các nước khác, để cướp đoạt tài nguyên, nhân lực làm giàu cho mẫu quốc như Thực dân cũ Anh, Pháp, Tây Ban Nha vào thế kỷ 20...mà chỉ cần khống chế tên thái thú HCM và Đảng CSVN làm tay sai để thực thi đường lối Hán hóa, chết thay cho lính Tàu, chiến trường Đông Dương trước đây là một thí dụ điển hình. Và Thái Lan sẽ là mục tiêu kế tiếp trong chiến lược bành trướng của Trung Cộng. Bọn thái thú CS Hà Nội sẽ vâng lời quan thầy, xua người lính QĐNDVN vào chiến trường Thái Lan để lót đường cho chủ nghĩa bành trướng Trung Cộng. Người lính QĐNDVN lại tiếp tục hy sinh tánh mạng cho thứ chủ nghĩa nào nữa đây? Hay làm bia đở đạn để bảo vệ quyền lợi của bọn thái thú CS Hà Nội tay sai của bọn Trung Cộng?

HÃY VÙNG LÊN NHÂN DÂN VIỆT NAM ANH HÙNG!

Tổ Quốc đang vang vọng tiếng “NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ”. Hồn thiêng sông núi đang đòi chúng ta hành động! Hãy vùng lên Nhân dân Việt Nam anh hùng! Giờ phút quyết định vận mạng Tổ Quốc của người lính QĐND đã điểm! Hãy quay súng trở về cùng với nhân dân Việt Nam, nhất tề đứng lên bảo vệ Tổ Quốc! Mỗi người dân Việt không phân biệt tôn giáo, không biệt giai cấp, mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã, thôn ấp là một ấp chiến lược để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ tiên!

Người lính QĐNDVN thoát thai từ nhân dân, vì dân mà chiến đấu. Hãy chứng tỏ các bạn là THÀNH ĐỒNG BẢO VỆ TỔ QUỐC chớ không phải bảo vệ bọn thái thú CS Hà Nội, một lũ lãnh đạo bưng bô, bất tài, vô dụng, tham nhũng thối nát đã phản bội Dân Tộc và bán đổ, bán tháo Tổ Quốc cho bọn Trung Nam Hải! Hãy cùng với nhân dân đứng lên tiêu diệt cho bằng được cái gọi là lực lượng CÔNG AN NHÂN DÂN - đa số là đảng viên CS - bộ máy đàn áp dã man đồng bào ruột thịt mà trong đó có cả thân nhân của các bạn. Bọn côn đồ, du đảng ác ôn khoác công an đã sử dụng cả dùi cui, roi diện, báng súng... điên cuồng đánh đập những người yêu nước mà trong tay không một tất sắt để tự vệ, tra tấn cả trẻ con, bụp luôn cả thương phế binh, những người đã hy một phần thân thể cho cái gọi là “Kháng chiến chống Thực dân Pháp” và “Chống Mỹ cứu nước” trước đây.

Bọn CANDVN không còn là người Việt Nam nữa, mà là hiện của bọn những tên CAND Trung Cộng, đứng hẵn về phía bọn thái thú CS Hà Nội, chống lại nhân dân Việt Nam để bảo vệ quyền lợi của mẫu quốc Trung Cộng. Người lính QĐNDVN phải có một nhận định đúng đắn: BỌN CAND LÀ KẺ BẢO VỆ NHỮNG TÊN GIẶC NỘI THÙ CỦA DÂN TỘC và các bạn biết phải hành động như thế nào để xứng đáng với danh xưng “THÀNH ĐỒNG BẢO VỆ TỔ QUỐC”.

Tôi chỉ đồng ý với quan điểm của ông Lưu văn Lợi về danh từ “DÂN TỘC HÓA”. Bởi vì, cuộc đấu tranh của nhân dân chống bạo quyền CS Hà Nội  và cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chống chủ nghĩa bành trướng, bá quyền của Trung Cộng và tất cả đều phải được “DÂN TỘC HÓA” mới đi đến thành công.

CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG BẠO QUYỀN CS HÀ NỘI:

Phải gọi đây là một cuộc CÁCH MẠNG XÃ HỘI, một biến động chánh trị lớn lao đã và đang xảy ra trên đất nước chúng ta, khi mà chế độ XNCN VN đầy kinh dị được lãnh đạo bởi bọn thái thú CS Hà Nội tay sai của bọn Trung Nam Hải, cai trị đất nước bằng một thứ Hiến pháp phản động, luật lệ rừng rú, càng ngày càng tỏ ra áp bức quần chúng, đàn áp thô bạo các tôn giáo và giai cấp trí thức yêu nước trở thành đối tượng thù ghét của bạo quyền CS, họ bị đày ải, đồ sát, tù đày...Chế độ XHCNVN mà những tên cầm quyền cực kỳ ngoan cố, càng ngày càng tỏ ra bất lực trong việc giải quyết công ăn việc  cho quần chúng ở thành thị và cả nông thôn làm bùng lên nhiều tệ đoan làm ung thối xã hội.

Cuộc cách mạng xã hội nầy đã không tự nhiên xảy ra mà phải do con người kết hợp lại để  đấu tranh. Đấu tranh không phải chờ đến thiên thời, địa lợi, nhân hòa mà do con người Việt Nam tranh đấu kiên cường, bất khuất trong một cuộc chiến không khoan nhượng với tổ chức áp bách của bạo quyền CSVN. Tổ chức áp bách đó là LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BẢO VỆ CHÁNH TRỊ (la police politique).

Sở dĩ cuộc cách mạng ở Romania thành công mau chóng, ít đổ máu là nhờ quân đội Romania phản tỉnh đứng về phía nhân dân Romania, quay súng chống lại chế độ độc tài, khát máu Nicolae Ceausescu và làm tan rã cái lực lượng công an, mật vụ bảo vệ chế độ đó. Nhân dân Việt Nam kỳ vọng QĐNDVN sẽ hành sử như quân đội Romania  và đó mới đích thực quân đội của nhân vì dân mà tranh đấu. Qua những cuộc cách mạng điển hình Romania, Hungry... chúng ta đã rút ra được bài học rất có giá trị là: “TẤT CẢ CUỘC CÁCH MẠNG NÀO CŨNG PHẢI TIẾN ĐẾN ĐẢO CHÁNH”.

Đúng vậy, kỹ thuật đảo chánh là kỹ thuật cướp chánh quyền. Theo giải thích của Littré về danh từ “đảo chánh” (coup d’Etat) như sau: “Đảo chánh là một hành động có tính quyết định một điều quan trọng cho LỢI ÍCH QUỐC GIA” (Le coup d’Etat est une action qui décide de quelque chose d’important pour le bien d’Etat)

NHỮNG HÌNH THỨC ĐẢO CHÁNH LIÊN QUAN ĐẾN QUÂN ĐỘI:

•        Quân đội đảo chánh kiểu CÉSARISME: Trước tình thế hỗn loạn, một tướng lãnh có đủ uy tín, có quân đội ủng hộ kéo quân về lật đổ chánh phủ trung ương, thiết lập một chế độ khác.

•        Quân đội đảo chánh kiểu BONAPARTISME: Kết hợp đấu tranh nghị trường với áp lực quân đội để  tiêu diệt một tình trạng chánh trị quá phân tán (Napoléon Đệ Nhất ngày 19, Brumaire).

•        Quân đội đảo chánh kiểu PRONUNCIAMIENTOS: Quân đội đảo chánh, cầm đầu bởi một junta (tập đoàn) do một số sĩ quan tập hợp lại tổ chức cuộc đảo chánh, thường xảy ra tại các quốc gia vùng Nam Mỹ Châu

•        Đảo chánh của hội đồng quân nhân cách mạng: Tướng Mustapha Kémal cầm đầu cuộc đảo chánh tại Thổ Nhĩ Kỳ thành công.  Nước Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ được thành hình vào ngày 29/10/1923 do ông lãnh đạo, Thổ Nhĩ Kỳ từ một nước nghèo nàn lạc hậu trở nên giàu có và hùng cường như hiện nay.

•        Đảo chánh kiểu CATALINAIRE: Kết hợp các lực lượng trong chế độ để chống lại chánh quyền. Kết hợp đấu tranh nghị trường với quần chúng để khuynh đảo chánh quyền.

