Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam - Trang Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc

Toàn Thư Hoàng Đế Trần-Nhân-Tông

Mục Lục

Dẫn Nhập

Chương Một: Hành Trạng

Chương Hai : Hoàng Đế Trần Nhân Tông và cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất 1285

Chương Ba : Chiến lược phòng thủ diện địa

Chương Bốn : Kế sách rút lui và phòng thủ chiến lược

 

Chương Năm : Trì Hoãn Chiến

Chương Sáu: Tổng phản công Khôi Phục Giang Sơn

Chương Bảy : Củng cố đất nước sau cuộc chiến tranh

Chương Tám : Cuộc chiến vệ quốc lần thứ ba 1288

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Biên Khảo Sử Của Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

Chương Chín : Chiến thắng sông Bạch Đằng, một chiến tích lẫy lừng thiên niên kỷ

...

Trương Hán Siêu đã ca ngợi chiến thắng ở sông Bạch Ðằng qua bài phú sau đây

Bài Phú Sông Bạch Ðằng

Khách có kẻ: Chèo bể bơi trăng, buồm mây giang, gió. Sớm ngọn Tương kia, chiều hang Vũ nọ. Vùng vẫy Giang, Hồ: tiêu dao Ngô, Sở. Ði cho biết đây, đi cho biết đó. Chằm Vân-mộng chứa ở trong kho tư-tưởng, đã biết bao nhiêu, mà cái trí khí tứ phương, vẫn còn hăm hở! 

Mới học thói Tử-trương: bốn bể ngao du. Qua cửa Ðại-than sang bến Ðông-triều, đến sông Bạch-Ðằng, đứng đỉnh phiến-chu. Trắng xóa sông kềnh muôn dặm, xanh rì dặng ác một màu. Nước trời lộn sắc, phong cảnh vừa thu. Ngàn lau quạnh cõi, bến lách đìu-hiu. Giáo gậy đầu sông, cốt khô đầy gò. Ngậm ngùi đứng lắng ngắm cuộc sống phù du. Thương kẻ anh hùng đâu vắng tá, mà đây dấu vết hãy còn lưu.

Kia kìa, bến sông, phu lão người đâu. Lượng trong bụng ta, chứng có sở cầu. Hoặc gậy trống trước, hoặc thuyền bơi sau. Vái tạ mà thưa rằng: Đây là chỗ chiến địa vua Trần bắt giặc Nguyên, và là nơi cố-châu của vua Ngô phá quân Lưu đây.

Đương khi: muôn đội thuyền bày, hai quân giáo chỉ. Gươm tuốt sáng lòe, cờ bay đỏ khí! Tướng Bắc quân Nam đôi bên đối lũy. Đã nổi gió mà bay mây, lại kinh thiên mà động địa. Kìa quân Nam-Hán nó mưu sâu, nọ Hồ-Nguyên có sức khỏe. Nó bảo rằng: phen này đạp đổ nước Nam, tưởng chừng có dễ.

May sao: Trời giúp quân ta, mây tan trận nó, khác nào như quân Tào Tháo bị vỡ ở sông Xích-bích khi xưa, giặc Bồ Kiên bị tan ở bến Hợp-phù thuở nọ. Ấy cái nhục tày trời của họ, há những một thời, mà cái công tái tạo của ta lưu danh thiên cổ.

Tuy vậy, từ thuở có trời có đất, vẫn có giang-san. Trời đặt ra nơi hiểm-trở, người tính lấy cuộc tồn-an. Hội này bằng hội Mạnh-tân, như vương-sự họ Lã; trận nào bằng trận Dung-thủy, như quốc sĩ họ Hàn. Kìa trận Bạch-Đằng này mà đại-thắng, bởi chưng Đại-vương coi thế giặc nhàn. Tiếng thơm còn mãi, bia miệng hao mòn. Nhớ ai sa giọt lệ, hổ mình với nước non!

Rồi vừa đi vừa hát rằng:

Sông Đằng một dải dài ghê!

Cuồng to sóng lớn dồn về biển Đông.

Trời Nam sinh kẻ anh hùng.

Tăm kềnh yên lặng, non sông vững-vàng

Khách vừa đi vừa hát rằng:

Vua Trần hai vị Thánh-quân.

Sông kia còn dấu tẩy trần giáp-binh

Nghìn xưa gẫm cuộc thăng-bình.

Tài đâu đất hiểm, bởi mình đức cao.

 Nguyên văn chữ Nho của Trương Hán Siêu một bậc nho sĩ danh tiếng thời vua Trần Anh Tông, Đông Châu dịch. Khảo về địa-dư và lịch-sử tỉnh Quảng-Yên (Nam-phong tạp-chí, tập XIV số 8, tháng 6-1924).

