Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam - Trang Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc

Toàn Thư Hoàng Đế Trần-Nhân-Tông

phật hoàng trần nhân tông

Phật hoàng Trần Nhân Tông

Mục Lục

Dẫn Nhập

Chương Một: Hành Trạng

Chương Hai : Hoàng Đế Trần Nhân Tông và cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất 1285

Chương Ba : Chiến lược phòng thủ diện địa

Chương Bốn : Kế sách rút lui và phòng thủ chiến lược

 

Chương Năm : Trì Hoãn Chiến

Chương Sáu: Tổng phản công Khôi Phục Giang Sơn

Chương Bảy : Củng cố đất nước sau cuộc chiến tranh

Chương Tám : Cuộc chiến vệ quốc lần thứ ba 1288

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Biên Khảo Sử Của Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

Dẫn Nhập

Non sông Ðại Việt được hình thành cách đây 4882 năm lịch sử. Ðể bảo vệ giống nòi, tổ tiên của chúng ta đã không ngừng chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lăng phương Bắc.

Trong suốt chiều dài đấu tranh dựng nước và giữ nước, đất nước đã sản sinh không biết bao nhiêu bậc anh hùng hào kiệt cũng như liệt nữ anh thư làm sáng danh giòng giống Lạc Hồng bên bờ Thái Bình xanh biếc màu hy vọng và thái hòa. Những bậc anh hùng, anh thư của chúng ta vào thời xưa như Trưng Nữ Vương, Triệu Trinh Nương, Mai Hắc Ðế, Ðinh Tiên Hoàng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, Nguyễn Trải, Nguyễn Huệ, Thủ Khoa Huân, Ðinh Công Tráng v.v...và ngày nay là các vị Trình Minh Thế, Đỗ Cao Trí, Trương Quang Ân, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, Lê Nguyên Bá, Võ Đằng Phương và còn rất nhiều những bậc anh hùng liệt nữ đã đóng góp xương máu cho sự tồn tại của giống nòi mà danh tánh cũng như sự nghiệp khó lòng trình bày được đầy đủ trong một hoặc hai bài viết.

Do đó trong phạm vi giới hạn của quyển sách này, chúng tôi mạn phép trình bày hành trạng (tiểu sử) cũng như tư tưởng của một bậc anh hùng lớn của dân tộc đã hai lần lãnh đạo quân dân Ðại Việt đánh bại quân Mông-cổ xâm lược vào các năm 1285 và 1288, vị đó không ai khác hơn là Đức Vua Trần Nhân Tông.

Chương Một : Hành trạng

Theo Thánh Đăng Thực Lục, Đức vua Trần Nhân Tông được Trúc Lâm Tuệ Trung Thượng Sĩ truyền cho giáo chỉ. Trúc Lâm Đại Sĩ tức là con vua thứ nhà Trần, con lớn vua Trần Thánh Tông. Tôn danh của ngài là Khâm, đản sanh ngày 11 tháng 11 năm Mậu ngọ (1258), niên hiệu Nguyên Phong thứ 8 (1258). Năm Mậu Dần (1278) tháng 2, ngày 12 lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Thiệu Bảo. Trước kia Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái Hậu thường mộng thấy thần nhân cho một đôi kiếm, nói: «Thượng đế có sắc phong cho nhà người tự ý chọn lấy». Hoàng hậu vô tình mất vui. Ngẫu nhiên được thanh đoản kiếm, từ đấy mà có mang thai. Những tháng nuôi thai không kiêng kỵ, nhà bếp đưa lên chi ăn uống mà thai không bị tổn thương. Hoàng hậu biết là có phúc như thế vậy. Khi đản sanh, ngài có được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai vị hoàng phi đều cho là lạ, gọi là “Kim tiền đồng tử” (sách Tam Tổ Thực Lục ghi Kim Phật). Vai bên trái có một chấm đen như hạt đỗ lớn, cho nên có thể gánh vác việc non sông.

