Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam - Trang Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc

Toàn Thư Hoàng Đế Trần-Nhân-Tông

Mục Lục

Dẫn Nhập

Chương Một: Hành Trạng

Chương Hai : Hoàng Đế Trần Nhân Tông và cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất 1285

Chương Ba : Chiến lược phòng thủ diện địa

Chương Bốn : Kế sách rút lui và phòng thủ chiến lược

 

Chương Năm : Trì Hoãn Chiến

Chương Sáu: Tổng phản công Khôi Phục Giang Sơn

Chương Bảy : Củng cố đất nước sau cuộc chiến tranh

Chương Tám : Cuộc chiến vệ quốc lần thứ ba 1288

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Biên Khảo Sử Của Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

Chương Một : Hành trạng

...

Ngài thị tịch vào mùng 1 tháng 11 năm Mậu Thân (1308), trụ thế 51 năm (công chúa Thiên Thụy cũng từ trần cùng một ngày) Tôn giả Pháp Loa rước pháp thể của Giác Hoàng lên dàn thiêu. Tương truyền: « khi đó có hương thơm tỏa ra và nghe thấy những tiếng nhạc ở trên trời, mây ngũ sắc tụ lại thành hình cái tàn để che nơi hỏa thiêu Giác Hoàng Trần Nhân Tông». Tôn giả Pháp Loa thu nhặt ngọc cốt: ngoài xương (ngọc cốt) còn thấy những xá lợi ngũ sắc. Tam Tổ Thực Lục ghi là sau khi hỏa thiêu có thu thập được 3000 xá lợi. Nhưng trong Tam Tổ Hành Trạng ghi là có hơn 1000 xá lợi. Sau khi đó vua Trần Anh Tông và triều đình đến núi Yên Tử để thọ tang đồng thời cũng đem long giá rước ngọc cốt về Ðức Lăng và xây tháp thờ ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, lấy tên là Huệ Quang Kim Tháp và dâng tôn hiệu là Ðại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Ðầu Ðà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Ðiều Ngự Tổ Phật. Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục ghi thụy hiệu của ngài là Pháp Thiên Sùng Ðạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Huệ Thánh Văn Thần Vũ Nguyên Minh Huệ Hiếu Hoàng Ðế. 

Ðại Việt Sử Lược ghi các niên biểu về thời kỳ trị vì của Ðức vua Trần Nhân Tông như sau:

- Niên hiệu : Thiệu Bảo (1279-1284 ND), gồm 6 năm.

- Năm Thiệu Bảo thứ nhất là năm Kỹ Mão (T.L. 1279-ND).

- Trùng Hưng (1285-1292 ND) gồm 8 năm.

- Năm Trùng Hưng thứ nhất là năm Ất Dậu (T.L.năm 1285-ND).

Ông Louis BEZACHER viết trong Le Stupa du Phổ Minh Tự, nghiên cứu những tài liệu Tam Tổ Thực Lục, Tam Tổ Hành Trạng, Trúc Lâm Tông Chỉ, Nam Ông Mộng Lục và Tam Tổ Hành Trạng thì lễ táng của vua Trần Nhân Tông được tổ chức tại Hà Nội. Nhưng theo Nam Ông Mộng Lục thì lễ hỏa táng của ngài được tổ chức ở gần am Ngọa Vân.

«Trong lễ tang có hoàng tử Oanh (cũng gọi là Mạnh), lên 9 tuổi, đứng gần vua Anh Tông. Nam Ông Mộng Lục chép là xá lợi của Thượng hoàng Nhân Tông đã bay đến ẩn trong áo của một hoàng tử con Trần Anh Tông và chiếu sáng lên. Vua Anh Tông quỳ lạy xin tuân lịnh, sau khi đó thì ánh sáng xá lợi biến đi. Vua Anh Tông đã chọn vị hoàng tử đó làm đông cung thái tử. Tam Tổ Thực Lục cũng kể sự việc này và có ghi là vua Trần Anh Tông đã khóc và không còn nghi ngờ các xá lợi. Vua Anh Tông truyền để ngọc cốt trong bảo tháp xây trên lăng của Thượng hoàng Nhân Tông và những xá lợi chia làm hai phần đựng trong bình đựng di cốt. Sau lễ tang, ngọc cốt được đem chôn ở Ðức Lăng, một phần xá lợi đặt ở tháp trong lăng (nhưng đặt ở kim tháp trong chùa Vân Yên trên núi Yên Tử)».

Các tài liệu vừa kể đều không ghi ngày tháng cử hàng lễ táng Thượng hoàng Nhân Tông, nhưng trong tập 4 của Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục, có ghi tháng 9 âm lịch mùa thu năm 1310, an táng linh cữu Nhân Tông ở Ðức Lăng, phủ Long Hưng, tỉnh Hưng Yên ngày nay. Như vậy theo KÐVSTGCM thì thượng hoàng Nhân Tông mất ở chùa trên núi Yên Tử vào tháng 11 âm lịch năm Mậu Thân (1308) và mãi tới tháng 9 âm lịch năm Canh Tuất (1310) mới làm lễ an táng linh cữu ở Ðức Lăng. Như vậy linh cữu ngài được quàn khoảng hai mươi hai tháng mới an táng (gần hai năm).

