Danh Tướng Lịch Sử Việt Nam - Lịch Sử Quân-Sử Việt-Nam

Lịch-Sử Quân-Sử Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân-Sử Việt-Nam Cộng-Hòa

Thiên-Tài Quân-Sự Việt-Nam

quân sự việt nam, quân sự

Thiên Tài Quân Sự Việt Nam Nguyễn-văn-Hiếu 

Thiên Tài Quân Sự Việt Nam Nguyễn-văn-Hiếu Đánh bại Tướng Võ-nguyên-Giáp Ở Mặt Trận Pleime 1965

Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc giới thiệu

48 năm trước, Thiên Tài Quân Sự Việt Nam Nguyễn-văn-Hiếu đã từng đánh bại Tướng Võ-nguyên-Giáp trên chiến trường Pleime năm 1965. Khi đó ông (Thiên tài QSVN Nguyễn-văn-Hiếu) đang là đại tá Tham mưu trưởng Quân Đoàn II Quân Khu II Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ba bài viết bên dưới được tiết lộ bởi Thiếu tướng Nguyễn-văn-Hiếu, theo lời thuật lại của ông Nguyễn-văn-Tín (bào đệ của cố tướng quân Nguyễn-văn-Hiếu) "...Mãi cho tới bây giờ anh tôi mới bật mí hoàn toàn về chiến dịch Pleime..." -ngưng trích email nhận được-

Trúc-Lâm Yên-Tử, Hội Sử-Học Việt-Nam trang trọng giới thiệu đến quý chư độc giả bốn phương về tài dụng binh như thần của cố Thiếu Tướng Nguyễn-văn-Hiếu khiến cho các Tướng của Việt cộng từ Võ-nguyên-Giáp, Chu-huy-Mân tư lịnh mặt trận B3 phải chuốc lấy thảm bại. 

Xin đốt một nén tâm hương kính dâng lên cố Thiếu Tướng Nguyễn-văn-Hiếu một Thiên Tài Quân-Sự Việt-Nam và cũng là một vị Anh-Hùng của dân tộc Việt-Nam.  Đồng thời tưởng nhớ đến sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến Vệ Quốc An Dân chống giặc Tầu xâm lược (1954-1975)

***

Chiến Dịch Pleime/Chuprong Phá Hủy Căn Cứ Mặt Trận B3

1. Tình Báo

Qua trinh sát Radar và Hồng Ngoại Tuyến, Ban 2/MACV biết được một căn cứ lớn cỡ sư đoàn đã được thiết lập tại Chu Prong gồm nhiều kho tiếp liệu và trung tâm huấn luyện.

Ban 2/II Quân Đoàn II, biết được là vào tháng 7 năm 1965, Tướng Chu Huy Mân được phái từ Khu 5 Đà Nẵng lên vùng Cao Nguyên thành lập Mặt Trận B3 với nhiệm vụ tấn chiếm vùng Cao Nguyên. Lực lượng chính của Mặt Trận B3 sẽ gồm ba trung đoàn 32, 33 và 66. Trung Đoàn 32 đã hoạt động tại vùng Cao Nguyên từ đầu năm 1965. Trung Đoàn 33 được lệnh xuất quân vào Nam cuối tháng 7, Trung Đoàn 66 vào cuối tháng 8.

Vào đầu tháng 8 năm 1965, Bộ Tổng Tư Lệnh QĐND nhận được dự án kế hoạch tiến công Pleime-Pleiku do Mặt Trận B3 biên soạn. Ðầu tháng 10, Bộ Tư Lệnh Mặt Trận Tây Nguyên nhận được điện báo: Bộ Tổng Tư Lệnh QĐND thông qua kế hoạch chiến dịch Pleime, dự tính khởi động vào cuối năm 1965 hay đầu năm 1966.

2. Khái Niệm Hành Quân

Dựa vào các tin tức tình báo thu thập được, khởi sự tháng 9 năm 1965, Ban 3/Quân Đoàn II và Ban 3/MACV phối hợp điều nghiên kế hoạch phá hủy hậu cứ Chu Prong và triệt tiêu ba trung đoàn thuộc Mặt Trận B3 cùng một lúc bằng oanh tạc chiến lược B-52.

Vấn đề khó là làm sao mật độ kết tụ của ba trung đoàn nằm trong một vùng khoảng 1 cây số vuông, nghĩa là phải có thể chấm tọa độ trung tâm khối lực lượng nhắm bắn với độ chính xác ít ra là (XX’YY’) và bia nhắm phải bất động ít ra là 8 tiếng đồng hồ, vì đó là khoảng thời gian oanh tạc cơ B-52 cần có để bay từ đảo Guam sang Chu Prong của vùng Cao Nguyên.

Thời điểm lý tưởng nhất là khi ba trung đoàn kết tụ lại tại các trung tâm tập trung và nhất là quy tụ lại tại địa điểm xuất quân chuẩn bị cho một cuộc tấn công. Các trung đoàn sẽ bất động ở vùng tập trung để tập trận trong khoảng hai ba ngày, nhưng chỉ duy trì ở điểm xuất quân chừng 2,3 tiếng, nên phải có kế hoạch nghi binh khiến địch nán lại ở điểm xuất quân ít ra 8 tiếng thì B-52 mới tới kịp đánh phá mục tiêu oanh tạc.

Khi được tin Mặt Trận B3 sẽ dùng hậu cứ Chu Prong làm địa điểm tập trung và xuất quân chuẩn bị tấn công trại Pleime, Ban 3/Quân Đoàn II thấy là có thể dùng B-52 để phá hủy hậu cứ và lực lượng Mặt Trận B3 cùng một lúc. Vấn đề là phải theo dõi sát tình hình địch quân để xác định được cách chính xác khi cả ba trung đoàn tập trung lại, và rồi đánh lừa địch nán lại vùng xuất quân trong 8 tiếng đồng hồ.

3. Thực Hiện Hành Quân

Hành Quân Dân Thắng 21

Khi Mặt Trận B3 lấy quyết định khởi động chiến dịch Plâyme sớm hơn dự tính – thay vì tháng 12 năm 1965 – vào ngày 19 tháng 10 với hai trung đoàn – 33 vây trại Pleime và 32 phục kích chiến đoàn tiếp cứu, để tránh phải đụng lính Mỹ, Ban 3/Quân Đoàn II thấy chưa phải lúc dùng tới B-52 vì trung đoàn 66 chưa có mặt tại vùng Cao Nguyên. Ban 3/ Quân Đoàn II tính kế trì hoãn chiến chỉ nhằm không để địch thực hiện kế công đồn đả viện, bằng cách tăng cường trại với hai đại đội hỗn hợp LLĐB Mỹ-Việt và xuất phát một chiến đoàn thiết kỵ tiếp cứu. Hai lực lượng này vừa đủ mạnh để xua đuổi địch đồng thời không gây thiệt hại quá nặng cho địch để chúng còn đủ lực tính kế phục hận bằng cách tấn công trại Pleime lần thứ hai, lần này có đầy đủ cả ba trung đoàn 32, 33 và 66.

Hành Quân All the Way

Khởi sự ngày 27 tháng 10, sau khi giải tỏa trại Pleime, Ban 3/Quân Đoàn II giao cho Lữ Đoàn 1 Không Kỵ trách vụ lùa địch về hậu cứ Chu Prong với hành quân All the Way. Chủ đích của các cuộc xung kích trực thăng vận nhằm không cho phép các đội toán lẻ tẻ dừng chân tại các trạm trú quân trên đường rút quân từ Pleime đến Chu Prong, chứ không tấn kích bản doanh chỉ huy của hai trung đoàn 32 và 33. Ban 2/Quân Đoàn II có nhiệm vụ theo dõi hằng ngày tiến trình rút quân của các đội toán lẻ tẻ địch quân.

Vào cuối ngày 27/10, tin tình báo cho biết các đơn vị dẫn đầu của Trung Đoàn 33 tụ tập xong tới vùng tập trung tiền phương, làng Kro (ZA080030), trong khi tiểu đoàn bảo vệ đoạn hậu vừa mới đoạn tuyệt giao tranh tại trại DSCĐ Pleime.

- Ngày 28/10, tin tình báo cho biết Trung Đoàn 32 đã tới sát các căn cứ hậu cần tại mạn bắc của Ia Drang.

- Ngày 29/10, tin tình báo cho biết Trung Đoàn 33 nhắm rút về Làng Anta tại YA 940010.

- Ngày 31/10, tin tình báo cho biết các đơn vị địch tiếp tục tan rã và phân tán thành từng nhóm nhỏ. Thêm vào đó, Trung Đoàn 33 bị thiếu hụt lương thực và thuộc men vì lẽ nhiều đơn vị không tới được các kho lẫm vì bị các toán không kỵ bất thần truy đuổi.

- Ngày 01/11, tin tình báo cho biết Lữ Đoàn 1 Không Kỵ hủy diệt một bệnh xá cấp trung đoàn; trong khi đó có tin bản doanh Trung Đoàn 33 đã tới căn cứ tại Làng Anta, nhưng khối đông của trung đoàn thì còn bị rải rác dọc giữa đàng từ Pleime đến Chu Prong.

- Ngày 2/11, tin tình báo cho biết Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 nhận được tin Trung đoàn 66 bắt đầu di chuyển vào các vùng tập trung trong vùng Chu Prong-Ia Drang.

- Ngày 3/11, tin tình báo cho biết Lữ Đoàn 1 Không Kỵ phục kích Tiểu Đoàn 8 thuộc Trung Đoàn 66 mới vừa xâm nhập. Tin tình báo trong ngày cũng cho biết Trung Đoàn 33 vẫn đang tìm cách lôi cái đuôi bị thương tích và bầm dập tới mật khu Chu Prong.

- Ngày 4/11, tin tình báo cho biết Trung Đoàn 33 được lệnh ra khỏi căn cứ tại Đồi 732 và đi tới các sườn núi phía tây của Chu Prong gần YA922010 với các tiểu đoàn của trung đoàn khi những tiểu đoàn này tập trung xong thì di chuyển vị trí tời Đồi 732 xuống tới làng Anta (940010) cho tới mạn bắc bờ sông Ia Meur (980000); tin tình báo cũng cho biết các mảnh vụn của trung đoàn vẫn tìm đường về theo hướng tây, bám theo các lòng suối, và xử dụng mọi ẩn núp để tránh bị phát giác bởi các trực thăng Mỹ luôn hiện diện. Còn có một đơn vị vẫn còn tương đối trọn vẹn - tiểu đoàn dùng làm hậu vệ. Khởi sự lên đường sau và di chuyển chậm chạp hơn các đơn vị khác, tiểu đoàn vẫn còn ở phía tây của các vị trí Không Kỵ.

- Ngày 05/11, tin tình báo cho biết Trung Đoàn 66 tiếp tục qui tụ vào các vùng tập trung trong mật khu Chu Prong và Trung Đoàn 33 chờ đợi cho các lực lượng phân tán qui tụ về đơn vị mẹ. Trung Đoàn 32 và Mặt Trận Dã chiến, trong khi đó, còn nguyên vẹn và yên lành tại phía bắc Ia Drang và gần bên biên giới Căm Bốt.

