Danh Tướng Lịch Sử Việt Nam - Lịch Sử Quân-Sử Việt-Nam

Lịch-Sử Quân-Sử Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân-Sử Việt-Nam Cộng-Hòa

Anh Tôi, Tướng Hiếu

quân sự việt nam, quân sự

1, 2, 3

...

Tướng Giỏi.

Ngoài là tướng sạch ra, anh tôi còn là tướng giỏi. Về điểm này ngoài giới quân đội, nhất là hàng các tướng tá, ít người biết đến. Một phóng viên báo chí Mỹ thuộc Cơ Quan Báo Chí Quốc Tế UPI khen ngợi anh tôi với tôi: "Ít tướng tá Việt Nam có khả năng thuyết trình quân sự trôi chảy bằng Anh ngữ như Tướng Hiếu". Một viên tướng Mỹ, Tướng Charles J. Timmes, nếu tôi không nhầm, nói với tôi: "Trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, có lẽ chỉ có Tướng Hiếu là thật sự có khả năng và bản lãnh điều động binh đội cấp quân đoàn cách hữu hiệu; các tướng khác chỉ có khả năng chỉ huy nổi đến cấp sư đoàn thôi."

Tôi thiển nghĩ các tướng tá thuộc QLVNCH, quang minh ra mà xét, sẽ không cho nhận định này là quá đáng. Tướng Vĩnh Lộc nhận xét như sau:

Địa thế và vị trí của nước ta trong phương vị hành quân tìm địch để tảo thanh không tạo được cơ hội để dàn trận một lúc đồng thời cả ba Trung Đoàn cùng các đơn vị yểm trợ. Xét lại từ khi thành lập Sư Đoàn cho đến ngày thất thủ Vùng Cao Nguyên, chưa thấy Khu Chiến Thuật nào hành quân sử dụng toàn thể sư đoàn, nghĩa là cả 3 Trung Đoàn Bộ Binh, Tiểu Đoàn Pháo Binh, Công Binh và Thiết Giáp v.v. Dù muốn cũng không có môi trường để dàn ra cả Sư Đoàn nếu không muốn nói đến hiếm hoi sĩ quan chỉ huy được huấn luyện nghiêm túc điều khiển Đại đơn vị. (Thư Gửi người Bạn Mỹ, trang 71)

Lần gặp Tướng Trần Văn Đôn tại Nữu Ước vào năm 1978, trong dịp ông tới thành phố này tham dự một buổi thuyết trình về Việt Nam, đồng thời ra mắt cuốn sách ông mới cho xuất bản tựa đề: Our Endless War: Inside Vietnam (cuốn sách này được tác giả chuyển ngữ sang tiếng Việt tựa đề Việt Nam Nhân Chứng năm 1989), sau khi được tôi tự giới thiệu là em Tướng Hiếu, ông đã nói với tôi: "Nếu Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa mà có nhiều sĩ quan tài giỏi như Tướng Hiếu thì nước Việt Nam đã không mất". Tướng Đôn biết rõ anh tôi vì anh tôi khởi sự đời quân ngũ với lon trung úy dưới quyền Tướng Đôn (khi đó còn là Đại Tá Tham Mưu Trưởng) ở Bộ Tổng Tham Mưu, Chợ-Quán, và rồi Tướng Đôn đem anh tôi theo khi ông được bổ nhiệm ra Đà-Nẵng giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn I năm 1957.

Ngày đám táng anh tôi, một viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng, trên mình còn đóng nguyên bộ đồ trận lấm bụi đất đỏ, từ mặt trận Xuân Lộc lái xe về nghiêng mình trước linh cửu anh tôi, có nói với tôi: "Khi Tướng Hiếu ra lệnh tụi tôi trấn giữ một cứ điểm thì anh em đều vững lòng tuân theo, vì biết sẽ không đời nào bị bỏ rơi". Nói xong, ông ta vội vã ra xe díp trực chỉ trở ra mặt trận. Cũng trong dịp đám táng này, một trung tá công binh nói với tôi: "Với ai chứ, với Tướng Hiếu thì không thể đem kỹ thuật chuyên môn ra mà hù để thối thác thi hành một mệnh lệnh khó khăn, chẳng hạn như khi nhận lệnh bắc một cầu tạm dã chiến qua một khúc sông giữa lòng địch, vì Tướng Hiếu am tường mọi chi tiết, kể cả tiểu tiết chuyên môn, chỉ ra lệnh khi biết lệnh mình khả thi mà thôi". Tôi nhớ có lần lên Lai Khê thăm anh tôi tại bản doanh Tư Lệnh Sư Đoàn 5, tôi tò mò hỏi anh tôi: tướng giỏi khác tướng dở thế nào? Anh tôi chỉ lên bản đồ quân sự nói: Khi chuẩn bị hành quân, tướng dở lấy bút chì màu đỏ chấm hai điểm A và B trên bản đồ và lấy thước kẻ một đường thẳng nối liền hai điểm đó, rồi ra lệnh quân lính cứ theo lằn gạch đỏ mà tiến tới, không cần biết trên thực tế địa thế hiểm trở ra sao giữa hai điểm đó. Trái lại, tướng giỏi đích thân trinh sát địa thế trước và biết tường tận quân lính sẽ phải khắc phục những trở ngại địa thế nào khi di chuyển từ vị trí A đến vị trí B".

