Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam - Trang Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc

Toàn Thư Hoàng Đế Trần-Nhân-Tông

Mục Lục

Dẫn Nhập

Chương Một: Hành Trạng

Chương Hai : Hoàng Đế Trần Nhân Tông và cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất 1285

Chương Ba : Chiến lược phòng thủ diện địa

Chương Bốn : Kế sách rút lui và phòng thủ chiến lược

 

Chương Năm : Trì Hoãn Chiến

Chương Sáu: Tổng phản công Khôi Phục Giang Sơn

Chương Bảy : Củng cố đất nước sau cuộc chiến tranh

Chương Tám : Cuộc chiến vệ quốc lần thứ ba 1288

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Biên Khảo Sử Của Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

Chương Bốn : Kế sách rút lui và phòng thủ chiến lược

...

Ngày 14 tháng giêng (1285), quân ta lập các cứ điểm (gồm các sào lũy bằng gỗ) phòng ngự phía Nam sông Cái để chống giặc, ở đây mở màn cho trận đánh thành Thăng Long. Theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 7a4 ghi như sau –Toàn Tập Trần Nhân Tông, Lê Mạnh Thát- về rõ bối cảnh của trận đánh «Trấn Nam Vương liền cùng quan hành tỉnh tự mình đến Đông Ngạn, sai quân đánh, giết được rất nhiều, bắt được 20 thuyền. Hưng Đạo Vương thua chạy. Quan quân buộc bè làm cầu, sang bờ bắc sông Phú Lương. Nhật Huyên bố trí binh thuyền, dựng rào gỗ dọc theo sông. Thấy quan quân đến bờ, lập tức nổ pháo, hô lớn thách đánh. Đến chiều lại sai Nguyễn phụng ngự mang thư đến Trấn Nam Vương và quan hành tỉnh, xin rút đại quân. Hành tỉnh lại đưa thư trách, rồi lại tiến quân. Nhật Huyên liền bỏ thành chạy, đồng thời sai Nguyễn Hiệu Nhuệ đem thư xin lỗi và biếu phương vật, cùng xin rút quân. Hành tỉnh lại đưa thư chiêu dụ, rồi điều quân sang sông, đóng ở dưới thành An Nam. Hôm sau, Trấn Nam Vương vào quốc đô của nước đó. Cung thất đều trống trơn, chỉ lưu lại mấy tờ chiếu sắc và mấy lá thư của hành tỉnh, tất cả đều bị xé nát».

Ở đây cho ta thấy toàn diện bối cảnh của trận đánh ngay bên ngoài kinh thành Thăng Long do Đức vua Trần thống lãnh ba quân chiến đấu. Tuy rằng cách đây hơn một tháng vào ngày 9 tháng giêng và liên tiếp sau đó nhiều ngày quân ta đã kịch chiến với giặc ở bến đò Bình Than và lại rút lui, nhưng cũng cần phải hiểu đó là cuộc triệt thoái nằm trong kế hoạch dự trù để dụ quân địch vào nơi mà ta thấy thích hợp để đánh. Kế hoạch rút quân của ta từ Bình Than về Thăng Long và từ Thăng Long về Thiên Trường là nhằm bảo toàn lực lượng tránh đi ba mũi tấn công của giặc Nguyên. Một mũi do chính Thoát Hoan và A Lý Hải Nha từ phía Đông Bắc xuống, mũi kế là từ Tây Bắc thọc qua do Nạp Tốc Lạt Đinh và cuối cùng, quan trọng hơn là mũi từ phương Nam đâm lên do Toa Đô chỉ huy. Khi quân Nguyên tới phía bắc bờ sông Hồng (tức sông Phú Lương), chúng kết bè để làm cầu vượt sông. Binh sĩ ta trông thấy lập tức nổ súng (pháo) chống giặc và cố tình trêu chọc bằng cách thách thức đánh nhau. Trong lúc hai bên đang kịch chiến, Đức vua sai Nguyễn Hiệu Nhuệ sang trại quân Nguyên đưa thơ và cống phẩm yêu cầu Thoát Hoan rút lui. Thoát Hoan không nghe vừa gởi thơ trách móc vừa tiếp tục tấn công.

Về nhân vật đưa thư trong An Nam Truyện ghi là tên hai người là Nguyễn Phụng Ngự và Nguyễn Hiệu Nhuệ (trong Cương Mục và sách Trần Hưng Đạo của Hoàng Thúc Trâm cũng ghi là Nguyễn Hiệu Nhuệ chứ không thấy ghi Nguyễn Phụng Ngự). Mục đích là nhằm dò thám quân tình thực hư của địch cho nên ta mới duy trì sự liên lạc với chúng một cách chừng mực, sự duy trì này ta thời nay gọi là vừa đánh vừa đàm. Phía quân Nguyên có rõ mưu lược này của ta hay không thì không ai được biết, nhưng mỗi lần ta đưa thơ qua, chúng đều trả lời (dĩ nhiên là với những lời lẽ không thuận lợi) và cho sứ giả của ta đi vào doang trại của chúng, đây là một sự thành công về chiến lược tình báo do Đức Hoàng Đế Trần chủ trương. Có thể nói phương pháp này chỉ có triều đình nhà Trần là xử dụng một cách hiệu quả nhất từ xưa đến nay mà thôi.