- Ngày 07/11, tin tình báo cho biết Trung Đoàn 33 thưa thớt liếm vết thương và đợi cho các binh sĩ lê gót trở về căn cứ.

- Ngày 08/11, tin tình báo cho biết Trung Đoàn 33 thu thập xong các đơn vị cơ hữu cuối cùng , và rút lui qua phía tây, đồng thời Trung Đoàn 32 đã thoát thân về phía đông sau cuộc phục kích.

- Ngày 09/11, tin tình báo cho biết bản doanh Mặt Trận B3 nằm phía bắc Ia Drang.

Như vậy là Lữ Đoàn 1 Không Kỵ đã thành công lùa địch về hậu cứ Chu Prong. Nhưng các đơn vị địch còn trong tình trạng thế thủ trải rộng ra để khỏi bị Lữ Đoàn 1 Không Kỵ xung kích trực thăng vận.

Giai đoạn lùa địch đã xong. Bây giờ đến giai đoạn dụ địch tập trung quân xích lại nhau. Đó là nhiệm vụ Ban 3/Quân Đoàn II giao cho Lữ Đoàn 3 Không Kỵ thực hiện.

Hành Quân Silver Bayonet I

Ngày 9/11, qua lệnh Tướng Larsen, Tư Lệnh I Field Force Vietnam kiêm Cố Vấn cho Quân Đoàn II, Tướng Knowles, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Kỵ Tiền Phương, thay thế Lữ Đoàn 1 Không Kỵ với Lữ Đoàn 3 Không Kỵ, đồng thời hoán chuyển hướng truy lùng địch quân của hành quân All the Way từ tây sang đông cho hành quân Silver Bayonet I của Lữ Đoàn 3 Không Kỵ, nhằm khiến Mặt Trận B3 lầm tưởng quân Mỹ đánh mất tung tích đối phương và nghĩ là đến lúc chuyển từ thế thủ qua thế công để chuẩn bị tấn công trại Pleime lần thứ hai.

Ngày 10/11, tin tình báo cho biết Mặt Trận B3 sa vào thế nghi binh: sau khi thẩm định tình hình và khi thấy các đơn vị Mỹ coi bộ rút lui về phía đông Pleime, quyết định là cố gắng lấy lại thế thượng phong với một cuộc tấn công. Ngày N tấn công được ấn định là ngày 16 tháng 11 và ra lệnh cho ba trung đoàn tập trung lại để tái phối trí, tái trang bị và tập trận.

Ngày 12/11, cũng lại qua lệnh của Tướng Larsen, Tướng Knowles được lệnh chuẩn bị tung một tiểu đoàn – Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ - vào chân rặng núi cạnh nơi đóng quân của Trung Đoàn 66 một khi các đơn vị của ba trung đoàn được lệnh bắt đầu di chuyển đến các địa điểm xuất quân để cầm chân chúng tại chỗ cho B-52 có đủ thì giờ bay tới mục tiêu.

Ngày 14/11, khi tin tình báo cho biết Mặt Trận B3 ra lệnh các đơn vị xuất quân, Ban 3/MACV thông báo cho B-52 cất cánh để bay tới mục tiêu ấn định tại YA 8702 là tọa độ trung tâm khối của lực lượng Mặt Trận B3 và trút bom đợt đầu vào sau giờ ngọ ngày 15/11, đồng thời Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ được đổ bộ tại LZ X-Ray để cầm chân các đơn vị tại chỗ thay vì di chuyển đi tấn công trại Pleime ngay. Tin tình báo cho biết một số đơn vị xung phong của Mặt Trận B3 đã trên đường đi đến Pleime trước bình minh ngày 14/11.

Vì chỉ nhằm mục đích gây chú ý và đánh lạc hướng, nên khi nhảy vào Chu Prong phải tránh làm sao tránh động mạnh vào ổ ong khiến đàn ong hoặc hoảng sợ chạy chốn tan biến mất hoặc đổ sô vào tấn công thẳng vào mối nguy cơ. Do đó tất cả mọi động tác phải chỉ vừa đủ để khiến các lực lượng Mặt Trận B3 không hoảng sợ tan hàng chạy trốn và không buộc phải đổ sô vào diệt trừ mối đe dọa to lớn mới xuất hiện. Do đó:

- chỉ đổ bộ có một tiểu đoàn, và đổ bộ từ từ kéo dài 5 tiếng đồng hồ mới xong;

- khi Mặt Trận B3 quyết định đình chỉ tấn công trại Pleime và chỉ cho hai tiểu đoàn – 7 và 9 - ra ứng chiến, phía Mỹ chỉ tăng cường thêm một tiểu đoàn – 2/7;

- khi thấy như vậy vẫn chưa đủ vì không cứu nguy được cho một đại đội bị cô lập uy hiếp, phía Mỹ âm thầm tăng cường thêm Tiểu Đoàn 2/5 bằng cách trực thăng vận tới LZ Victor cách xa 5 cây số và lặng lẽ tiến tới lZ X-Ray bằng được bộ vào lúc 12 trưa ngày 15/11, khiến Mặt Trận B3 tưởng lực lượng tương quan vẫn là 2/2, chứ không là 3/2 và không thấy cần phải tung thêm quân vào chiến trường; do đó mục tiêu cho B-52 không bị tan biến.

Thế là các đơn vị của Trung Đoàn 32 và 33 vẫn án binh bất động khi B-52 bắt đằu đánh rập sau giờ ngọ.

Trưa ngày 16/11, để Mặt Trận B3 thấy tương quan lực lượng vẫn là 2/2 thay vì đã trở thành 3/2, Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ được bốc xuất ra khỏi LZ X-Ray bằng trực thăng vận.

Ngày 17/11, hai Tiểu Đoàn 2/7 và 2/5 Không Kỵ được lệnh rời bỏ LZ X-Ray bằng đường bộ để nhường chỗ cho B-52 đánh rập ngay lên bãi đáp. Các toán quân địch còn ở lại trong vùng X-Ray thình lình chợt vỡ lẽ tại sao Không Kỵ rời bỏ đi khỏi nơi này khi oanh tạc B-52 đánh phủ lên đầu các vị trí cũ.

Ngày 18/11, Tiểu Đoàn 2/7 Không Kỵ đụng độ mạnh với Tiểu Đoàn 8/Trung Đoàn 66 khi gần tới LZ Albany. Cuộc chiến tao ngộ ác liệt này kéo dài từ trưa đến 9 giờ tối.

Hành Quân Silver Bayonet II và Hành Quân Thần Phong 7

Ngày 19/11, Tiểu Đoàn 2/7 Không Kỵ được trực thăng vận đến LZ Crooks vào khoảng 2 giờ trưa để cùng Tiểu Đoàn 2/5 Không Kỵ giữ an ninh cho căn cứ pháo binh mới được thiết lập để yểm trợ cho cuộc hành quân Thần Phong 7 của quân Dù Việt Nam.

Tin tình báo trong ngày cho biết các quân lính sống sót của hai Trung Đoàn 33 và 66 bắt đầu di chuyển từng toán nhỏ về hướng biên giới Căm Bồ, dùng sông Ia Drang làm lá chắn che đậy.

Ngày 20/11, yểm trợ pháo binh tiếp tục nã đạn vào các vị trí của Trung Đoàn 32 phía bắc Ia Drang, trong khi các đơn vị khác gây áp lực tấn lên biên giới Căm Bốt. Các đơn vị pháo binh sư đoàn tại Golf và Crooks tiếp tục cung ứng yểm trợ hỏa lực cho các lực lượng Dù VNCH về hướng tây. Đặc biệt đáng ghi nhận là hỏa lực yểm trợ cho các tiểu đoàn 3 và 6 thuộc Lữ Đoàn Dù khi họ giao tranh với phỏng chừng một tiểu đoàn của Trung Đoàn 32 Bắc Quân.

Trận oanh tạc B-52 bắt đầu từ trưa ngày 15/11 tiếp tục trong 5 ngày kế tiếp cho tới ngày 11/20 (Why Pleime, chương VI):

Trong năm ngày liên tiếp, từ 15 đến 20 tháng 11, các phóng pháo cơ B-52 đã bay tổng cộng 96 phi vụ. Từng khu vực một, các khu vực của rặng núi Chu Prông - mỗi khu 20 dậm vuông - tuần tự trải qua một cơn động đất từ Tây sang Đông. Các công sự và hầm hố trước nay từng chống cản các vụ đánh phá của phi cơ tác chiến và pháo binh bắt đầu bị các trái bom 750 cân anh trực tiếp đánh rập. Lớp cây lá rừng rậm không còn hữu hiệu cho công việc ẩn núp lẫn bao che. "Cửa hậu" vào Căm Bốt bị đóng lại và để trốn thoát, tàn quân Việt Cộng chỉ còn lại thung lũng eo hẹp của Ia Drang.

4. Thành Quả của Chiến Dịch

Thành quả của Chiến Dịch Pleime (Pleime-Chuprong-Iadrang) là hậu cứ Chu Prong bị hoàn toàn phá hủy và toàn bộ lực lượng ba trung đoàn của Mặt Trận B3 bị triệt tiêu. Các thành phần sống sót của Mặt Trận B3 phải thoát thân sang hậu cứ nằm trong lãnh thổ Căm Bốt.

Bản báo cáo Ban 2/MACV nơi trang 67 ghi nhận:

Các phi vụ SLAR và IR bay trong mười ngày đầu trong tháng 12 cung ứng thêm chứng liệu Căm Bốt được xử dụng như một mật khu và hành lang xâm nhập của địch quân. Phân tích kết quả cho thấy một đường đạo xâm nhập chạy từ Phi Trường BO KM90 trong Căm Bốt đến khu vực giao tiếp của ranh giới Căm Bốt/Kontum và Pleiku. Không ảnh chụp ngày 19 tháng 11 tiết lộ một sinh hoạt quân sự dọc theo ranh giới Căm Bốt/NVN trong vùng Sông Prek Drang. Không ảnh cho thấy một vị trí nghỉ chân (với nhiều xe cộ rầm rộ qua lại) chứng tỏ là cuộc rút lui của các đơn vị đến vùng này đã được trù liệu trước.

***

Vai Trò của Không Lực Hoa Kỳ trong Chiến Dịch Pleime

Không Lực Hoa Kỳ đóng hai vai trò khác nhau trong Chiến Dịch Pleime:

- trong Giai Đoạn I, vai trò phụ thuộc yểm trợ cho bộ chiến đẩy lui cuộc tấn công của địch vào trại Pleime;

- trong Giai Đoạn II, vai trò chính tiêu hủy các lực lượng của Mặt Trận B3 tại hậu cứ Chu Prong.

Trại Pleime

Vào tháng 9 năm 1965, hai tháng trước khi Việt Cộng tấn công trại Pleime, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II kết hợp với Ban 3/MACV, đã hoạch định một kế hoạch tiêu diệt hậu cứ Chu Prong của Mặt Trận B3 và đang chờ đợi cho lực lượng chính gồm ba trung đoàn – 32, 33 và 66 – tụ tập lại nhằm chuẩn bị tấn công trại Pleime – dự trù vào cuối năm 1965 – tại hậu cứ này để có cơ hội tiêu diệt một chập hậu cứ và lực lượng với oanh tạc B-52.