Thật thế, anh tôi thường hay lấy trực thăng đáp xuống trận địa, khiến cho viên đại uý tùy viên rất e ngại mỗi lần phải tháp tùng theo anh tôi đi trinh sát mặt trận. Anh ta thổ lộ với tôi: "Đừng nói lại với bà tướng, chứ có lần Tướng Hiếu và toàn bộ chỉ huy, sau khi được trực thăng thả xuống một bãi đất trống, đã phải lẩn tránh địch đi bộ băng rừng một quãng xa, mới gọi được trực thăng đáp xuống bốc lên an toàn!" Vào thời điểm Phan Rang vừa mới thất thủ, anh tôi được lệnh giúp Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi thiết lập mặt trận mới ngăn chận bước tiến của Cộng quân. Anh tôi lấy trực thăng bay ra Trung trinh sát địa thế đặt bản doanh bộ chỉ huy tư lệnh tiền phương. Khi trở về, anh sĩ quan tùy viên xanh mặt mách với tôi: "Khiếp quá, trong khi trực thăng bay lượn vòng vòng, nhìn thấy mặt Cộng quân lố nhố dưới đất, vậy mà Thiếu Tướng vẫn cứ ra lệnh cho trực thăng đáp xuống gần đó!"

Cũng có lần khác tôi hỏi anh tôi: "Thế nào gọi là tướng giỏi?" thì được anh tôi trả lời: "Tướng giỏi là ở chỗ biết địch để có thể dụng binh đúng mức: chỗ nào cần một tiểu đội trấn giữ thì chỉ bố trí một tiểu đội mà thôi; chỗ nào cần tới một tiểu đoàn thì dùng đến một tiểu đoàn mà thôi". Tôi còn nhớ chẳng bao lâu sau khi nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 5 đóng quân ở Bình Dương, mỗi lần về thăm gia đình ở Sài-Gòn, anh tôi thản nhiên tự lái xe díp với vỏn vẹn viên tài xế ngồi kế bên, vì đã bố trí đội ngũ đúng mức tạo được thế an ninh trên trục lộ từ Bình Dương về đến Sài-Gòn. Trong khi đó, tôi nghe nói vị Tư Lệnh tiền nhiệm, mỗi lần về Sài-Gòn, phải dùng đến hai xe bọc sắt tháp tùng theo hộ tống. Lần thứ hai có dịp đến thăm anh tôi, thì Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 đã được di chuyển từ Bình Dương lên Lai Khê, thay thế cho Sư Đoàn 1 Bộ Binh của Quân Đội Mỹ. Tôi có hỏi tại sao lại đổi lên chỗ khỉ ho cò gáy này thì anh tôi trả lời: "Vì Mỹ muốn giữ thể diện, sợ bị mang tiếng là thua bỏ trại nhượng đất cho địch, chứ thật sự không cần thiết; trái lại còn có điểm bất lợi là phải trói chân thêm mấy tiểu đoàn bảo vệ Bộ Tư Lệnh, thay vì dùng lực lượng đó đi lùng địch".