Thơ của Phan Lập Trai

Biển Châu hiển phát Chương Dương độ

Dãn kiến sa âu phù chân chử

Dục mịch Trần Nguyên cổ chiến trường

Tưởng tại trung lưu soan khích xứ.

Dịch nghĩa:

Buổi sáng cưỡi thuyền nhỏ ra bến Chương Dương,

Chỉ trông thấy đàn chim âu bơi trên sóng nước.

Muốn tìm cảnh chiến trường xưa giữa quân Trần và quân Mông-cổ

Tưởng tượng ở chốn nước xoáy giữa dòng.

(Việt Nam Văn Học Sử Yếu tập I, tác giả giáo sư Dương Quảng Hàm, trang 152)

Trúc Lâm Phúc Lộc

Thư mục tham khảo:

1/ Ðạo Phật và Dòng Sử Việt, tác giả cố Hòa thượng Thích thượng Ðức hạ Nhuận, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản 1998, California Hoa Kỳ.

2/ Toàn Tập Trần Nhân Tông, tác giả giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam xuất bản 2000, Việt Nam.

3/ Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư. Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, biên soạn năm 1697.

4/ Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục, biên soạn bởi Quốc Sử Quán Triều Nguyễn 1856-1861.

5/ Việt Sử Tiêu Án, biên soạn bởi Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ 1775.

6/ Ðại Việt Sử Lược, tác giả Khuyết Danh (1377-1388), dịch giả Nguyễn Gia Tường (1972).

7/ Thiền Sư Việt Nam, tác giả Thanh-Từ, xuất bản Sài Gòn Việt Nam 1973.

8/ Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, cố Hòa thượng Thích thượng Mật hạ Thể, Minh Ðức xuất bản 1960, Huế.

9/ Việt Nam Sử Lược, soạn giả Lệ Thần Trần Trọng Kim, Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa Trung Tâm Học Liệu xuất bản, Sài Gòn Việt Nam.

10/ Trần Hưng Ðạo, tác giả Hoàng Thúc Trâm, xb 1950, Sài Gòn Việt Nam.

11/ Hán-Việt Từ-Ðiển, tác giả Ðào Duy Anh biên soạn, Hãn-mạn-tử hiệu đính, Trường Thi xuất bản 1957, Sài Gòn Việt Nam.

12/ An Nam Chí Lược, soạn giả Lê Tắc, dịch thuật bởi Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam 1960, Viện đại học Huế xb 1961.

13/ Histoire du Viet Nam des origines à 1858, tác giả Lê Thành Khôi, do Sudestasie xuất bản năm 1987 tại Paris.

14/ Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam tập 4 - Tư tưởng Việt Nam thời Trần (1225-1400), tác giả cố Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, xuất bản 1992 tại Sài Gòn Việt Nam.

15/ Lịch Sử Việt Nam tập I, nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội xuất bản năm 1985.

16/ Việt Sử Giai Thoại – 71 Giai Thoại Thời Trần, tác giả Nguyễn Khắc Thuần, xuất bản 1993, Sài Gòn Việt Nam.

17/ Việt Sử Khảo Luận tập 2, tác giả Hoàng Cơ Thụy, Hội Văn Hóa Hải Ngoại xuất bản 1988 tại Paris, Pháp quốc.

18/ Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập 1, Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh đồng biên soạn. Xuất bản 1998 tại Hà Nội.

19/ Thơ văn Lý Trần, Hà Nội xuất bản 1988 tập II quyển thượng.

20/ Tiêu Sơn Tráng Sĩ, tác giả Khái Hưng do Văn Nghệ xuất bản năm 1968, tại Sài Gòn Việt Nam.

21/ Việt Nam Văn Học Sử Yếu tập I, tác giả giáo sư Dương Quảng Hàm, xuất bản Sài Gòn Việt Nam (SUDASIE tái bản ở Paris năm 1986).

22/ Việt Sử Mông Học-Từ Hồng Bàng đến 1945, tác giả Ngô Đức Dung, nhà xuất bản văn học Hà Nội xuất bản năm 1998, Việt Nam.

23/ Khảo về địa-dư và lịch-sử tỉnh Quảng-Yên (Nam-phong tạp-chí, tập XIV số 8, tháng 6-1924).

24/ Những Trang Sử Vẻ Vang, Nguyễn Lân biên thuật, nhà XBKHXH Hà nội phát hành 1998.

25/ Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, do Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Lê Tung, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thời Sĩ đồng biên soạn và viết lời bàn; Ngô Thời Nhậm tu đính, Sử quán triều Tây Sơn khắc in năm 1800; Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản 1997 tại Hà Nội.

26/ Bản thảo Ðại Việt Chư Tôn Ðức Hành Trạng, Trúc Lâm Phúc Lộc biên khảo (chưa xuất bản).

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Quân Sử Việt Nam (TOP)