Tam Tổ Thực Lục chỉ ghi có nơi chôn ngọc cốt và xá lợi Thượng hoàng Trần Nhân Tông là tháp Ðức Lăng và tháp ở chùa Vân Yên, mà không nói phần xá lợi thứ hai được để ở đâu. Louis BEZACHER cho rằng phần xá lợi này phải để ở tháp xây ở chùa Phổ Minh, làng Tức Mặc, tỉnh Nam Ðịnh. Tháp chùa Phổ Minh xây năm 1310 theo lịnh của vua Trần Anh Tông (1293-1314) để chứa một phần tro xương của Thượng hoàng Trần Nhân Tông. Cái tháp này có ý nghĩa đặc biệt ở chỗ kiến trúc cũng như việc phụng thờ xá lợi của một vị Tăng sĩ mà lúc còn sống từng là bậc hoàng đế. Và nó cũng là cái tháp duy nhất ở Việt Nam có hình thức như vậy.

Việt Sử Tiêu Án cho biết «Khi rước di hài vua Nhân Tông về táng ở Ðức Lăng, lúc tử cung (quan tài của vua gọi là tử cung) sắp đưa ra, người xem đóng chặt cả cung, phải dùng đến lính ngự lâm để mở lối đi cũng không được. Vua (Anh Tông) sai Trịnh Trọng Tử dẹp mở đường. Trọng Tử đến sân rồng gọi đạo quân Long Dực hát khúc long ngâm, dân chúng kéo đến đó xem; cung điện mới rộng chỗ đi được, lại lấy những câu hát ở dọc đường, phổ vào khúc hát, làm cho có tiếng hát liền mãi, không cần phải truyền bảo gì, mà khi đi lên, đi xuống, quanh chuyển, không có lo nghiêng lệch nữa. Người đời bấy giờ khen là có xảo tứ».

Xá lợi của vua Nhân Tông chia làm hai phần : một đưa về táng ở Ðức Lăng; một để ở tháp Yên Tử. Có thầy Trí Không ở chùa Siêu Loại là đốt tay cháy từ bàn tay đến cánh tay, cứ ngồi nghiễm nhiên, không đổi sắc mặt. Vua Anh Tông hỏi, thầy trả lời rằng : «Thần đốt đèn đó». Lửa tắt, thầy về tăng viện ngủ kỹ, đến khi thức dậy chỗ phỏng lên đều khỏi cả. Ðến lúc xá lợi vua Nhân Tông đưa để ở bảo tháp, thầy liền lên núi hầu hạ».

Những tác phẩm văn hóa do ngài Giác Hoàng Ðiều Ngự sáng tác gồm :

Chữ Hán :

- Tăng Già Toái Sự.

- Thạch Thất Mị Ngữ.

- Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục.

- Trúc Lâm Hậu Lục.

- Ðại Hương Hải Ấn Thi Tập.

Chữ Việt (Nôm)

- Cư Trần Lạc Ðạo Phú.

- Ðắc Thú Lâm Tuyền Thành Ðạo Ca.

Thời gian ở ngôi của Đức vua Trần Nhân Tông và những sự kiện chính yếu được ghi nhận như sau (1279-1293) :

- 1280 Ban hành quan xích (thước đo của nhà nước quy định với tinh thần thống nhất quốc gia).

- 1281 Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật được lịnh đi dẹp loạn Giốc Mật hạt Đà Giang. Nhật Duật một mình một ngựa đã chinh phục được lòng dân Mán.

- 1282 Hàn Thuyên khởi xướng ra thơ phú bằng quốc âm, với bài văn tế Cá Sấu, được vua ban cho tên họ của Hàn Dũ. Có tin cấp báo quân Nguyên sang xâm chiếm lần thứ hai. Nhà vua ở Bình Than nhóm họp các vương và bá quan hỏi kế công và thủ.

- 1283 Dùng Hưng Đạo Vương làm Quốc Công Tiết Chế thống lãnh các quân.

- 1284 Vời các bô lão nhóm họp ở điện Diên Hồng để hỏi ý kiến nên đánh hay hàng. Hưng Đạo Vương nhóm quân các lộ ở Vạn Kiếp.

- 1285 Binh của Thoát Hoan công hãm kinh thành. Quang Khải đóng ở Nghệ An, Bình Trọng bị quân Nguyên bắt và bị giết. Nhật Duật đánh bại quân Nguyên ở Hàm Tử Quan. Vua rước Thượng hoàng (Thánh Tông) tự làm tướng đánh quân Nguyên chém Toa Đô. Hưng Đạo Vương đánh bại quân Nguyên ở Vạn Kiếp. Vua rước Thượng hoàng về cung.

- 1286 Trả tù binh nhà Nguyên về xứ. Xuống chiếu cho tôn thất vương hầu mộ binh.

- 1287 Bọn Thoát Hoan của Nguyên sang trả thù. Quân Nguyên tiến vào kinh thành, vua rước Thượng hoàng đi Hà Nam.

- 1288 Tướng Nguyên Ô Mã Nhi tiến vào Long Hưng. Trần Khánh Dư đánh bại quân Nguyên ở Vân Đồn. Vua Nhân Tông và Hưng Đạo Vương cả phá quân Nguyên ở Bạch Đằng bắt sống Ô Mã Nhi. Thoát Hoan chạy trốn. Vua rước Thượng hoàng về cung.

- 1289 Trả tù binh nhà Nguyên về nước. Định công luận tội về trận đánh Nguyên.

- 1290 Vua tự làm tướng đánh Ai Lao. Thánh Tông băng hà (theo Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu của Nguyễn Bá Trác

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Quân Sử Việt Nam (TOP)