Thoát Hoan không chấp thuận lời rút quân, bèn cho quân lính tấn công và bắc cầu phao sang sông, sau đó đóng doanh trại sát kinh thành. Tại đây theo An-Nam Chí-Lược quyển 4 tờ 37 thì Đức Hoàng Đế Trần cùng quân sĩ trấn giữ Lư-Giang (có lẽ đây là một phần của sông Hồng trước khi vào Thăng Long). Quân ta ở hai bờ sông lập đồn chống cự dữ dội nhưng không được đành phải rút lui. Thoát Hoan vào được Thăng Long chỉ thấy thành quách trống trơn không người lui tới, chỉ còn lại các văn thư của Mông-cổ đã bị xé nát. Đó đây dưới các gốc cây còn để lại nghiêm lịnh cấm quân dân Đại Việt đầu hàng kẻ thù. Tuy chiếm được Thăng Long nhưng Thoát Hoan e dè sợ lọt vào ổ phục kích của ta nên không dám đóng quân trong thành. Về thời điểm khi thành Thăng Long thất thủ thì Cương Mục Chính Biên quyển VII ghi «Ngày hôm sau, kéo quân vào thành, thì lúc bấy giờ nhà vua đã chạy ra ngoài rồi, Thoát Hoan cho quân đuổi theo».

Việt Sử Tiêu Án ghi «ngày đã về chiều, quân giặc qua sông vào kinh thành». Toàn Tập Trần Nhân Tông của giáo sư Lê Mạnh Thát ghi ở trang 73 như sau: «Chính trong ngày 14 tháng giêng năm Ất Dậu ấy (1285) khi Thoát Hoan vào kinh thành yến tiệc với thuộc hạ». An-Nam Chí-Lược của Lê Tắc quyển đệ tứ ghi: «Ngày 13 Bính Tuất…Trấn-Nam-Vương qua sông mở tiệc tại cung đình An-Nam». Quyển Đạo Phật và Dòng Sử Việt của tác giả Đức Nhuận ghi ở trang 265: «ngày 18 tháng 2…địch dùng súng đại bác bắn yểm trợ…kéo đến đánh chiếm Thăng Long; nhưng khi vào được thành thì chỉ còn trơ trụi những thành quách».

Tại sao lại có sự khác biệt nêu trên về thời điểm thành Thăng Long thất thủ như thế? Quyển Toàn Tập Trần Nhân Tông của giáo sư Lê Mạnh Thát ghi 14 tháng giêng năm Ất Dậu (1285); còn Đạo Phật và Dòng Sử Việt của tác giả Đức Nhuận ghi vào ngày 18 tháng 2. Thăng Long mất vào buổi sáng, chiều hay ngày hôm sau, có nơi ghi là ngày 14 tháng giêng là do sự đề kháng của quân ta ở những nơi chốn khác nhau, và khi không có sự đề kháng nữa thì Thoát Hoan mới vào được bên trong thành. So sánh đối chiếu nhiều bộ sử khác nhau, chúng tôi xin lấy ngày 14 tháng giêng là ngày giặc chiếm thành Thăng Long.

Khi quân giặc kéo vào Thăng Long thì nhà vua và toàn thể quân dân Đại Việt đã rời khỏi kinh thành để lui về Thiên Trường (Nam Định) mà lập phòng tuyến mới. Trong khi đó quân Nguyên vẫn tiếp tục truy sát quân ta để cố bắt cho được hai vị vua của ta.

Ngài rước Thượng Hoàng Trần Thánh Tông đi Tam Trĩ Nguyên (là sông Ba Chế, ở huyện Ba Chế thuộc tỉnh Quảng Ninh), Thoát Hoan khi vào thành biết rằng nhà vua đã đi xa nên càng gấp rút đuổi theo. Hưng Đạo Vương là người có tài, nhưng có hiềm khích trong gia đình với hai vị vua (vì cha là An Sinh Vương Trần Liễu đã khởi binh chống lại triều đình), khi thấy ông cầm một cây gậy đầu có bịt sắt đi theo hai vua bôn đầu, khiến nhiều người dân để ý, ông đã tháo bỏ đầu bọc sắt, chỉ xử dụng gậy không, từ đó dân chúng mới yên lòng. Điều này chứng tỏ ông là một người biết gát bỏ thù riêng để lo việc nước, hành động này thật đáng ca ngợi và còn lưu mãi tiếng thơm ở đời sau.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Quân Sử Việt Nam (TOP)