Khi Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 quyết định tấn công trại Pleime ngày 19 tháng 10 năm 1965 – sớm hơn dự định – với chỉ duy hai trung đoàn – 32 và 33 – trong khi trung đoàn 66 còn rong rủi trên đường mòn Hồ Chí Minh chỉ tới chiến trường vào khoảng trung tuần tháng 11, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II chỉ hoạch định một cuộc phản công vừa đủ để đẩy lui các chiến binh tấn công, và chờ đợi đến lúc Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 tập hợp ba trung đoàn lại chuẩn bị cho một cuộc tấn công.

Chiến thuật trì hoãn chiến được thực hiện với cuộc hành quân Dân Thắng 21 với sự yểm trợ của hỏa lực dồi dào của Không Lực Hoa Kỳ.

Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II chỉ gom góp quân bộ chiến vừa đủ để ngăn ngừa các lực lượng tấn công địch tràn ngập trại Pleime án ngữ bởi 500 DSCĐ Thượng bằng một lực lượng tăng cường gồm hai đội toán 160 chiến binh Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ-Việt và ngăn ngừa địch khống chế chiến đoàn tiếp cứu gồm một đội ngũ 1.000 chiến binh. Hai toán quân này phải đối đầu mỗi bên với 2.000 chiến binh thuộc hai trung đoàn địch. Lực Lượng phản công chính được cung ứng bởi hỏa lực mạnh mẽ của Không Lực Hoa Kỳ. Điều này giải thích tại sao Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II chỉ yêu cầu được tăng cường bởi Ingram Task Force gồm một tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn pháo binh và chống đối sự tham dự của toàn bộ một Lữ Đoàn Kỵ Binh Mỹ theo đề nghị của Tướng Kinnard. Điều này cũng giải thích tại sao Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II không xử dụng tới Chiến Đoàn Alpha TLQC và Chiến Đoàn Dù, hai lực lượng trừ bị của quân đoàn, như trong trường hợp địch vây hãm trại Đức Cơ vào tháng 8 năm 1965.

Công cuộc yểm trợ của Không Lực Hoa Kỳ được thẩm định trong bản Báo Cáo Project CHECO tựa đề The Siege of Pleime đề ngày 24 tháng 2 năm 1966.

- Không yểm tại trại Pleime:

Trong mười ngày kế tiếp ngày 19/10, hỏa lực không quân đóng vai trò then chốt trong việc bẻ gẫy cuộc tấn công. Trong 696 phi xuất ngày đêm, các phi cơ B-57, AIE, F-100, and F-8 trút 866,300 pounds bom GP, 250,380 pounds bom mảnh, 485,880 pounds bomnapalm, cộng thêm hỏa tiễn, CBU và hoả lực súng trực thăng võ trang vào các vị trí VC sát nách hàng rào trại khoảng cách 35 thước. Khi cuộc oanh kích chấm dứt, địch quân mất 326 chết đếm được xác, và quân trú phòng ước tính khoảng 700 tử thi được lôi đi. Đây là một cuộc hành quân không yểm tiếp cận lớn nhất trong cuộc chiến, và có lẽ hiệu nghiệm nhất.

- Không yểm tại ổ phục kích:

Các Không Trợ Viên Không Quân trên các phi cơ thả trái sáng điều khiển 74 phi xuất, bới các phóng pháo cơ xử dụng bom napalm, bom đa dụng, mảnh vụn, CBU, hỏa tiễn 2.75 và súng nòng 22 ly yểm trợ cho chiến đoàn tiếp cứu. Phi cơ AC-47 “Puff”, thả 25 trái sáng và bắn 4.000 viên đạn của hỏa lực súng nhỏ 7.62 ly chống quân tấn công. Vào lúc 030G, ngày 24 tháng 10, hỏa lực nhắm vào đoàn xe tiếp cứu giảm thiểu xuống các loại súng nhỏ, và vào lúc 1300G, VC đoạn giao chiến vì bị oanh kích.

Ngoài gây thương vong nặng cho các toán quân VC, các cuộc oanh kích của KLHK đã phá hủy hầu hết các súng phòng không và bích kích pháo, khiến cho địch quân không có các loại súng cộng đồng này trong trận chiến tại LZ X-Ray (Why Pleime, chương V):

Tỉ lệ 1/10 chứng tỏ tiểu đoàn 1/7 rất là may mắn vì thật bất ngờ là từ trên các đồi bao quát ngó xuống bãi đáp, địch đã không đặt các vũ khí cộng đồng để yểm trợ các cuộc tấn công. Tình trạng này chỉ có thể giải thích bởi các lý do địch đã mất gần hết các vũ khí cộng đồng trong đợt đầu.

Hậu cứ Chu Prong

Một khi hai trung đoàn VC bị đẩy lui khỏi trại Pleime, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II tập trung chú ý vào việc xử dụng oanh tạc B-52 để triệt tiêu toàn bộ ba trung đoàn của lực lượng Mặt Trận B3 cùng một lúc.

1st Air Cavalry Brigade được giao trách vụ lùa các toán quân tản mác của hai trung đoàn VC trên đường tháo lui về hậu cứ Chu Prong với hành quân All the Way từ ngày 27 tháng 10 đến 9 tháng 11.

3rd Air Cavalry Brigade được giao trách vụ khuyến dụ Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 tập họp lại ba trung đoàn để chuẩn bị một cuộc tấn công lần thứ hai vào trại Pleime với hành quân Silver Bayonet I bắt đầu từ ngày 10 tháng 11.

1/7 Air Cavalry Battalion, 2/7 Air Cavalry Battalion và 2/5 Air Cavalry Battalion được giao trách vụ ghim ba trung đoàn VC án binh bất động tại các vùng xuất quân từ ngày 14 đến 17 tháng 11.

Các pháo đài B-52 nhập cuộc oanh tạc vào chiều ngày 15 tháng 17 (chính xác vào lúc 1600G) và đánh rập toàn bộ vùng hậu cứ Chu Prong trong suốt năm ngày kế tiếp.

- Pleiku Campaing, trang 88:

Ngày 15/11 cũng được đánh dấu bởi việc xử dụng lần đầu tiên một vũ khí mới của lực lượng Mỹ và gây kinh hoàng cho quân lính địch kể cả những chiến binh gan lì nhất. Ngay sau giờ ngọ, một vùng rộng lớn quanh vị trí YA8702 thình lình nổ tung với hàng trăm tấn bom làm rung chuyển khắp cùng mặt đất như thể một tấm thảm đang được trải ra. Các phóng pháo cơ B-52 đã đánh rập. Trong năm ngày kế tiếp các phóng pháo cơ khổng lồ làm thịt một vùng rộng lớn của rặng núi Chu Prong.

- Why Pleime, chương VI :

Trong năm ngày liên tiếp, từ 15 đến 19 tháng 11, các phóng pháo cơ B52 đã bay tổng cộng 96 phi vụ. Từng khu vực một, các khu vực của rặng núi Chu Prông - mỗi khu 20 dậm vuông - tuần tự trải qua một cơn động đất từ Tây sang Đông. Các công sự và hầm hố trước nay từng chống cản các vụ đánh phá của phi cơ tác chiến và pháo binh bắt đầu bị các trái bom 750 cân anh trực tiếp đánh rập. Lớp cây lá rừng rậm không còn hữu hiệu cho công việc ẩn núp lẫn bao che. "Cửa hậu" vào Căm Bốt bị đóng lại và để trốn thoát, tàn quân Việt Cộng chỉ còn lại thung lũng eo hẹp của Ia Drang.

- G3/IFFV:

Ngày 15/11/65 lúc 10:30G: MAVC J3 (Gen DePuy) Gen DePuy gọi Col Barrow và hỏi Arc Light đã được thông qua với Tư Lệnh QĐ II chưa. Col Barrow trả lời rồi, Tư Lệnh QĐ II đã chấp thuận Arc Light. Đồng thời DePuy muốn biết nếu đơn vị của 1st Cav đã nhận giới hạn áp đặt lúc 151600G cấm không được vượt qua phía tây của lằn rang ô vuông YA chưa. Col Barrow thông báo Gen DePuy là 1st Cav đã đáo nhận giới hạn và sẽ tuân theo. Gen DePuy đích thân thay đổi đồ hình mục tiêu.

- Ngày 16/11: Oanh tạc Arc light lúc 1602H-1632H, vùng YA 8607, 9007, 8600, 9000; tất cả phi cơ đúng mục tiêu ngoại trừ một số bom rớt trong vùng chung, YA 8015, 8215, 8212, 8412, đang điều tra nguyên do.

- Ngày 17/11: Yêu cầu Arclight YV 932985, YV 936996, YA 898005, YA 898019. Thời điểm trên mục tiêu 171300G.

Ngày 18/11: Arc light cho 1300G trên mục tiêu. Ưu tiên 1. 9201-9401-9298-0408. Ưu tiên 2. 9099-9299-9096-9296. Ưu tiên 3. 8306-8506-8303-8503.

Thật ra thì B-52 tiếp tục oanh tạc quá ngày 20 tháng 11, theo như nhật ký G3/IFFV khi hành quân Thần Phong 7 đang tiến hành:

- 21/11/65 lúc 22:00G: Quân Đoàn II Capt Neary và Capt Martin - (mật mã) Yêu cầu cho biết thời điểm cuộc tấn công của Lữ Đoàn Dù vào mục tiêu tại YA 810055. Lữ Đoàn Dù có hay biết gì đến Thả Bom B 52 (Arc Light) số 4 lúc 221210g không.

- Lúc 22:50G: Quân Đoàn II Capt Neary - Về thư tín mật mã (sổ số 60). Yêu cầu này vê thông tin là để xác nhận là đối tượng Thả Bom B 52 (Arc Light) được phối hợp kỹ lưỡng. Cũng liên quan đến thư tín thứ hai của Quân Đoàn II, trích dẫn số 174, đề cập một số đề mục (thư tín về Thả Bom B 52 (Arc Light), ghi rõ lằn ranh phía nam của vùng hành quân nằm trong mục tiêu của Thả Bom B 52 (Arc Light). Thời điểm không được ghi cho sự di chuyển về hướng nam). Cần xác nhận về thời điểm di chuyển cũng như cần xác nhận là đối tưượng của thư tín mật mã Thả Bom B 52 (Arc Light) đã được phối hợp.

- Lúc 14:50G: Ban 3 Không Lực (Capt Green) Oanh tại Thả Bom B 52 (Arc Light) không đúng giờ. Chưa có kết quả.

Thiệt hại máy bay trong Chiến Dịch Pleime

Căn cứ theo bản Báo Cáo Project CHECO:

- Ngày 20/10 lúc 0950G: một chiếc HUIB bị bắn hạ đang khi yểm trợ tái tiếp liệu. Bốn quân nhân Mỹ bị chết. Một chiếc B-57 bị bắn hạ, phi hành đoàn thoát nạn. Một chiếc B-57 khác bị buộc đáp xuống mặt đất tại Pleiku.

