Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam - Trang Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc

Toàn Thư Hoàng Đế Trần-Nhân-Tông

Mục Lục

Dẫn Nhập

Chương Một: Hành Trạng

Chương Hai : Hoàng Đế Trần Nhân Tông và cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất 1285

Chương Ba : Chiến lược phòng thủ diện địa

Chương Bốn : Kế sách rút lui và phòng thủ chiến lược

 

Chương Năm : Trì Hoãn Chiến

Chương Sáu: Tổng phản công Khôi Phục Giang Sơn

Chương Bảy : Củng cố đất nước sau cuộc chiến tranh

Chương Tám : Cuộc chiến vệ quốc lần thứ ba 1288

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Biên Khảo Sử Của Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

Chương Bốn : Kế sách rút lui và phòng thủ chiến lược

Ngày 26 tháng Chạp năm 1284 giặc Nguyên tấn công vào ải Nội-Bàng cũng như các ải gần đó (Toàn Thư), còn trong An Nam Chí Lược ghi là 27 tháng Chạp. Quân ta đã rút khỏi các ải vừa bị thất thủ và lui về phòng tuyến Vạn Kiếp. Vào lúc này nhằm năm hết tết đến, vừa phải cấp tốc tổ chức lại sự chiến đấu cũng như chăm sóc cho những binh sĩ bị thương còn phải chuẩn bị đón chào năm mới Ất-Dậu, không khí thật tưng bừng phấn chấn nhất là khi Đức Hoàng Đế Trần nhắc nhở và cổ vũ thinh thần toàn quân sau một số thất lợi ban đầu bằng cách nói rằng «Hoan, Diễn do tồn thập vạn quân» nghĩa là ta còn đạo quân dự bị ở Hoan Diễn đến hơn trăm ngàn người.

Thoát Hoan sau khi đã chấn chỉnh xong binh đội, ngày mồng 6 tháng Giêng năm 1285 chúng mở cuộc tấn công vào phòng tuyến Vạn Kiếp và núi Phả Lại (tức là núi ở xã Phả Lại, cạnh sông Lục Đầu, đối diện với thị trấn Phả Lại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng) của quân Đại Việt. Ở tại Vạn Kiếp, Hưng Đạo Vương đã đem chiến thuyền dàn trận cách sông Vạn Kiếp mười dặm mà theo Cương Mục gọi là trận «dực thủy». Dực thủy là hình thức dàn trận đánh trên sông sắp các chiến thuyền theo hình cánh chim sãi trên mặt nước. Hình thức này có lợi là các chiến thuyền có thể nương tựa và bảo vệ nhau trong lúc chiến đấu. Tuy nhiên nếu gặp cường địch, thế cùng phải thoái lui thì sẽ bị vướng víu khó lòng xoay trở kịp. Trong sách Trần Hưng Đạo của tác giả Hoàng Thúc Trâm thì ghi là «Dục thủy» tức là trận tắm nước.

Phải nói là trận đánh tại Vạn Kiếp xảy ra rất là cam go giữa ta và địch, chúng phải mất hơn 10 ngày mới phá vỡ được phòng tuyến này của ta. Dĩ nhiên con số thiệt hại nhân mạng giữa hai bên là không nhỏ, phía quân Nguyên có tướng vạn hộ Nghê Nhuận bị tử trận ở Lưu Thôn. Quân ta rút lui thêm một lần nữa trước sức công phá mãnh liệt của địch. Ngày 12 giặc Nguyên đánh vào Gia Lâm, Vũ Ninh (sau là Võ Giảng, nay là huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh), Đông Ngàn (tức là huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Chúng đã sát hại rất nhiều binh sĩ của ta, nhất là những người có xâm hai chữ «sát thát». Thẳng đường giặc Nguyên chiếm luôn Đông Bộ Đầu và dựng một lá cờ lớn (trong Cương Mục cũng như Toàn Thư không có ghi là cờ nào, có lẽ là cờ Mông-cổ chăng?).

Cũng cần biết thêm rằng từ khi chiến cuộc Nguyên Việt bùng nổ thì khắp nơi trong nước Việt đều treo bảng yết thị của triều đình với nghiêm lịnh không được đầu hàng kẻ thù, nghiêm lịnh đó nội dung như sau: «Phàm các quận huyện trong nước, hễ có giặc ngoài đến, thì phải liều chết cố đánh; nếu không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, chứ không đón hàng».