Năm lên 16 tuổi được lập làm thái tử. Nhân Tông cố từ chối đến ba lần, xin để cho em thay thế. Lời xin không được chấp thuận, vua cha (Thánh Tông) chọn trưởng nữ của Nguyên Từ Quốc Mẫu kết hôn cho, tức là Khâm Từ Thái Hậu. Cầm sắt tuy hài hòa mà trong lòng vua Nhân Tông thấy lạt lẽo. Một đêm vào giờ Tý, ngài bèn vượt thành mà đi, định vào núi Yên Tử. Đi đến chùa Tháp núi Đông Cưu, trời rạng sáng, mệt quá, vào nghĩ trong tháp. Vị thầy trụ trì thấy diện mạo khác thường, mời thụ trai. Hôm ấy Thái hậu tâu lên vua cha Thánh Tông, vua bèn sai quần thần chạy tìm bốn phương. Vua Nhân Tông bất đắc dĩ phải trở về. Năm 21 tuổi, được thượng hoàng truyền ngôi và lấy niên hiệu là Thiệu Bảo Nguyên Niên cũng gọi là Trùng Hưng (1279). Tuy vinh hoa cùng tột, nhưng vua vẫn sống trong thanh tịnh, ban ngày cùng triều thần bàn việc nước trong hoàng cung, đêm về nghĩ chùa Tư Phúc ở nội thành. Ban ngày mộng thấy ở trên rốn nở hoa sen vàng lớn như bánh xe, trên hoa hiện vị Phật vàng, bên cạnh có người chỉ vào vua mà bảo: «Có biết vị Phật này không? Đấy là vị Phật chí tôn chiếu khắp!». Giật mình tỉnh dậy, đem mộng bẩm lên, vua cha Thánh Tông càng lấy làm lạ. Từ đấy nhà vua thường ăn chay lạt không dùng món ăn mặn, người xanh gầy gầy yếu. Thánh Tông lấy làm lạ hỏi, vua nói lý do. Thánh Tông khóc mà bảo rằng: «ta nay đã già yếu, cậy vào có một mình con, nếu con như thế này thì sự nghiệp của tổ tông còn ra sao?». Vua Nhân Tông cũng khóc. Niên hiệu Trùng Hưng thứ 9 (1293) vua truyền ngôi cho con là thái tử Thuyên (tức vua Trần Anh Tông) rồi về ở Thiên Trường làm thái thượng hoàng 6 năm.

Niên hiệu Hưng Long thứ 3 (1295) thượng hoàng Nhân Tông dời đến ở hành cung Vũ Lâm, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình. Ðây là năm đầu tiên ngài khởi sự làm một tịnh hạnh nhơn (tập sự xuất gia), thượng hoàng có làm bài thơ:

Vũ Lâm Thu Vãn

Hoa kiều đảo ảnh trám khê hành

Nhất mạt tà dương thủy ngoại minh

Tịch tịch thiên sơn, hồng diệp lạc,

Thấp vân hòa lộ tống chung thanh 

Cuối Thu Ở Hành Cung Vũ Lâm

Con khe dìn ngược bóng cầu

Hắt lên một vết sáng màu tà dương.

Núi non lặn trút lá hường

Móc dầm mây ướt đưa đường tiếng chuông.

-Bản dịch Giản Chi-

Ngài chỉ ở hành cung Vũ Lâm trong thời gian ngắn, rồi lại trở về quê ở Thiên Trường (Nam Ðịnh), mở Vô Lượng Pháp Hội tại chùa Phổ Minh bố thí tiền của, vải vóc, đồ ăn và trợ cấp cho những nơi mất mùa nghèo đói.

Niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299), cho dựng thảo am ở ngọn Tử Tiêu, núi Yên Tử, lấy pháp danh là Hương Vân Ðại Ðầu Ðà, hiệu là Ðại Hương Hải Ấn Thiền Sư, và cho lập chùa Long Ðộng (ở bên núi) để độ tăng và thuyết giảng chánh pháp. Số người theo học đông đảo lên tới hàng ngàn học chúng từ các nơi tụ về. Vua Trần Anh Tông thấy ngài tu khổ hạnh, trèo đèo leo núi vất vả thường kiếm cớ ngăn trở, nhưng ngài cương quyết khước từ.