- Ngày 20/10 lúc 2330G: một chiếc C-123 bị trúng đạn từ mặt đất bắn lên – không nghiêm trọng. Một chiếc C-123 khác bị trúng 15 viên đạn cỡ 30. Bị hư hại nặng. Hai chiếc C-123 nữa cũng bị trúng đạn từ mặt đất bắn lên.

- Ngày 21/10 lúc 0950G: một chiếc HU1B đâm nhào xuống mặt đất tại 15 dậm phía nam Pleiku, đang khi bảo vệ công cuộc cứu thương. Bốn quân nhân Mỹ bị giết.

- Ngày 22/10 lúc 0135G: một chiếc A1E bị bắn hạ phía tây trại, phi công nhảy dù ra khỏi phi cơ. Phi công hạ cánh xuống mặt đất

- Ngày 21/10 lúc 1020G: một chiếc A1E bị bắn hạ phía nam trại. Phi công hạ cánh xuống mặt đất.

- Ngày 13/11: Hai chiếc UH1B bị hỏa lực mạnh từ mặt đất bắn hạ. Một chiếc A1E bị bắn hạ, phi công chết.

- Ngày 16/11: Hai chiếc UH1B bị bắn hạ, phi hành đoàn chiếc trực thăng thứ nhất thoát nạn, nhưng trực thăng thứ hai đâm nhào xuống mặt đất, tất cả bốn nhân viên phi hành đoàn bị chết.

Tổng cộng, trong Chiến Dịch Pleime, KLHK có 6 HUIB, 2 B-57, 3 AIE bị bắn hạ và 3 C-123 bị trúng đạn hư hỏng ít nhiều.

Nguyễn Văn Tín
Ngày 10 tháng 10 năm 2013

***

Duyệt Xét Bản Báo Cáo “Khía Cạnh Tình Báo của Pleime/Chuprong”

1. Không rõ bản báo cáo được thảo xong ngày tháng nào, chỉ biết là thư viện US Army War College nhận được một ấn bản ngày 22 tháng 8 năm 1966. Vì là một bản tường trình sau trận đánh – về khía cạnh tình báo - nên chỉ có thể đoan chắc là bản báo được thảo xong sau tháng 11 năm 1965 và trước ngày 22 tháng 8 năm 1966.

2. Bản báo cáo do Ban 2/MACV soạn thảo và có lời tựa với chữ ký của Chuẩn Tướng J.A. McChristian Trưởng Phòng Ban 2/MACV.

3. Bản báo cáo đề cập tới khía cạnh tình báo của chiến dịch Pleime/Chuprong từ ngày 20 tháng 10 đến ngày 20 tháng 11 năm 1965. Như vậy nghĩa là chỉ nói tới giai đoạn I và giai đoạn II của toàn bộ chiến dịch Pleime gồm ba giai đoạn Pleime/Chuprong/Iadrang, từ ngày 20 tháng 10 đến 26 tháng 11 năm 1965.

4. Phần 07. Thi hành, chính yếu ghi tóm lược hành quân và tóm lược tình báo hằng ngày, từ ngày 23 tháng 10 đến 20 tháng 11, giống y hệt phần 07. Thi Hành, từ ngày 23 tháng 10 đến 20 tháng 11 của Chiến Dịch Pleiku do Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Kỵ soạn thảo. Ban 2/MACV chỉ thêm tóm lược hành quân và tình báo cho ngày 20-22 tháng 10 năm 1965.

5. Ngoài ra, phần Khái Niệm Hành Quân, và phần Rút kinh nghiệm của hai bản báo cáo Ban 2/MACV và BTL/SĐ1KK cũng giống y hệt nhau. Thêm nữa, phần Kết luận của Ban 2/MACV thì lại là một đoạn trích của phần Mở Đầu của BTL/SĐ1KK.

6. Vì bản của BTL/SĐ1KK được soạn thảo xong và trình Tướng Kinnard ký ngày 4 tháng 3 năm 1966 mà bản của Ban 2/MACV không biết được soạn thảo xong và trình Tướng Christian ký ngày nào, nên khó xác định được ai sao chép ai.

Có một tài liệu khả dĩ giúp làm sáng tỏ vấn đề này. Why Pleime nhắc tới bản báo cáo tình báo đề ngày 24 tháng 11 năm 1965 của Ban 2/SĐ1KK: “27. Intelligence Report, Hqs, 1st Air Cav Div, Office of the G-2, Dated 24 Nov 65, Subject: Ia Drang Valley (Silver Bayonet 1) YA 9104 14-19 Nov 65.” Như vậy xác suất Ban 2/MACV sao chép Pleiku Campaign của BTL/SĐ1KK phần mô tả hành quân từ ngày 20 tháng 10 đến 20 tháng 11 năm 1965 cao hơn là ngược lại.

7. Tuy nhiên dựa vào lời của Tướng Christian:

Khi nhận thức thấy rõ là trong chiến dịch Chu Prong một trận chiến tầm cỡ lớn đang hình thành, Phụ Tá Tham Mưu Trưởng/Ban 2, yêu cầu các lực lượng tại chiến trường phải ghi chép cách chính xác các thao tác hành quân vào sổ nhật ký để sau này sẽ được đưa vào một bản báo cáo sau trận đánh. Sau khi tiếp nhận được thông tin này một bản tường trình sau trận đánh đã được soạn thảo và cống hiến cho chỉ huy trưởng ở mọi tầng cấp tùy nghi xử dụng.

có thể suy diễn cấu trúc bản báo cáo hành quân từng ngày gồm hai phần tóm lược hành quân và tóm lược tình báo với dụng ý cho thấy mối liên hệ tương quan hậu quả và ảnh hưởng của hai khía cạnh khái niệm hành quân và tình báo, là sáng kiến của Tướng Christian, Trưởng Phòng Ban 2/MACV.

8. Điều đáng ghi nhận là bản báo Ban 2/MACV dè dặt hơn bản báo cáo BTL/SĐ1KK khi nêu lên phương pháp thu thập tình báo chỉ liệt kê có SLAR (radar), IR (hồng ngoại tuyến), không ảnh và hỏi cung tù binh, và bỏ qua không nói tới RR (radio research - kiểm thính phát sóng radio): “The DTOC received direct SLAR and infra-red (I-R) reports from the aerial surveillance and target acquisition platoon (OV-1 Mohawk) and USAF sources, plus reports and the Radio Research Unit.” (Pleiku Campaing, trang 128).

Chỉ có nguồn tình báo gặt hái được qua phương pháp kiểm thính mới có được thông tin thức thời về ý định, trù tính, bàn thảo tại Bộ Tư Lệnh B3. Tỉ như (kiểm thính thức thời trong ngày xảy ra):

- Ngày 1/11, ngay sau khi tới làng Anta, các cán bộ Trung Đoàn 33 mở một cuộc họp để tìm cách khám phá nguyên do nào khiến các lực lượng Mỹ liên tục pháo tập chính xác. Họ đi đến kết luận là phải có gián điệp nằm trong hàng ngũ mới có thể cung cấp vị trí và di chuyển của các đơn vi thuộc trung đoàn.

- Ngày 2/11, Bộ Tư Lệnh B3 nhận được tin Trung đoàn 66 bắt đầu di chuyển vào các vùng tập trung trong vùng Chu Prong-Ia Drang

- Ngày 4/11, Trung Đoàn 33 được lệnh ra khỏi căn cứ tại Đồi 732 là nơi ra vào bất tiện, và đi tới các sườn núi phía tây của Chu Prong gần YA922010 với các tiểu đoàn của trung đoàn khi những tiểu đoàn này tập trung xong thì di chuyển vị trí tời Đồi 732 xuống tới làng Anta (940010) cho tới mạn bắc bờ sông Ia Meur (980000);

- Ngày 08/11 Trung Đoàn 33 thu thập xong các đơn vị cơ hữu cuối cùng và bắt đầu đếm đầu người. Nhiều binh sĩ khiếm diện. Trung đoàn ghi nhận các con số tổn thất sau đây:

Đơn Vị * Quân Sộ Trước Pleime Phần Trăm hay Con Số tổn Thất
Tiểu Đoàn 1: 500, 33% chết
Tiểu Đoàn 2: 500, 50% chết
Tiểu Đoàn 3: 500, 33% chết
Đại Đội Bích Kích Pháo Trung Đoàn: 120, 50% chết
Đại Đội Súng Phòng Không Trung Đoàn: 150, 60% chết
Đại Đội Truyền Tin Trung Đoàn: 120, 4 chết-16 mất tích
Đại Đội Vận Tải Trung Đoàn: 150, 50% chết
Đại Đội Quân Y Trung Đoàn: 40, 80% chết hay mất tích
Đại Đội Công Binh Trung Đoàn: 60, 15 chết hay mất tích
Đại Đội Trinh Sát Trung Đoàn: 50, 9 chết

Tổng cộng, đếm đầu người cho thấy 890 người của con số nguyên thủy 2200 bị giết, với hơn 100 mất tich và nhiều binh sĩ hứng chịu những vết thương hủy hoại thân thể. Các quân trang mất mát cũng nặng đối với đại đội súng phòng không trung đoàn mất 13 trong số 18 súng và đại đội bích kích pháo trung đoàn mất 5 trong số 9 ống súng. Thêm 6 ống súng bích kích pháo bị mất bởi các tiểu đoàn, cùng với hầu hết các súng không giựt. Đạn dược, thực phẩm và thuốc men mất đi cũng bộn.

- Ngày 8/11, tại bản doanh Mặt Trận Dã Chiến phía bắc Ia Drang, ngày hôm nay là ngày kiểm điểm phân tích. Đính kèm số 15 mô tả bức ảnh tình báo trình cho các cấp chỉ huy ngày 9 tháng 11.

- Ngày 11/11, Bộ Tư Lệnh trù tính tấn công trại Pleime lần thứ hai vào ngày 16/11.

- Ngày 12/11, các đơn vị tiếp tục chuẩn bị và tập dượt cho cuộc tấn công dự tính trại Pleime.

- Ngày 13/11, các lực lượng bắt đầu tụ tập trong vùng Chu Prong-Ia Drang để chuẩn bị di chuyển tới Pleime và tấn công dự tính ngày 16/11, một vài đơn vị trinh sát và vận chuyển đã lên đường.

Các phương pháp kia – radar, hồng ngoại tuyến, không ảnh, hỏi cung tù binh – quá lắm chỉ cung cấp vị trí của các đơn vị địch quân, chứ không thể biết được những gì bàn thảo ngay trong nội bộ BTL Mặt Trận B3.

