Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam

Tổng Thống Ngô Đình Diệm

(Đôi Dòng Nhìn Lại Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm)

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89

Quỳnh Hương

Nguồn: quanvan.net

...

lịch sử việt nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm

Sau này, nền Đệ nhị Cộng hòa, do các Linh mục giới thiệu, nên 2 tên trùm gián điệp Việt cộng đã chui vào chính quyền, làm cố vấn cho ông Thiệu.  Đó là Huỳnh văn Trọng và Vũ ngọc Nhạ.  Sau 30-4-1975, tờ nhật báo Saigon Giải phóng của Việt cộng đã viết bài ca tụng Vũ ngọc Nhạ và nói rõ cấp bậc hắn là thiếu tướng  tình báo của chúng. Chẳng biết vị linh mục giới thiệu 2 tên cán bộ tình báo Việt cộng cho ông Thiệu, là Huỳnh văn Trọng và Vũ ngọc Nhạ, sau  tháng tư đen, có quì trước tượng Chúa Jesus để xin rửa tội, vì đã góp tay với Việt cộng làm điêu đứng cho nhân dân miền Nam Việt nam tự do?

Cabot Lodge, cũng như  nhóm tướng tá làm đảo chánh, không nhận ra Việt cộng cài người vào các tôn giáo để phá hoại, lật và giết chết TT Diệm, chính thị là tiếp tay cho Việt cộng, dù vô tình hay cố ý.

Một khuyết điểm khác, ông Diệm thiếu cương quyết, đặt quá nặng tình huynh đệ,  nên để cho ông Cẩn và bà Nhu, nhất là ông Cẩn, làm nhiều việc không lợi cho chế độ, dù sau khi ông  Cẩn bị bắt, nhóm Minh Xuân đã cố truy tìm tài sản của ông Cẩn, cũng không tìm ra ông Cẩn có một tài sản nào.

Ngoài ra còn tin đồn trong nhà ông Cẩn có hầm chứa vũ khí và xác người, nhưng khi Dương hiếu Nghĩa, tay chân của Minh, cho lục xét thì không thấy một hầm vũ khí hay xác người như tin đồn. Vậy tin đồn này từ đâu ra, nếu không phải là Việt cộng phao lên để kích động dân chúng, nhất là Phật tử?

Trong phạm vi gia đình, bản thân ông Cẩn là người hiếu thảo, nhưng không phải là người hoạt động chính trị, lại ưa nịnh, nên để cho bọn đàn em khuấy động. Những năm cuối đời ông Diệm, việc bổ nhiệm các chức vụ Quận trưởng, Tỉnh trưởng miền Trung phải “hỏi qua cậu” là điều thật nghịch lý.

 Điều này làm giảm uy tín trong  đường lối cai trị của ông Diệm. Ngoài ra ông Cẩn còn tổ chức Cần lao nhân vị miền Trung để phân biệt với đảng Cần lao nhân vị ở miền Nam của ông Ngô đình Nhu, gây chia rẽ trong guồng máy chính quyền  và là sơ hở lớn để Việt công lợi dụng, tuyên truyền dân chúng oán ghét TT Diệm.

Tổ chức Đảng để có hậu thuẫn là điều cần thiết, nhưng phát triển Đảng Cần lao nhân vị trong quân đội lại gây mầm bất mãn trong hàng ngũ quân nhân, nhất là sĩ quan. Nhưng khuyết điểm lớn nhất của ông Diệm là cả tin trong việc dùng người.

Vì phong cách quan lại nên ông dễ nghe ton hót  “cụ cụ, con con” và nhận con nuôi, để sau này giết bố (!). Tôn thất Đính và Đỗ Mậu là 2 dẫn chứng cụ thể.

Những năm sau này, nhất là sau tháng tư đen, dân chúng lầm than, những người đã từng sống qua các  giai đoạn, từ  thời kỳ thực dân Pháp cai tri, rồi qua quân đội Nhật, đến  Đệ nhất Cộng hòa, Đệ nhị Cộng hòa và kế tiếp dưới sự cai trị sắt máu của cộng sản, nhiều người dân miền Nam tỏ ra luyến tiếc Tổng thống Ngô đình Diệm.

KHÓ KHĂN CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA

Miền Nam được viện trợ quân sự và kinh tế bởi Hoa Kỳ. Nhưng Tổng thống John Fitzgerald Kennedy của Hoa Kỳ muốn miền Nam Việt Nam có một Tổng thống phải biết nghe lời, nên đã chủ trương sắp đặt cuộc đảo chánh 1963, chỉ vì ông Diệm không đồng ý cho đưa quân chiến đấu Mỹ trực tiếp tham chiến ở Việt nam.

Chủ trương của cố Tổng thống Kennedy cho  đám tướng tá ham quyền, ham tiền,  làm đảo chánh Tổng thống Ngô đình Diệm, như dẫn chứng trong bài của ký giả Richard Reeves, trích trong  cuốn President Kennedy: Profile of Power ở  phần trên.