Sở dĩ ít người biết anh tôi là một tướng tài, vì anh tôi tính vốn rất khiêm tốn, không thích loè loẹt khoe khoang. Anh tôi thường âm thầm làm việc trong hậu trường để các diễn viên nhận hưởng sự tán thưởng của khán thính giả ngoài sân khấu. Trong giai đoạn đầu của đời binh nghiệp, anh tôi chuyên về tham mưu lên đến chức tham mưu trưởng cấp quân đoàn cho nhiều tướng - Đỗ Cao Trí, Nguyễn Hữu Có, và Vĩnh Lộc. Mãi sau, anh tôi mới được đưa ra tác chiến trực tiếp cầm quân làm Tư Lệnh Sư Đoàn 22 rồi Sư Đoàn 5. Một trong những lý do tài năng anh tôi không được trọng dụng đúng mức là vì anh tôi không có óc bè phái, đồng thời lại trực tính không thích xu nịnh, nên không được tiến cử thăng chức nhanh chóng. Tôi nhận xét thấy anh tôi tiến lên đến cấp Thiếu Tướng thì bị ngưng đọng tại chỗ từ năm 1968, trùng hợp với triều đại Tổng Thống Thiệu, lúc nạn bè phái, thăng chức bừa bãi bắt đầu hoành hành. Chính vì tính cương trực đó mà lần đầu anh tôi được cử ra nắm Sư Đoàn 22 vào tháng 9/1964, chỉ tại chức vỏn vẹn được có vài tuần thì bị Tướng Khánh cách chức Tư Lệnh Sư Đoàn cho thuyên chuyển trở về chức Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, khi ông lên nắm chức Thủ Tướng. Lần thứ nhì trở lại chức Tư Lệnh Sư Đoàn 22 vào tháng 6/1966, anh tôi là người đã hữu hiệu bảo vệ thành phố Qui-Nhơn trong trận Tổng Công Kích Tết Mậu Thân năm 1968. Theo lời của Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ, Trưởng Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu, anh tôi là người gọi điện thoại chiều ngày 30 Tết về Bộ Tổng Tham Mưu cho biết tù binh Việt cộng bắt được khai là khởi sự ngày mồng một Tết sẽ có cuộc tổng công kích trên toàn lãnh thổ miền Nam. Bộ Tổng Tham Mưu liền chuyển tin hệ trọng này qua Tổng Thống Thiệu. Tổng Thống Thiệu lập tức bãi bỏ lệnh hưu chiến. Nhờ vậy Cộng quân đánh mất đi phần nào yếu tố bất ngờ trong trận tấn công toàn diện miền Nam dịp Tết Mậu Thân.

Theo tờ trình lượng giá Sư Đoàn 22 cho tam cá nguyệt đầu của năm 1969 do Ban Cố Vấn Mỹ cạnh Quân Đoàn II thực hiện thì Sư Đoàn 22, dưới sự chỉ huy của Tướng Hiếu là đơn vị chạm địch nhiều nhất và diệt địch nhiều nhất so với các đơn vị khác thuộc Quân Đoàn II trong thời gian này.

Trong 3 năm lãnh đạo Sư Đoàn 22, Tướng Hiếu đã làm cho các tướng lãnh của Sư Đoàn Kỵ Binh Mỹ (1st Cavalry Division) - Thiếu Tướng Harry Kinnard, Thiếu Tướng John Norton, Thiếu Tướng John Tolsson III, Thiếu Tướng George Forsythe - và Tướng Đại Hàn Lee của Sư Đoàn Mãnh Hổ (Tiger Division) phải nể vì. Và nhờ đem lại nhiều chiến công cho Sư Đoàn 22 nên anh tôi đã được thăng chức mau chóng trong thời gian ngắn ngủi này: bắt đầu là Đại Tá năm 1966 và kết thúc là Thiếu Tướng năm 1968.

Khi Tướng Trí về nắm Quân Đoàn III với sứ mạng chỉnh đốn lại tình trạng quân sự lụi bại của Quân Đoàn III, Tướng Trí đã kéo anh tôi từ Sư Đoàn 22 về và giao cho anh tôi Sư Đoàn 5. Ngay sau khi nhận lãnh chức Tư Lệnh vào tháng 8/1969, Tướng Hiếu đã chuyển Sư Đoàn 5 từ thế thủ qua thế công. Trong thời gian không đầy 2 năm (từ 8/1969 đến 6/1971), và mặc dù bận rộn rời bản doanh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 từ Bình Dương lên Lai Khê để tiếp thu căn cứ do Sư Đoàn 1 Bộ Binh Mỹ nhượng lại dời về Dĩ An (từ tháng 11/1969 đến tháng 8/1970), Tướng Hiếu đã không ngừng tung quân vào nhiều cuộc hành quân cỡ lớn: Tảo Thanh QL/14 (2/1970), Toàn Thắng 46 (5/1970), Toàn Thắng 8/B/5 (6/1970), Lộc Ninh (9/1970), Snoul (3/1971), Toàn Thắng 02 (5/1971), v.v... Các cố vấn Mỹ cấp quân đoàn và cấp sư đoàn đều ca ngợi tài lãnh đạo quân sự của Tướng Hiếu, ngoại trừ Tướng Michael Davison, cố vấn trưởng QĐ III thì tỏ vè dè dặt (xem tài liệu lượng gía của cố vấn Mỹ).

1, 2, 3

 

Quân Sự Việt Nam (TOP)