9. Một điểm khác bản báo cáo Ban 2/MACV (trang 67) nhận xét là phía Việt Cộng không hay biết đến nguồn tình báo chính xác phía Mỹ xử dụng: “Các phương pháp thu thập có giá trị đặc biệt vì chúng trung thực và rất thức thời và địch hầu như không hay biết đến sinh hoạt của các phương pháp tình báo này,” và ngỡ tưởng là có gián điệp địch nằm trong hàng ngũ cán bộ:

Mức độ hết sức chính xác của các cuộc tấn kích khiến cho cấp lãnh đạo trung đoàn bực tức triệu tập một buổi họp nhằm khám phá điều gì đã cho phép các lực lượng Mỹ liên tiếp oanh kích chính xác như vậy. Họ đi đến kết luận là chỉ có thể gián điệp nằm trong hàng ngũ mới có thể cung cấp địa điểm và di chuyển của các đơn vị của trung đoàn.

(Chiến dịch Pleiku, ngày 1 tháng 11, trang 46)

10. Một thông tin cá biệt chỉ tìm thấy trong bản báo cáo Ban 2/MACV (nơi trang 6: mô tả tình hình trước cuộc hành quân) là kế hoạch đánh rập mật khu Chu Prong bằng B-52 được điều nghiên từ tháng 9 năm 1965, trước khi Việt Cộng khởi động chiến dịch Plâyme ngày 19 tháng 10 năm 1965:

Căn cứ Chu Prong được biết là đã được tạo lập lâu trước cuộc tấn công Pleime và Ban 2 MACV đã chấm lấy vùng này để nghiên cứu vào tháng 9 năm 1965 như là có thể làm mục tiêu cho B-52.

Điều này chứng tỏ cho thấy là chiến dịch Plâyme của Việt Cộng tạo cơ hội cho Quân Đoàn II phối hợp với Ban 3/MACV phụ trách Trung Tâm Hành Oanh Tạc Chiến Lược B-52 thực hiện kế hoạch phá hủy mật khu Chuprong/Iadrang đồng thời triệt tiêu toàn bộ lực lượng gồm ba trung đoàn của Mặt Trận B3 bằng B-52.

Nguyễn Văn Tín
31 tháng 8 năm 2013

***

Phê Bình Nhận Xét của Tướng Bùi Nam Hà về Chiến Dịch Plâyme

Trong cuốn sách, Chiến thắng Plây Me: ba mươi năm sau nhìn lại: tài liệu hội thảo khoa học(*), Thiếu Tướng Bùi Nam Hà lên tiếng góp ý với bài, Từ Plây Mê-Ia Đrăng đến Sa Thầy, Đắc Tô, Một Chặng Đường Phát Triển Đầy Sáng Tạo Trong Nghệ Thuật Đánh Mỹ Ở Chiến Trường Tây Nguyên.

Ông tuyên bố là một người trong cuộc, với cương vị Tham Mưu Trưởng mặt trận, góp một vài nhận xét về chiến dịch .

Xin nói ngay là bài có khá nhiều nhận xét sai lầm và nét nổi bật chung của toàn bài là nặng phần tuyên truyền cổ võ ba quân hơn là phân tách khách quan thuần túy quân sự.

Hành quân Long Breach

Ngay từ đầu bài, Tướng Nam Hà đã sai lầm trầm trọng khi gọi tên của cuộc hành quân Mỹ nhằm “tìm và diệt” đối phương là Long Breach. Đây không phải lỗi in ấn chính tả, vì vài đoạn văn sau, ông viết:

Sư đoàn kỵ binh bay số 1 (...) hình thành một binh đoàn chiến dịch binh quân chủng hợp thành với ý định mở cuộc hành quân Long Breach (tạm dịch: đốt phá) tìm diệt quân chủ lực ta.

Không hiểu sao mà Tướng Nam Hà lại có thể “tạm dịch Long Breach là đốt phá”? Tuy nhiên xin bỏ qua chuyện nhỏ này vì tên đúng của cuộc hành quân là Long Reach do Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II đặt tên cho cuộc hành quân khi giao cho Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ nhiệm vụ truy đuổi tàn quân địch sau trận vây lấn và phục kích tại trại Pleime. Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, viết trong cuốn, Pleime, Trận Chiến Lịch Sử, nơi trang 101:

Vì vậy quyết định phải tổ chức truy kích địch của Bộ Tư Lệnh Quân đoàn II, trong đó Sư đoàn I Không Kỵ làm nỗ lực chính và Liên Đoàn Nhảy dù VN làm trừ bị sẵn sàng tham dự khi tình hình tiến triển và đòi hỏi, được toàn thể chiến sĩ của Sư đoàn hân hoan nhận lãnh, vì đã mấy đơn vị được may mắn mở những trang sử đầu của mình với một cuộc trường chinh (Long Reach).

Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ thực hiện cuộc hành quân Long Reach với ba cuộc hành quân All the Way (27/10-9/11, Lữ Đoàn 1 Không Kỵ), Silver Bayonet I (9/11-17/11, Lữ Đoàn 3 Không Kỵ), và Silver Bayonet II (17/11-26/11, Lữ Đoàn 2 Không Kỵ). Khi thảo bản tường trình sau trận đánh, phía Mỹ cải danh xưng Long Reach thành Pleiku Campaign có lẽ với dụng ý xóa bỏ dấu vết lệ thuộc vào quyền lãnh đạo cuộc hành quân của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II.

Chủ yếu chiến dịch Plây Me là quân Mỹ

Tướng Nam Hà nhận xét:

Quyết tâm chiến dịch và chiến đấu được khẳng định là dụ quân địch vào trận để vây diệt mà đối tượng là tổng dự bị chiến dịch – chiến lược Mỹ-ngụy, chủ yếu là quân Mỹ.

Tướng Nam Hà khẳng định như vậy là quá xa sự thật. Chủ đích nguyên thủy của chiến dịch Plây Me là triệt hủy toàn bộ lực lượng của Quân Đoàn II bằng thế “công đồn đả viện”. Chính vì muốn tránh đụng độ lớn với quân Mỹ mà thay vì phát động chiến dịch được dự tính vào cuối năm 1965 hay đầu năm 1966 thì lại khởi động tiến công sớm hơn ngày 19 tháng 10 năm 1965 cốt ý là hy vọng Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ mới đổ bộ lên bờ biển Qui Nhơn cuối tháng 9 và đang rục rịch khăn gói lên An Khê lập trại vào giữa tháng 10 chưa sẵn sàng ứng chiến, mặc dù Trung Đoàn 66 mãi đến đầu tháng 11 mới lê gót được đến mật khu Chu Prong.

Rồi khi cho lệnh hai Trung Đoàn 32 và 33 rút lui về mật khu Chuprong-Iadrang với chủ đích kết tụ với Trung Đoàn 66 tiến công trại Pleime lần thứ hai, và lần này sẽ đánh dứt điểm chứ không đánh viện. Quả thật vậy, Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 đã không tổ chức đối đầu ứng chiến với Lữ Đoàn 1 Không Kỵ khi bị lùa về mật khu Chu Prong mà chỉ tập trung quân lại nhằm tấn công trại Pleime lần thứ hai khi nhầm tưởng Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh thay thế cho Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh đánh mất tung tích của các đơn vị mình nên Mặt Trận B3 liền cải đổi thế thủ qua thế công, để rồi bị quân Mỹ đột kích bất thần tại chân rặng núi Chu Prong đang khi các đơn vị chuẩn bị lên đường tiến công trại Pleime tại các địa điểm xuất quân. Thành thử Bộ Tư Lệnh B3 rút quân về Chu Prong không phải là dụ quân Mỹ vào để đánh mà là để chuẩn bị nỗ lực triệt tiêu trại Pleime trong một cuộc tiến công thứ hai.

Phi Pháo Mỹ

Tướng Nam Hà nhận xét:

Với địa hình có “rừng che bộ đội, rừng ngăn quân thù”, lại có tài ngụy trang khéo léo, ý thức giữ bí mật, kỷ luật cao, bộ đội ta đã hạn chế, vô hiệu hóa được một phần sức mạnh của không quân, pháo binh các loại của Mỹ - chỗ dựa chủ yếu cho sức mạnh của chúng.

Tướng Nam Hà quả thật không ngờ là phía Mỹ-ngụy đã chủ yếu đánh bại đối phương bằng oanh tạc B-52, chứ không phải bằng bộ chiến và pháo binh. Đại Tá Hiếu viết trong cuốn , Why Pleime, nơi chương VI:

Trong năm ngày liên tiếp, từ 15 đến 19 tháng 11, các phóng pháo cơ B52 đã bay tổng cộng 96 phi vụ. Từng khu vực một, các khu vực của rặng núi Chu Prông - mỗi khu 20 dậm vuông - tuần tự trải qua một cơn động đất từ Tây sang Đông. Các công sự và hầm hố trước nay từng chống cản các vụ đánh phá của phi cơ tác chiến và pháo binh bắt đầu bị các trái bom 750 cân anh trực tiếp đánh rập. Lớp cây lá rừng rậm không còn hữu hiệu cho công việc ẩn núp lẫn bao che. "Cửa hậu" vào Căm Bốt bị đóng lại và để trốn thoát, tàn quân Việt Cộng chỉ còn lại thung lũng eo hẹp của Ia Drang.

Nắm thắt lưng địch mà đánh

Tướng Nam Hà nhận xét:

Nhân tố thứ hai là phát huy sở trường về tiến công vận động của binh đoàn chủ lực cơ động mà nội dung cơ bản là đánh gần với khẩu hiệu: “Nắm thắt lưng địch mà đánh”. Theo nguyên tắc đó, từ Tư Lệnh chiến dịch đến từng chiến sĩ các đơn vị binh chủng theo chức trách, vị trí của mình mà cố gắng tiếp cận bám sát địch đến mức độ tối đa. Tất cả là nhằm bảo đảm đưa toàn bộ các tiểu đoàn đột kích vào các trận chiến đấu giáp lá cà. Đó là thể hiện tư tưởng tích cực tiến công tiêu diệt địch của quân đội ta, là cách đánh bảo đảm cho ta luôn nắm quyền chủ động, còn địch lúng túng bị động, phải đối phó với ta hết tình huống này đến tình huống khác, hết trận này đến trận khác.

Có ba tình huống trong đó phía Mỹ-ngụy đã không một tị “lúng túng” hoá giải thế “Nắm thắt lưng địch mà đánh”:

- (1) Chiến thuật Việt Cộng xử dụng để triệt hạ thiết đoàn tiếp cứu ở địa điểm phục kích là đặt để các bộ đội thiết bị lưỡi lê và dao găm tiến sát tới cạnh các xe tăng và xe bọc sắt trực sẵn để giết hại các binh sĩ của thiết đoàn sẽ bấn loạn tinh thần tự nhiên chui ra khỏi lòng xe và nhảy xuống đất để ứng chiến quân phục kích. Trung Tá Nguyễn Trọng Luật biết vậy, nên đã ra lệnh các chiến binh không nhảy ra khỏi xe đồng thời thả cửa tung lựu đạn tay ra banh xác các chiến binh Việt Cộng. Đến khi cuộc phục kích kết thúc thì chỉ việc ung dung xuống xe đi đếm xác địch bị lựu đạn giết hại nằm ngổn ngang sát cạnh các xe tăng.

- (2) Với thế “kiềm vĩ kích thủ”, nắm đuôi với bộ binh đập đầu với oanh tạc B-52, cán binh Việt Cộng chịu bó tay chết thảm trong khi các toán quân Mỹ cẩn thận đứng xa vùng oanh tạc khoảng cách an toàn trên 3 cây số.