Trong giai đoạn 21 năm, từ ngày Tổng thống Ngô đình Diệm chấp chánh 1954, đến ngày Saigon rơi vào tay cộng sản 30-4-1975, Việt cộng theo lệnh quan thầy Liên xô và Trung cộng- lúc đó Liên xô chưa tan rã- xâm lăng miền Nam Việt nam, Cambodia và Lào.

VỀ CHÍNH TRỊ- Theo hiệp định Geneve 20-7-1954, ngày chia đôi đất nước, Việt cộng phải rút hết quân và cán bộ về Bắc. Hạn  chót là 5- 5- 1955. Phía quốc gia rút hết quân, cũng như những người dân di cư  lánh nạn cộng sản, tìm tự do vào Nam ở điểm tập trung chót  là Hải phòng cùng ngày.

Nhưng cáo Hồ đã để lại cán bộ ở miền Nam nằm vùng, nhất là các vùng quê. Đến ngày 20-12-1960, chúng lập ra mặt trận bù nhìn Giải phóng miền Nam, mục đích đưa quân chính quy vào miền Nam dưới lốt quân của mặt trận bù nhìn. Nhóm lãnh đạo đầu sỏ của mặt trận này là Nguyễn chí Thanh, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Võ văn Kiệt, và một số trí thức ngu muội của miền Nam như Nguyễn hữu Thọ, Dương quỳnh Hoa, Trương như Tảng, Huỳnh tấn Phát. Mặt trận bù nhìn hết sài và bị giải tán 1976. Trương như Tảng sáng mắt nên chạy trốn Việt cộng  qua Pháp.

Trong sách lược tuyên truyền của Việt cộng  có 2 giai đoạn. Giai đoạn Đệ nhất cộng hòa chúng rất nể sợ ông Diệm, nên quyết tâm hạ bệ, bằng cách xúi giục dân chúng chống lại ông Diệm, qui lỗi cho ông áp dụng gia đình trị. Ngoài ra chúng cho cán bộ  tôn giáo vận cạo trọc đầu, mặc áo vàng, đội lốt sư là Trí Quang, Trí Thủ, Đôn Hậu, Minh Châu, Huỳnh Liên cùng với mấy thầy tu mặc áo thụng đen, nhưng lại làm cán bộ công sản như Nguyễn quang Lãm, Nguyễn ngọc  Lan, Trương bá Cẩn, đẩy mạnh chiến dịch quấy phá ông Diệm. Nguyễn ngọc Lan đã một lần vào bưng gặp Phạm Hùng.

Phương cách  này của chúng không thành công, nếu không có ông khờ Cabot Lodge, làm Đại sứ ở một vùng tiền đồn chống cộng mà không nhìn ra được các vụ lộn xộn Phật giáo là do sự xúi giục của bọn cộng sản Bắc Việt, nên đã báo cáo sai lầm cho Tổng thống Kennedy, để ông Kennedy quyết định lật ông Diệm.

Giai đoạn sau 1-11-1963, khi ông Kennedy thỏa mãn được ý đồ lật và giết ông Diệm, đưa quân Mỹ trực tiếp tham chiến, thì Việt cộng xoay qua kích động lòng yêu nước của dân, trong chiến dịch tuyên truyền “chống Mỹ cứu nước”.

Thật ra , trong mục tiêu chống cộng, Mỹ đã đổ ra 3,000 tỷ đô la và hơn  50,000 mạng sống binh sĩ Mỹ vào chiến trường Việt nam, chỉ để chặn làn sóng đỏ loang dần từ Bắc Á xuống Đông nam Á, không bòn rút gì tài nguyên của Việt nam.

Trong khi đó, Việt cộng lãnh súng đạn, lương thực từ  Liên sô và Trung cộng, sau 30-4-1975, đã phải trả khoản nợ chiến tranh bằng gỗ, cao su, cà phê và các tài nguyên khác, qua 30 năm mà vẫn chưa hết nợ.

Và, năm 1958, Phạm văn Đồng đã ký dâng đảo Hoàng sa cho Trung cộng, rồi năm 1999, Lê khả Phiêu cùng bè lũ Đỗ Mười, Lê đức Anh, Nông đức Mạnh tiếp tục ký dâng đất biên giới phía bắc và vùng biển, cũng để trả nợ chiến tranh. Chua sót nhất là vụ mất Thác bản Giốc. Trung cộng chiếm đuợc vùng đất này, đã lập ra điểm du lịch và Toà Đại sứ Tàu cộng đã ép phái đoàn báo chí Việt cộng tham dự lễ khánh thành.

Bọn bộ chính trị Việt gian cộng sản mặt dày, không biết nhục. Đã thế bọn chúng còn nhốt tù ký giả Điếu Cày vì đã viết một bài về cuộc hành trình tham dự lễ khánh thành.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89

Quân Sử Việt Nam (TOP)