Cũng trong năm 1299, vua Anh Tông sắc cho ấn hành quyển Phật Giáo Pháp Sự Ðạo Tràng Công Văn Nghi Thức để phổ biến trong khắp nước đánh dấu ngày thượng hoàng Nhân Tông xuất gia đầu Phật.

Niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304) lấy đạo hiệu là Trúc Lâm Ðầu Ðà Ðiều Ngự Giác Hoàng rồi cùng đệ tử là tôn giả Pháp Loa và mười người đệ tử đi về khắp nẻo làng quê giảng pháp, hướng dẫn dân chúng làm lành lánh dữ tu theo mười điều thiện cũng như phá bỏ các nơi thờ cúng mê tín dị đoan (sách sử gọi là dâm từ). Sau đó Giác Hoàng trở về chùa Từ Nghiêm ở Linh Sơn mở khóa dạy thiền.

Cuối năm 1304, vua Anh Tông cung thỉnh Giác Hoàng về kinh thành Thăng Long để thọ giới Bồ Tát tại gia. Năm 1306, ngài vào tu trong am Ngọc Vân, lấy pháp hiệu là Trúc Lâm Ðại Sĩ. Niên hiệu Hưng Long thứ 16 (1308), ngày 1 tháng giêng năm Mậu Thân, Giác Hoàng chính thức ủy thác tôn giả Pháp Loa đảm nhiệm phần vụ trụ trì chùa Báo Ân ở Siêu Loại (Bắc Ninh). Tháng 4 đích thân tới chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang (Bắc Giang) chủ trì giảng Truyền Ðăng Lục, quốc sư Ðạo Nhất giảng kinh Pháp Hoa cho chư tăng kiết hạ tại đây.

Sau ngày lễ Giải Hạ, kết thúc ba tháng thúc liễm thân tâm trau dồi giới đức, ngài trở lại núi Yên Tử, không giữ lại các vị tịnh hạnh nhơn (người mới xuất gia), chỉ để lại mười vị thị giả theo lên trên am Tử Tiêu và giảng Truyền Ðăng Lục riêng cho tôn giả Pháp Loa. Ngài còn đi thăm khắp các hang động, khi quá mệt, vào trong Thạch Thất nghỉ chân. Pháp Loa tôn giả bạch rằng: “Tôn Ðức xuân thu đã cao, mà xông pha mưa nắng lỡ có mệnh hệ gì thì mạng mạch chánh pháp biết nương tựa vào đâu?”.

Giác Hoàng đáp: “Thời tiết đã đến rồi, ta chỉ chờ ngày thị tịch mà thôi“.

Mùng 5 tháng 10, có gia đồng của công chúa Thiên Thụy (người chị ruột của ngài) đến tâu rằng: “công chúa bị bịnh nặng, chỉ mong được diện kiến Tôn Ðức trước khi lìa trần”.

Ngài ngậm ngùi than:

“Thời tiết đã tới rồi!“.

Khi tới thăm người chị là Thiên Thụy công chúa, ngài bảo rằng: “Nếu chị đã đến ngày giờ thì cứ đi, âm binh có hỏi thì trả lời rằng: “Xin đợi một chút, em tôi là Trúc Lâm Ðại Sĩ sẽ tới ngay“. Thăm chị xong, ngày rằm về núi nghĩ đêm ở chùa Siêu Loại. Sáng hôm sau khi đi ngang chùa làng Cổ Châu, ngài cảm đề bài thơ:

“Thế số nhất tức mặc,

Thời tình lưỡng hải ngân.

Ma cung hồn quản thậm,

Phật quốc bất thăng xuân». 

Nghĩa

Mạng người một hơi thở

Thói đời buồn hai mắt

Cung ma lắm ưu phiền

Nước Phật còn vui hơn

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Quân Sử Việt Nam (TOP)