- (3) Đến khi lính dù Việt Nam nhảy vào vòng chiến trong giai đoạn chót của chiến dịch Pleime thì các cán binh Việt Cộng của hai Tiểu Đoàn Việt Cộng – 635 và 334 – sống sót chỉ tìm cách tránh nhé sợ đụng độ với quân dù, mặc dù vậy cũng bị quân dù phục kích hai lần, bị thiệt hại khoảng 200 tên và vứt bỏ lại vô số vũ khí khi tháo chạy.

Trung Tá Nguyễn Trọng Luật hèn nhát

Tướng Nam Hà nhận xét:

Chiến đoàn 3 thiết giáp ngụy lọt vào trận địa phục kích dài 4 km trên tỉnh lộ 21. Trung đoàn 320 được tăng cường vận động ra đường lao vào xung phong đánh giáp lá cà. (...) Sau 10 giờ giáp chiến quyết liệt, đẫm máu (từ 16 giờ ngày 22 đến 2 giờ sáng ngày 24-10), trung đoàn 320 đã căn bản tiêu diệt được chiến đoàn 3 thiết giáp. Chỉ huy chiến đoàn là trung tá Nguyễn Trọng Luật đã leo lên trực thăng trốn thoát từ mờ sáng 24.

Chết thật, không hiểu Tướng Nam Hà nghe được tin vịt vô căn cứ này ở đâu ra? Trung Tá Luật đã thành công thắng vượt ổ phục kích và dẫn đưa Chiến Đoàn 3 Thiết Giáp tiến vào trại Pleime vào lúc ban tối ngày 24-10.

Đánh thắng trận Plây Me

Tướng Nam Hà nhận xét:

Sau 2 ngày vây ép, xét thấy đã đủ gây cho địch tác động phản ứng dây chuyền, ngày 26-10, ta quyết định “mở vây” căn cứ Plây Me và chuyển toàn bộ hai trung đoàn 320, 33 về bố trí ở khu trung tuyến chiến dịch ở vùng Đông bắc và Đông nam suối Ia Mơ. Vùng hậu tuyến chiến dịch thuộc địa khu từ Bắc – Đông bắc Chư Pông đến thung lũng sông Ia Drăng, thế trận vây diệt quân chiếu đấu Mỹ đã được hình thành.

Chứ không phải nỗ lực “công đồng đả viện” không thành khi số cán binh bị thương vong ở cả hai địa điểm phục kích và đồn quá cao khiến Mặt Trận B3 phải ra lệnh tháo lui về hậu cứ để tính kế phục thù sao? Đại Tá Hiếu nhận xét trong cuốn, Pleime, Trận Chiến Lịch Sử, nơi trang 94:

Cuộc hành quân Dân Thắng 21 chấm dứt, trại Pleime vững mạnh trở lại, nhưng trong số hai Trung Đoàn V.C. đã tham dự, ta mới gây cho chúng được hơn 400 tổn thất nhân mạnh. Sự rút lui của địch là một chủ trương sáng suốt và hợp lý của BCH mặt trận V.C. nhưng địch sẽ tìm cách rửa hận và vì trại Pleime hẻo lánh còn là một cái gai trước mắt.

Điều động binh lực

Tướng Nam Hà nhận xét:

Địch bắt đầu phản ứng mạnh. Bộ Tham mưu liên quân Mỹ-ngụy đã hủy bỏ cuộc hành quân càn quét Bồng Sơn (Bình Định) để đưa chiến đoàn thủy quân lục chiến ngụy lên giải vây cho Plây Me, tiếp đó không vận ào ạt sư đoàn 1 kỵ binh bay, trung đoàn Nam Hàn, hai chiến đoàn dù ngụy, trung đoàn vận tải trực thăng Mỹ lên Plây Cu, tham chiến. Chúng dùng hàng trăm lần chiến B52 và bom Coribou (bom phát quang) chi viện cho các trận đánh.

Xin mạn phép chỉnh những sai sót của Tướng Nam Hà như sau:

- “chiến đoàn thủy quân lục chiến ngụy” được đưa lên không phải để giai vây cho Plây Me mà là để giữ an ninh trục lộ rút quân của chiến đoàn 3 thiết giáp từ trại Pleime về thành Pleiku. Đại Tá Hiếu viết trong cuốn, Pleime, Trận Chiến Lịch Sử, nơi trang 94:

Để bảo vệ cuộc rút quân của Chiến Đoàn Thiết Giáp, trong ngày 27-10 chiến đoàn A TQLC được không vận từ Banmêthuột tới trục Phú-Mỹ Pleime để giữ an ninh. Chiến Đoàn thiết giáp rời trại lúc 11g sáng ngày 28-10 để trở về Pleiku.

- “sư đoàn 1 kỵ binh bay” không được “không vận ào ạt” đưa lên Pleiku. Chỉ có Task Force Ingram gồm 1 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn pháo binh rút từ cuộc hành quân Thần Phong 6 ở Bồng Sơn lên trợ lực cho cuộc hành quân Dân Thắng 21 giải vây cho trại Pleime. Tiểu đoàn bộ binh thay thế cho Tiểu Đoàn 22 BĐQ bảo vệ phi trường Pleiku và tiểu đoàn pháo binh yểm trợ cho Chiến Đoàn Thiết Giáp tại địa điểm phục kích.

- “trung đoàn Nam Hàn” không có mặt tại chiến trường Pleime vào thời gian từ 19-10 đến 26-11. Chỉ vào cuối năm 1966 mới có một tiểu đoàn Nam Hàn được đưa lên Cao Nguyên hành quân liên hợp với Sư Đoàn 4 Bộ Binh Mỹ dọc theo Quốc Lộ 19 gần biên giới Cao Mên.

- không phải “chúng dùng hàng trăm lần chiến B52 chi viện cho các trận đánh”, mà nỗ lực chính là dùng B52 tiêu diệt địch quân còn bộ chiến là dùng để trợ lực cho B52 nhắm trúng mục tiêu oanh tạc.

Thế nghi binh của Lữ Đoàn 3 Không Kỵ Mỹ

Tướng Nam Hà nhận xét:

Từ cuối tháng 10, quân ta đã cơ bản điều chỉnh xong đội hình. Trung đoàn 33 tiến ra vây diệt chặn đánh lữ đoàn 1 kỵ binh Mỹ ở khu trung tuyến chiến dịch trên các khu chiến Quynh Kla, Plây Bolga, Plây Ngo, bờ tây sông Ia Mơ. Từ 30-10 đến 11-11, trung đoàn đã tiêu hao, tiêu diệt nặng các phân đội quân Mỹ khiến chúng phải rút lữ 1 kỵ binh bay ra khỏi vòng chiến và đưa lữ 3 kỵ binh không vận vào tham chiến ở khu hậu tuyến chiến dịch.

Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh thay thế Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh không vì “trung đoàn đã tiêu hao” mà là dùng thế nghi binh dụ địch tập trung quân lại để bị tiêu diệt bằng oanh tạc B-52. Đại Tá Hiếu viết trong cuốn, Pleime, Trận Chiến Lịch Sử, nơi trang 106:

Ngày 10-11 Lữ Đoàn 3 được cử thay thế Lữ Đoàn 1 đã hành quân ròng rã gần nửa tháng nay. Về phía VC thì sư hoạt động hướng về phía Đông của Sư Đoàn 1 Không Kỵ đà làm cho chúng đinh ninh rằng đại đơn vị này đã dồn mọi nỗ lực về hướng Đông trại Pleime. Cho nên bộ Chỉ Huy mặt trận VC đã lại ra lệnh chuẩn bị một cuộc tấn công trại Pleime lần thứ hai.

Trung Đoàn 320

Tướng Nam Hà nhận xét:

Trung đoàn 320 tham gia chặn đánh hai chiến đoàn dù quân ngụy đến cứu nguy cho lữ 3 kỵ binh bay Mỹ tại vùng Tây suối Ea Kreng (Plây Thê) và Đông suối Ea Man. Quân ta tiêu diệt được tiểu đoàn 2, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 1, lữ 3 kỵ bnh không vận. Bị loại khỏi vòng chiến ngày 19-11, lữ 3 Mỹ phải rút chạy về Plây Cu. Chiến dịch Plây Me-Ia Đrăng kết thúc.

Tướng Nam Hà nhận xét quá nhầm lẫn.

- Lữ Đoàn 3 Không Kỵ rút về Pleiku ngày 17-11 sau trận đánh tại LZ Albany và được thay thế bởi Lữ Đoàn 2 Không Kỵ làm lực lượng trừ bị cho Liên Đoàn Dù VN.

- Liên Đoàn Dù VN được tung vào vòng chiến ngày 18-11 để truy lùng và triệt tiêu nốt hai tiểu đoàn sống sót – 635 và 334 – của Trung Đoàn 32. Hai đơn vị này đã tránh né đụng độ và bị quân Dù phục kích hai lần vào ngày 20-11 và 24-11 tại “vùng Tây suối Ea Kreng (Plây Thê) và Đông suối Ea Man”.

Đại Tá Hiếu viết trong cuốn, Why Pleime, nơi chương VI:

Trung Đoàn 32 Bắc Việt không can dự và không hề hấn trong suốt đợt hai, cuối cùng bị tìm thấy và buộc phải chiến đấu, mặc dù cố né tránh đụng độ càng nhiều càng tốt.

Tham mưu trưởng chiến dịch Plây Me

Tướng Bùi Nam Hà tự giới thiệu “là một người trong cuộc, với cương vị Tham mưu trưởng mặt trận”. Theo tài liệu tình báo của Đại tá Hiếu thì tham mưu trưởng của mặt trận trong chiến dịch Pleime là Đại Tá Hà Vi Tùng (Why Pleime, chương III):

Tại Bản Doanh Mặt Trận Tây Nguyên, Tướng Việt Cộng Chu Huy Mân kiêm luôn chức Tư Lệnh Vùng IV Quân Sự, và các cộng sự viên chính Đại Tá Quan, Phụ Tá cho Tư Lệnh, và Thượng Tá Hà Vi Tùng, Tham Mưu Trưởng (trong chiến tranh Đông Dương, Hà Vi Tùng là trung đoàn trưởng Trung Đoàn 803; trung đoàn này cùng với Trung Đoàn 108 hợp thành các chủ lực chính của Việt Minh trên vùng Cao Nguyên. Hai trung đoàn này đã có công trạng chiếm cứ Kontum và đánh bại Chiến Đoàn Đặc Nhiệm số 100 Pháp trên Quốc Lộ 19) điều nghiên kế hoạch họ đã hoạch định.

Chính xác ở đâu? Xin nhường lại cho các sử gia – nhất là phía Việt Cộng - điều nghiên xác định. Ở đây, chỉ xin dựa vào nét thông minh và thâm sâu của nhân vật Hà Vi Tùng phản ảnh trong sách Why Pleime đem ra so sánh với nét khù khờ và nông cạn của Bùi Nam Hà qua lời phát biểu tại khóa hội thảo, để mà suy diễn Hà Vi Tùng là tham mưu trưởng nguyên thủy của chiến dịch và Bùi Nam Hà được thay thế vào chức vụ tham mưu trường sau đợt vây đồn diệt viện thất bại.

