Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam - Trang Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc

Toàn Thư Hoàng Đế Trần-Nhân-Tông

Mục Lục

Dẫn Nhập

Chương Một: Hành Trạng

Chương Hai : Hoàng Đế Trần Nhân Tông và cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất 1285

Chương Ba : Chiến lược phòng thủ diện địa

Chương Bốn : Kế sách rút lui và phòng thủ chiến lược

 

Chương Năm : Trì Hoãn Chiến

Chương Sáu: Tổng phản công Khôi Phục Giang Sơn

Chương Bảy : Củng cố đất nước sau cuộc chiến tranh

Chương Tám : Cuộc chiến vệ quốc lần thứ ba 1288

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Biên Khảo Sử Của Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

Chương Bảy : Củng cố đất nước sau cuộc chiến tranh

...

Về việc trị tội những người đã phản bội đất nước đầu hàng kẻ thù được tuyên bố cùng một lúc đối với việc ân thưởng. Ta không được biết việc xử phạt diễn biến ra sao vì các sách sử của ta đã không ghi chép chi tiết. Tuy nhiên vào tháng 9, nghĩa là sau một thời gian rất ngắn, Đức vua lại ban lịnh đại xá. Lịnh đại xá đó không thể nào không ảnh hưởng đến những người đã phạm tội đầu hàng quân thù. Qua hành động đó ta đã thấy được cái Uy (trị tội) và đức Bi (đại xá) của vị hoàng đế này, và có thể nói ngài là một trong những vị hoàng đế hiếm hoi của nước Việt từ nhiều ngàn năm nay có được những cử chỉ đó. Ở Đức ngài đã tập trung đầy đủ cả ba đức tính đó là Dũng (chiến thắng giặc Nguyên), Uy (trị tội những thành phần phản nghịch), Bi (tha bổng tất cả những người có tội). Đó là ta đã ôn cố. Thiết nghĩ chúng ta nên đề cập một chút tới phần tri tân, người viết nghĩ là rất cần thiết để thông điệp này được tiếp nhận một cách đứng đắn bởi những thế hệ tương lai. Đặc biệt là thế hệ trẻ được sanh ra và lớn lên ở bên ngoài đất nước Việt Nam.

Tri tân mà chúng tôi muốn đề cập tức là hiện tình của Việt Nam chúng ta trong thế kỷ 20. Sau khi cộng sản Việt Nam có được may mắn chiếm giữ toàn thể lãnh thổ nước Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, nếu họ thực sự là thành phần của dân tộc, thẩm thấu được ý nghĩa «Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo» của Nguyễn Trải tiên sinh hoặc cái Uy và đức Bi của Đức Hoàng đế Trần, thì họ đã có những hành động không xử án, nhốt tù, cũng như thủ tiêu những thành phần công chức, quân nhân, dân sự của chế độ miền Nam Việt Nam. Như thế đất nước đã bước vào một kỷ nguyên mới, mọi người dù xuất thân thành phần chính trị nào đi nữa, thì cũng có thể góp phần một cách bình đẳng vào việc tái thiết đất nước và xây dựng một nước Việt Nam mới thật sự thanh bình thịnh vượng. Tiếc một điều những người cộng sản Việt Nam đã không thấm nhuần được bài học đại nghĩa và chí nhân để thay cường bạo, mà ngược lại họ lại dùng cường bạo để thay thế đại nghĩa và chí nhân đã khiến cho hàng trăm ngàn người cựu quân cán chính của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa phải điêu đứng tang thương trong suốt một thời gian dài. Người thì chết tức tưởi vì lằn đạn thù, người rục thân xác trong ngục tù tăm tối, kẻ thì làm việc cật lực chỉ đổi được bát cơm hẩm trong các trại tù, còn nhiều thành phần khác phải bỏ xứ ra đi để có được cuộc sống tự do với nhân phẩm con người được tôn trọng. Không ít người trong số đó đã bỏ thây trên biển cả, làm mồi cho cá mập, mang cả hai ý nghĩa là loài vật và loài người. Theo con số thống kê số người Việt Nam tử nạn cho tự do lên đến 600 ngàn con người ở cả trên bộ lẫn đường biển. Chưa kể tới số nạn nhân chiến tranh (binh lính và thường dân), của cả hai phía miền Nam và miền Bắc có thể lên đến hàng triệu con người, tất cả cũng chỉ vì những cuồng vọng muốn đem đất nước phục vụ cho những tham vọng bá quyền của chủ nghĩa cộng sản trên thế giới. Kể sao cho hết những khổ nạn đè lên đầu lên cổ của người dân Việt từ mấy mươi năm qua. Với chế độ Việt Nam Cộng Hòa mặc dù chưa hoàn hảo, nhưng trong suốt thời gian chiến tranh họ đã hành xử được câu đem đại nghĩa và chí nhân để thay cường bạo bằng chính sách Chiêu hồi. Với chính sách này có hơn 200 ngàn cán binh bộ đội cộng sản quay về chính nghĩa dân tộc. Ít ra Việt Nam Cộng Hòa cũng thực hiện được một phần nào bài học nhân nghĩa mà tổ tiên đã để lại từ nghìn xưa.

Bây giờ chúng ta trở lại chủ đề chính đang nêu dang dỡ là vấn đề duyệt xét hộ khẩu, ngày nay ta gọi là kiểm tra dân số. Mục đích xem là trong nước có bao nhiêu dân, có bao nhiêu đàn ông đàn bà thanh niên người già, nghề nghiệp sinh sống như thế nào trong xã hội v.v…Ngoài ra triều đình muốn thống kê xem tình trạng dân chúng ra sao sau một cuộc chiến dữ dội với kẻ thù. Phải nói quyết định này có tính chất chiến lược và tầm vóc đưa tới sự ổn định trong xã hội. Chiến lược là nắm vững thực lực trong dân gian ra sao để có thể dự phòng tốt nhất một trận chiến khác sắp sửa xảy ra, ngoài ra cũng muốn cho kẻ thù biết được (măc dù quân địch đã rút bị đánh bật ra khỏi bờ cõi, nhưng làm thế nào mà không có bọn gián điệp còn trà trộn ở lại) sau cuộc chiến dữ dội nước ta cũng không suy xuyển gì nhiều, và chúng có muốn xâm hại gì đến thì cũng phải tính toán cẩn thận không thể khinh thường một quốc gia đất hẹp người đông như Đại Việt. Đây là một hình thức giữ gìn sĩ diện quốc gia vậy; thứ hai muốn biết rõ dân tình ra sao để triều đình có thể có biện pháp giúp đỡ kịp thời. Phải là một vị vua rất sáng suốt mới có được những hành động như thế. Nếu chúng có muốn tấn công nước Đại Việt một lần nữa thì tất phải dùng nhiều thời gian chuẩn bị, đây là lợi điểm cho phía chúng ta có thêm thời giờ phục hồi sinh lực chuẩn bị đề kháng cho trận chiến tương lai.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Quân Sử Việt Nam (TOP)