BÀN VỀ KỶ THUẬT ĐẢO CHÁNH CỦA TROTSKY:

Đảo chánh khởi nghĩa đưa đến cách mạng Tháng 10 năm 1917 tại Nga đi đến thành công là do kế hoạch sáng tạo của Trotsky. Trong một cuộc đàm thoại với Lenine để chuẩn bị cuộc khởi nghĩa:

LENINE nói:

“Cuộc khởi nghĩa của chúng ta nhất định không thể dựa trên âm mưu của một nhóm người, chúng ta phải đặt nó trên cơ sở của giai cấp tiền phong. Cuộc khởi nghĩa phải dựa trên đà cách mạng của nhân dân và cuộc khởi nghĩa phải nổ ra lúc cao trào cách mạng lên đến tột đỉnh.”

TROTSKY cười, nói:

“Hay lắm! Nhưng, nên nhớ rằng toàn nhân dân quả là quá thừa đối với cuộc khởi nghĩa. Theo tôi, điều cần của chúng ta là một nhóm người quyết tâm, lạnh lùng và bạo động đã được huấn luyện kỹ càng về kỹ thuật khởi nghĩa. Những người được huấn luyện sẽ chia thành từng nhóm nhỏ đến ngay thủ đô, bất ngờ chiếm cho bằng hết các điểm chiến lược là những “Trung tâm Kỹ thuật”. Chúng ta phải khởi nghĩa theo cái nghĩa của một CUỘC ĐẢO CHÁNH. Sự huy động ồn ào sẽ biến cuộc khởi nghĩa thành chiến tranh mất.

Và TROTSKY tiếp:

“Điều quan trọng cho tất cả mọi Catalinaires trong lịch sử là đập mạnh bất ngờ không cho địch kéo dài thời gian. Tổ chức khởi nghĩa là bộ máy đảo chánh lạnh lùng và lặng lẽ. Bộ máy ấy được điều khiển bởi các tay chuyên viên lành nghề.”

TROTSKY (giọng thân mật với Lenine), nói tiếp:

“Chiến lược của đồng chí phức tạp và đòi hỏi nhiều cơ hội tốt quá! Còn đối với tôi, khởi nghĩa không cần nhiều như vậy, chỉ cần một bộ máy tinh vi, hành động mau lẹ như quả đấm mạnh vào bụng làm tê liệt đối thủ. Thế thôi!”

LỜI KẾT:

Tôi xin nhắc lại lời nói của Mã Viện thay cho lời kết, để các bạn trong QĐNDVN suy ngẫm về khí phách hào hùng của người lính trong mọi thời đại: “Làm trai, nên chết ở chốn biên thùy, lấy da ngựa bọc thây mà chôn mới đáng trọng; chớ ốm nằm ở xó giường, chết trong tay lũ trẻ nâng đở thì có hay gì!”

Không biết Đại tướng Võ Nguyên Giáp có ngộ ra điều nầy chưa? Cứ cho ông là “Hổ tướng”, người đã từng gầm thét rung chuyển chiến trường Điện Biên Phủ năm xưa đi. Nhưng vào cuối đời, trước khi về cội, ông cũng chỉ là con người bình thường “tham sanh úy tử”, chấp nhận “sống nhục hơn chết vinh”. Con hổ già trước khi chết, phải gầm lên một tiếng để đời, đánh thức lòng yêu nước của quân nhân các cấp trong QĐNDVN, những người đã một thời đặt dưới quyền chỉ huy của ông năm xưa.

Bọn thái thú CS Hà Nội tay sai của Trung Cộng sẽ lôi ông ra pháp trường xử bắn và tên tuổi của ông sẽ ngạo nghễ đi vào lịch sử như một vị danh tướng trung dũng. Tiếc thay, ông đã hèn nhát, không dám làm điều đó! Bây giờ, ông giống như một con mèo già, ốm yếu nằm chờ chết ở xó giường trong tay đàn bà và lũ trẻ nâng đở thì có hay gì! Xin thành thật chia buồn  cùng Đại Tướng Võ Nguyên Giáp!   

Quân Sử Việt Nam (TOP)