***

(*)) Viện lịch sử quân sự Việt Nam: Vietnam, Quân đội nhân dân. Bộ tư lệnh Quân đoàn 3. Nhà xuất bản Hà Nội: Quân đội nhân dân, 1995.

Nguyễn Văn Tín
11 tháng 08 năm 2013

***

Nhân Đọc Lời Tường Thuật của Tướng Nguyễn Hữu An về Chiến Dịch Plây-me

Trong cuốn sách Chiến Trường Mới - Hồi Ức - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân - Hà Nội – 2002 Tướng Nguyễn Hữu An có tường thuật lại chiến dịch Plây Me theo quan điểm của ông. Vì chỉ là một hồi ức nên có nhiều chi tiết sai lệch, nhất là ngày tháng của các biến cố bị đảo lộn.

= Dựa vào địa hình và tình hình địch lúc đó chúng tôi phán đoán, gần như chắc chắn, địch sẽ đưa quân vào giải tỏa cho Plây-me. Quả là như vậy. Sau mười ngày bao vây Plây-me một chiến đoàn ngụy mới dẫn thân vào trận địa ta mai phục, bị trung đoàn 320 của ta đánh thiệt hại nặng mà vẫn không giải tỏa được Plây-me.

Tướng An nói sai ở hai điểm.

Thứ nhất, chiến đoàn thiết kỵ tiếp cứu chậm trễ đến địa điểm phục kích ba ngày, chứ không phải mười ngày là có chủ ý chống lại thế phục kích vận động của Việt Cộng. Chiến đoàn tiếp cứu đã được thiết lập xong ngay vào sáng ngày 20/10, nhưng được lệnh giả vờ tuần tiễu quanh Phú Mỹ, chờ đợi đến ngày 23/10 mới xông tới phá ổ phục kích.

Thứ hai, chiến đoàn tiếp cứu vượt qua được ổ phục kích và tiến vào giải tỏa trại Pleime chiều ngày 24/10.

= Sau đợt đánh ngụy, trung đoàn 33 rút về căn cứ cách Plây-me khoảng mười cây số về phía tây.

= Hành động của trung đoàn 33 và 320 ở Plây-me trở thành mối uy hiếp nặng nề đường 14. Quân chủ bài của quân ngụy đã bị vô hiệu không còn lực lượng nào có thể giải nguy cho Plây-me, buộc quân Mỹ phải xuất hiện.

Trong công cuộc giải vây trại Pleime, Quân Đoàn II chỉ xin Mỹ tăng viện Task Force Ingram gồm một tiểu đoàn bộ binh dùng để thay thế Tiểu Đoàn 22 BĐQ giữ an ninh phi trường Pleiku và một tiểu đoàn pháo binh đến Phù Mỹ để pháo yểm cho Chiến Đoàn 3 Thiết Kỵ chống ổ phục kích.

Hai Trung Đoàn 33 và 320 sau khi thất bại “công đồn đả viện” được lệnh rút về hậu cứ Chu Prong kết hợp với Trung Đoàn 66 tính kế hoạch tấn công trại Pleime lần thứ hai.

Quân Đoàn II đề nghị Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ hiệp lực truy đuổi hai trung đoàn VC tới tận chân rặng núi Chu Prong, chứ không để giải nguy cho trại Pleime.

= Anh Chu Huy Mân chính ủy, anh Đặng Vũ Hiệp chủ nhiệm chính trị và tôi ở sở chỉ huy cơ bản đang chỉ huy chuẩn bị cho đợt 2 hoạt động đánh mục tiêu ở gần Plây-me. Nhận được tin liên tiếp từ các hướng báo cáo về, Mỹ đã đổ quân, chúng tôi cho lệnh đình lại việc đánh Chư Ho.

Khi lấy quyết định đình chỉ tiến công Chưho/Pleime lần thứ hai để tính kế diệt Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ trước, Ban Chỉ Huy Mặt Trận B3 đã trúng kế duy trì ba trung đoàn bất động tại các vùng xuất quân khiến cho các B-52 có đủ thì giờ 8 tiếng đồng hồ bay từ đảo Guam đến mục tiêu oanh tạc tại Chu Prong.

Tướng An trung thực hơn các sử gia Việt Cộng rêu rao là đánh ngụy tại Pleime để dụ quân Mỹ vào Ia Drăng để diệt, khi ông nói là Ban Chỉ Huy Mặt Trận B3 đang tính kế tấn công Pleime lần thứ hai thì bất thần quân Mỹ đổ quân vào Chu Prong, nên đình lại việc đánh Chưho/Pleime.

Đại Tá Hiếu nhận xét trong cuốn, Pleime, Trận Chiến Lịch Sử, nơi trang 94:

Cuộc hành quân Dân Thắng 21 chấm dứt, trại Pleime vững mạnh trở lại, nhưng trong số hai Trung Đoàn V.C. đã tham dự, ta mới gây cho chúng được hơn 400 tổn thất nhân mạnh. Sự rút lui của địch là một chủ trương sáng suốt và hợp lý của BCH mặt trận V.C. nhưng địch sẽ tìm cách rửa hận và vì trại Pleime hẻo lánh còn là một cái gai trước mắt.

Bộ Chỉ Huy Mặt Trận B3 đã trúng kế của Quân Đoàn II dụ cho ba trung đoàn tụ lại tại vùng tập trung và nhất là vùng xuất quân để trở thành mục tiêu cho oanh tại B-52.

Ngoài ra, nhân sự tại Ban Chỉ Huy Mặt Trận B3 được thay đổi sau trận đánh quanh trại Pleime, từ bộ ba Chu Huy Mân-Đại Tá Quan-Hà Vi Tùng thành bộ ba Chu Huy Mân- Nguyễn Hữu An- Đặng Vũ Hiệp. Why Pleime, chương III ghi:

Tại Bản Doanh Mặt Trận Tây Nguyên, Tướng Việt Cộng Chu Huy Mân kiêm luôn chức Tư Lệnh Vùng IV Quân Sự, và các cộng sự viên chính Đại Tá Quan, Phụ Tá cho Tư Lệnh, và Thượng Tá Hà Vi Tùng, Tham Mưu Trưởng điều nghiên kế hoạch họ đã hoạch định.

Coi bộ Đại Tá Nguyễn Hữu An thay Đại Tá Quan trong chức vụ Tư Lệnh Phó và Đại Tá Bùi Nam Hà thay Đại Tá Hà Vi Tùng trong chức vụ Tham Mưu Trưởng, tuy Tướng An không nhắc tới hai vị sau này.

Nhân tiện xin nêu lên ở đây là tài liệu Việt Cộng, ngoài những điểm mù mờ vừa nêu, không cho thấy rõ ai là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 33 và Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 66 trong chiến dịch Plâyme.

Hình như viên Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 66 tên là Trung Tá Lê Xuân Chuyên đã hồi chánh trên đường đi từ Bắc Việt vào Nam Việt. Có tài liệu cho biết Lê Tiến Hoà nhắm chức vụ quyền trung đoàn trưởng trung đoàn này.

Theo ý riêng tôi, trong cuốn Chiến Trường Mới - Hồi Ức Tướng An nói nhiều về Trung Đoàn 33 trước trận đánh tại Pleime, nên dựa vào đó tôi suy diễn Nguyễn Hữu An là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 33 trong giai đoạn I của chiến dịch Plâyme và được cất nhắc lên làm Tư Lệnh Phó Mặt Trận B3 qua giai đoạn II của chiến dịch.

= Đảng ủy Mặt trận B3 chúng tôi họp khẩn cấp đánh giá tình hình và có chủ trương mới. Cuộc họp thống nhất đại ý rằng: Lữ kỵ binh bay số 3 Mỹ thực hiện chiến thuật “cóc nhảy” vào hậu phương ta hòng tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta. Chúng ta đang nhử địch ra để diệt, Mỹ tự nhảy ra như vậy là đúng ý định của ta, ta có cơ hội để chuyển sang diệt Mỹ. Chúng ta cố gắng thu hút địch về phía tây nam Tây Nguyên để phối hợp với chiến trường Liên khu 5 và các chiến trường khác. Chỉ tiêu đợt hoạt động này: diệt gọn một, hai tiểu đoàn ngụy và một đến hai đại đội Mỹ.
= Tôi nhớ mãi cuộc họp lịch sử ấy (13-11-1965). Cuộc họp gói gọn khoảng hai tiếng đồng hồ.

Tướng An nhớ sai ngày họp lịch sử này. Nó không xảy ra ngày 13/10 mà chính thật ngày 14 vì lẽ Ban Chỉ Huy Mặt Trận B3 chỉ biết tin quân Mỹ nhảy vào Chu Prong khi Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ Mỹ đổ bộ tại LZ X-Ray khoảng 10 giờ sáng ngày 14/11.

= Sáng 14 tháng 11 chúng tôi [sở chi huy nhẹ] hành quân về phía dãy núi Chư Pông. Trên lối mòn còn lại nhiều vũng bùn, nước của trận mưa lớn từ mấy hôm trước.

= Đến gần trưa chúng tôi dừng lại trên sườn nam núi Chư Pông. Tôi đang đứng chống gậy, mải ngắm nghía địa hình xung quanh không để ý gì khác, bỗng Đồng Thoại nằm xuống giật chân tôi, cùng lúc đó một tràng bom nổ như sấm sét chạy qua chỗ chúng tôi.

= Tôi nói vui với Đồng Thoại:

= Đứng hay nằm ở đây cũng là ăn mày thôi.

= Mắt tôi vẫn dõi theo những đám khói xám đang tan để lại một vệt dài dọc theo sườn núi những cây cối đổ ngang ngửa. Từ hồi còn ở ngoài miền Bắc tôi đã đọc nhiều tài liệu tham khảo về nền quân sự Hoa Kỳ, bây giờ tận mắt nhìn thấy và đang đụng đầu với nó. Một chiếc B.52 chở được 25 tấn bom, riêng ngày hôm nay chúng dùng 24 chiếc nối đuôi nhau quần xung quanh khu vực Chư Pông này.

Tướng An nhớ sai khi nói thấy B-52 dội bom vào trưa ngày 14/11. Bom B-52 rớt xuống Chu Prong lần đầu tiên là trưa ngày 15/11. Pleiku Campaign, trang 88 ghi:

Ngày 15/11 cũng được đánh dấu bởi việc xử dụng lần đầu tiên một vũ khí mới của lực lượng Mỹ và gây kinh hoàng cho quân lính địch kể cả những chiến binh gan lì nhất. Ngay sau giờ ngọ, một vùng rộng lớn quanh vị trí YA8702 thình lình nổ tung với hàng trăm tấn bom làm rung chuyển khắp cùng mặt đất như thể một tấm thảm đang được trải ra. Các phóng pháo cơ B-52 đã đánh rập.