Ngày 9 tháng giêng năm Ất Dậu (1285) Đức vua Trần thống lãnh 100 ngàn quân Đại Việt cả thủy và lục hai lộ quân ở tại phòng tuyến nơi sông Bình Than (hay Bài-Than theo An Nam Chí Lược của Lê Tắc) để chống lại sức tấn công vũ bảo của giặc Nguyên do các tên tướng Ô Mã Nhi, Chiêu-Thảo Nạp-Hải, Trấn-Vũ Tống-Lâm-Đức cầm đầu. Để tấn công vào phòng tuyến này của ta, chúng đã xử dụng những chiến thuyền tịch thu được ở trận Vạn Kiếp. Cũng tại đây vào tháng 10 năm 1283, Đức vua Trần Nhân Tông đã triệu tập các vương thân quốc thích để bàn phương sách chống giặc. Thì nay hơn một năm sau tại bến đò Bình Than vũng Trần Xá này đã diễn ra một trận kịch chiến long trời lở đất do đích thân ngài chỉ huy. Trận này xảy ra cho ta thấy rõ ràng hơn chiến lược chống giặc của vị lãnh đạo của chúng ta là «mềm nắm rắn buông» hay tháo lui chiến lược phòng thủ chiến lược và phản công chiến lược. Và hiện tại ta đang ở giữa giai đoạn một và hai.

Ngày 13 tháng giêng, Đức vua Trần cùng quân lính trấn thủ phòng tuyến sông Cái (trong sử gọi là sông Lô) chống trả các cuộc tấn công của quân Nguyên nhưng không thành công đành phải rút lui để lập phòng tuyến mới.

Trải qua một số các trận chiến, triều đình ta muốn rõ thực hư của kẻ thù nhưng chưa tìm được người thích hợp để đưa thơ. Ngay lúc đó Chi hậu cục Đỗ Khắc Chung bước ra tình nguyện mang thơ đi, ông nói: «Thần hèn mọn bất tài, nhưng xin được đi». Đức vua khen ngợi: «Ngờ đâu trong đám ngựa xe kéo muối lại có ngựa kỳ, ngựa ký như thế».  

Ở trại quân Mông-cổ, Ô Mã Nhi trách Đỗ Khắc Chung về hai chữ «Sát Thát»: «Quốc vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ «Sát Thát», khinh nhờn thiên binh, lỗi ấy to lắm».

Đỗ Khắc Chung đáp: «Chó cắn người lạ không phải chủ nó. Vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi, Quốc Vương tôi không biết việc đó. Tôi là cận thần, tại sao không có? ». Nói rồi ông đưa tay cho họ xem. Đuối lý Ô Mã Nhi quay sang chuyện khác, y hỏi: «Quân ta từ xa tới, nước ngươi sao không quay dáo đến hội kiến lại còn chống lịnh. Càng bọ ngựa cản bánh xe liệu sẽ ra sao?»

Đỗ Khắc Chung ứng khẩu:

«Hiền tướng không theo cái phương sách Hàn Tín bình nước Yên, đóng quân ở đầu biên giới, đưa thơ tín trước, nếu không thông hiểu thì mới có lỗi. Nay lại bức nhau, người ta nói thú cùng thì chống lại, chim cùng thì mổ lại, huống chi là người».

Ô Mã Nhi trả lời:

«Quân ta chỉ mượn đường sang đánh Chiêm Thành, nếu nhà vua của ngươi đích thân đến đây hội kiến cùng ta, thì nước sẽ không bị xâm hại gì cả. Bằng ngược lại, thì trong khoảng khắc, tất cả sẽ bị san thành bình địa, đến khi ấy, dù có hối tiếc cũng không còn kịp nữa» .

Trao thơ xong Đỗ Khắc Chung cáo từ ra về. Ô Mã Nhi nói với đám cận tướng: «Nhân vật này trong lúc bị uy hiếp mà lý luận và thần sắc vẫn bình tĩnh không bối rối, không hạ vua mình là chú Chích, không tâng bốc ta là vua Nghiêu, chỉ nói «Chó trong nhà cắn người lạ», ứng đáp thật khôn khéo, người này có thể nói là «không làm nhục mệnh lệnh của vua phó thác cho» . Trong nước họ có người như thế, chưa dễ đã làm gì họ được». Những diễn biến chiến trường sau đó đã ứng nghiệm đúng với lời nói của Ô Mã Nhi với các cận tướng khi phê bình về Đỗ Khắc Chung nói riêng và triều đình ta nói chung.

Ý thức được điều này và cũng để tránh hậu hoạn nên Mã Nhi đã sai quân rượt theo để chận giết Đỗ Khắc Chung. Tuy nhiên Đỗ Khắc Chung đã về trại của quân ta vào giờ mẹo ngày 13 tháng giêng năm 1285 và quân Đại Việt đã giao chiến với Mông-cổ ngăn cản không cho chúng giết vị sứ giả của triều đình.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Quân Sử Việt Nam (TOP)