Sở dĩ Tướng An dũng cảm ngang nhiên đứng nhìn B-52 chút bom vì vùng oanh tạc trưa ngày hôm đó là nhắm hai Trung Đoàn 320 và 33 tại quanh YA8702 trong khi Tướng An đang đứng quanh YA9104 - vị trí tập trung của Trung Đoàn 66 - khoảng cách xa 4 cây số.

Ban Chỉ Huy Mặt Trận B3 đã bị trúng kế “kiềm vĩ kích thủ”, bị Lữ Đoàn 3 Không Kỵ Mỹ nắm đằng đuôi –Trung Đoàn 66 – tại LZ X-Ray và bị B-52 đập đắng đầu – Trung Đoàn 320 và 33 – tại quanh trung tâm khối quanh vùng YA 8702.

= Nắm được tình hình địch, tình hình ta qua chính ủy Châu và báo cáo của trinh sát, chúng tôi biết bọn địch đứng sát tiểu đoàn 7 là tiểu đoàn 1 (thiếu) thuộc lữ 3 kỵ binh bay.

Chính xác là Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ. Lữ Đoàn 3 Không Kỵ gồm hai Tiểu Đoàn 1/7 và 2/7.

= Tiểu đoàn 7 đã nổ súng tập kích địch từ năm giờ rưỡi sáng 15 tháng 11. […] Sau một hồi lâu bắn phá [khởi động lúc 12 giờ trưa], địch đổ bộ thêm một đại đội còn lại của tiểu đoàn 1.

Toàn bộ Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ đã đổ bộ xong xuống LZ X-Ray từ khoảng 3 giờ chiều ngày 14/11. Đến khoảng 6 giờ chiều có thêm Đại Đội C thuộc Tiểu Đoàn 2/7 Không Kỵ đến tăng cường cho Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ.

= Ở sở chỉ huy tiền phương chúng tôi lúc này nắm được tình hình chắc hơn. Dưới trung đoàn 66 cho biết: tiểu đoàn 9 đã liên lạc được với tiểu đoàn 7. Như vậy tương quan lực lượng trong khu vực nhỏ này, mỗi bên có hai tiểu đoàn, nếu tính số lượng quân Mỹ trội hơn, chưa kể hai đại đội pháo và không quân chi viện.

Tướng An không biết tương quan lực lượng không phải là 2/2 mà là 2/3, vì ngày 15/11 phía Mỹ có thêm Tiểu Đoàn 2/5 Không Kỵ thuộc Lữ Đoàn 2 Không Kỵ được trực thăng vận đến LZ Victor cách LZ X-Ray 5 cây số và âm thầm kín đáo lội bộ đến trưa ngày 15/11 thì tiến vào LZ X-Ray để giải cứu cho đại đội Mỹ bị cô lập từ ngày hôm trước.

Bộ Chỉ Huy Mặt Trận B3 trúng kế nghi binh của quân Mỹ cứ ngỡ là Mỹ chỉ tung vào hai tiểu đoàn nên không kéo thêm quân của hai Trung Đoàn 33 và 320 nhập cuộc chiến. Thành thử ngoại trừ hai Tiểu Đoàn 7 và 9 của Trung Đoàn 66, các tiểu đoàn khác vẫn án binh bất động tại vùng xuất quân và bị B-52 oanh tạc làm thịt.

= Thấy tiểu đoàn 1 có nguy cơ bị tiêu diệt, lữ 3 kỵ binh bay hạ lệnh cho số còn lại hành quân bộ chạy về phía tây Ia-mơ co cụm ở gần trận địa pháo chờ lệnh.

Ngày 17/11, hai Tiểu Đoàn 2/7 thuộc Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh và Tiểu Đoàn 2/5 thuộc Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh được lệnh lội bộ ra khỏi LZ X-Ray cách khoảng 3 cây số an toàn để nhường chỗ cho B-52 oanh tạc ngay lên bãi đáp. Pleiku Campaign, trang 93 ghi:

Lần đầu tiên trong cuộc xung đột tại Việt Nam, oanh tạc Không Lực Chiến Thuật được đem ra xử dụng để trực tiếp yểm trợ cho cuộc điều quân bộ chiến. Các cuộc oanh tạc trong hai ngày qua có tính cách yểm trợ, nhưng ngày hôm nay, các lực lượng bộ chiến sẽ di chuyển để nhường chỗ cho cuộc oanh tạc sắp xảy đến.

Do thế, cả hai tiểu đoàn đang chiếm cứ bãi đáp, TĐ 2/5 KK và TĐ 2/7 KK, rời khỏi bãi đáp với sứ mạng tảo thanh lên hướng bắc, với TĐ 2/5 KK hơi chếch về hướng đông và tiến tới Columbus. TĐ 2/7 KK đi sau TĐ 2/5 KK cho đến khi đạt được khoảng cách an toàn 3.000 thước giữa vị trí của mình với vùng mục tiêu của B-52, rồi tảo thanh hướng tây và tây bắc tiến tới một vị trí trên bản đồ được đặt tên là Albany (YA945043).

= Trong ngày 18 […] Hai trung đoàn dù ngụy nằm trong lực lượng tổng dự bị tức tốc được điều từ Sài Gòn tới cùng với một tiểu đoàn Mỹ hành quân bằng ô tô rồi tiến vào hướng đông nam Đức Cơ bắc dãy núi Chư Pông để yểm trợ phía sau đồng thời cố tạo ra một áp lực giả tạo làm thuốc an thần cho quân Mỹ. Rất tiếc trung đoàn 320 ở hướng đó chỉ đánh tiêu hao, không diệt gọn được tiểu đoàn Mỹ nào.

Thứ nhất, lý do Liên Đoàn Dù Việt Nam được đưa vào trận chiến là để tiêu diệt nốt hai tiểu đoàn sống sót của Việt Cộng.

Thứ hai, Trung Đoàn 320 tránh né đụng độ với quân Dù Việt Nam.

Đại Tá Hiếu viết trong cuốn, Why Pleime, nơi chương VI:

Ước tính tình báo về khả năng địch, thực hiện vào ngày 17 tháng 11 chỉ cho thấy là gần 2/3 lực lượng của họ bị tiêu hao trong những trận giao tranh ở Đợt I và Đợt II.

Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II nghĩ là đến lúc tung lực lượng trừ bị vào để chấm dứt trận chiến đã kéo dài khoảng một tháng. Ngoài bị tổn thất nặng nề, địch buộc phải sa vào bẫy các lực lượng của ta giăng ra và xô đẩy vào các lộ trình rút lui mà chúng ta dự kiến.

Lần này nỗ lực chính được thực hiện bởi Lữ Đoàn Dù QLVNCH với sứ mạng triệt hủy các đơn vị Việt Cộng đào tẩu và tất cả các cơ sở xung quanh thung lũng Ia Drang. Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ trước nay gánh chịu tấn công sẽ tiếp tục tạo áp lực từ Đông sang Tây và cung ứng pháo yểm cho Lữ Đoàn Dù.

Trung Đoàn 32 Bắc Việt không can dự và không hề hấn trong suốt đợt hai, cuối cùng bị tìm thấy và buộc phải chiến đấu, mặc dù cố né tránh đụng độ càng nhiều càng tốt.

= Ngày 19, hàng chục máy bay tới ném bom bắn phá hồi lâu xung quanh Qynh-cơ-la, rồi cho trực thăng xuống bốc toàn bộ số quân còn lại về Bầu Cạn. Cuộc hành quân lần đầu tiên của quân Mỹ vào Tây Nguyên đã kết thúc bi thảm.

Chiến Dịch Pleime chỉ chấm dứt ngày 26/11/1965 khi quân Dù Việt Nam không còn thấy bóng dáng cán binh Việt Cộng sống sót trong vùng hành quân Thần Phong 7. Họ đã vứt súng thoát chạy qua hậu cứ nằm trên lãnh thổ Căm Bốt sau khi bị quân Dù giết hại hơn 200 tên.

= Kết quả cuối cùng ta đã giành được thắng lợi to lớn vượt xa dự kiến ban đầu, khoảng 1.200 tên Mỹ bị thương vong, ta tiêu diệt tiểu đoàn 1 và 2 của lữ đoàn 3 kỵ binh bay, tiêu hao nặng tiểu đoàn 3 và một số đại đội, bắn rơi 26 máy bay và thu nhiều súng đạn.

Tướng An muốn nói tới Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ tại LZ X-Ray và Tiểu Đoàn 2/7 Không Kỵ tại LZ Albany.

Pleiku Campaign, nơi trang 122 thì trưng số thương vong Mỹ như sau:

2. Tổn Thất Của Các Đơn Vị SĐ1KK (Theo đơn vị lớn): LĐ1KK Chết 57 Bị Thương192; LĐ3KK Chết 239 Bị Thương 307; LĐ2KK Chết 4 Bị Thương 25; Tổng Cộng Chết 300 Bị Thương 524.

quan su vn, quan su viet nam, chuprong, xray 2

Khó có thể tin được con số 26 máy bay bị bắn rơi phần vì Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ chỉ xử dụng có 16 trực thăng để đổ bộ quân xuống LZ X-Ray, phần vì không thấy phía Việt Cộng đặt súng phòng không trên sườn đổi núi Chu Prong cách bãi đáp có 150m bắn phá trực thăng đổ bộ quân lính.

Đại Tá Hiếu viết trong cuốn, Why Pleime, nơi chương V:

thật bất ngờ là từ trên các đồi bao quát ngó xuống bãi đáp, địch đã không đặt các vũ khí cộng đồng để yểm trợ các cuộc tấn công. Tình trạng này chỉ có thể giải thích bởi lý do sau đây: Địch đã mất gần hết các vũ khí cộng đồng trong đợt đầu.

Ngoài ra tiểu đoàn súng phòng không hai nòng 14,5 ly yểm trợ cho cuộc tiến công trại Pleime lần thứ hai còn rong rủi trên đường mòn Hồ Chí Minh hai ngày nữa mới tới Chu Prong.

Đại Tá Hiếu viết tiếp trong cuốn, Why Pleime, cũng nơi chương V:

Tin chắc các lực lượng của ta đánh mất vết tích của các đơn vị của họ, Mặt Trận Việt Cộng liền lấy một quyết định để lấy lại ưu thế với một cuộc tiến công. Mục tiêu lại là Pleime và ngày tiến công được ấn định vào ngày 16 tháng 11. Kế hoạch được biết trong nội bộ cán bộ Việt Cộng như là đợt hai của cuộc tiến công Pleime. Tất cả ba trung đoàn sẽ can dự vào lần này, cũng như một tiểu đoàn pháo kích 120 ly và một tiểu đoàn súng phòng không hai nòng 14,5 ly; cả hai đơn vị này đang trên đường xâm nhập và dự tính sẽ tới kịp thời cho cuộc tiến công.

Nguyễn Văn Tín
19 tháng 8 năm 2013

***

Đọc thêm:

1/ Trang nhà Tướng Nguyễn-văn-Hiếu http://www.generalhieu.com

2/ Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam - http://www.vnmilitaryhistory.info/bonbackytaiquansuvn.htm

 

Quân Sự Việt Nam (TOP)